Ứng dụng marketing hỗn hợp trong hoạt động thông tin - thư viện tại Thư viện Viện Dân tộc học - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LÊ

ỨNG DỤNG MARKETING HỖN HỢP
TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN – THƯ VIỆN
TẠI THƯ VIỆN VIỆN DÂN TỘC HỌC Luận văn Thạc sĩ ngành Thông tin - Thư viện


Hà Nội - 2012
4
MỤC LỤC
Trang

Lời nói đầu
CHƢƠNG 1: MARKETING HỖN HỢP VỚI HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN –
THƢ VIỆN CỦA THƢ VIỆN VIỆN DÂN TỘC HỌC
7
1.1. Các khái niệm chung
1.1.1. Marketing
1.1.2. Marketing hỗn hợp (marketing – mix)
1.1.2.1. Định nghĩa
1.1.2.2. Các chức năng của marketing hỗn hợp
1.2. Marketing hỗn hợp trong hoạt động thông tin - thƣ viện
13
13
14
14
15

1.5.3 Vai trò của marketing hỗn hợp trong hoạt động của Thƣ viện Viện Dân
31
31
34
35
35
38
5
Dân tộc học
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING
TẠI THƢ VIỆN VIỆN DÂN TỘC HỌC
40
2.1. Môi trƣờng marketing của Thƣ viện Viện Dân tộc học
40
2.1.1. Môi trường marketing vi mô
40
2.1.2. Môi trường marketing vĩ mô
45
2.2. Chiến lƣợc sản phẩm và dịch vụ của Thƣ viện Viện Dân tộc học
49
2.2.1. Chiến lược sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện
49
2.2.2. Sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện
51
2.3. Chiến lƣợc giá của Thƣ viện Viện Dân tộc học
56
2.4. Chiến lƣợc phân phối của Thƣ viện Viện Dân tộc học

73
2.7.2 Mức độ phù hợp của chiến lược giá
76
2.7.3 Mức độ phù hợp của chiến lược phân phối
76
2.7.4 Mức độ hiệu quả của hoạt động xúc tiến hỗn hợp
78
6
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNG MARKETING HỖN HỢP TẠI THƢ VIỆN VIỆN
DÂN TỘC HỌC
82
3.1. Nhóm giải pháp tổ chức
3.1.1. Thành lập và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ phận marketing
3.1.2. Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý và cán bộ phụ trách hoạt động
marketing
3.1.3. Tăng cường đầu tư ngân sách cho hoạt động marketing
82
82
83

84
3.2. Nhóm giải pháp ứng dụng các công cụ marketing hỗn hợp
84
3.2.1. Chính sách sản phẩm
84
3.2.2. Chính sách giá

7 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNH, HĐH
CSDL
KHXH
NCT
NDT
NLTT
SP và DV
TT-TV
TNHH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Cơ sở dữ liệu
Khoa học xã hội
Nhu cầu tin
Người dùng tin
Nguồn lực thông tin
Sản phẩm và dịch vụ
Thông tin – thư viện

Bảng 1.2: Thống kê số lượng NDT
36
Bảng 2.1: Mức độ quan tâm của NDT tới các lĩnh vực cụ thể
52
Bảng 2.2: Giá các SP và DV tại Thư viện Viện Dân tộc học
56
Bàng 2.3: Mức độ phù hợp của giá cả các SP và DV
58
Bảng 2.4: Thống kê các loại hình tài liệu
68
Bằng 2.5: Thống kê thành phần ngôn ngữ của sách
69
Bảng 2.6: Thống kê thành phần ngôn ngữ của tạp chí
70
Bảng 2.7: Thống kê các loại tư liệu theo hình thức
71
Bảng 2.8: Đánh giá của NDT về khả năng đáp ứng NCT của các SP và DV
74
Bảng 2.9: Mức độ sử dụng các kênh phân phối SP và DV của Thư viện
77
Bảng 2.10: Tỷ lệ đánh giá hiệu quả của các kênh phân phối
77
Bảng 2.11: Kết quả thăm dò ý kiến NDT về các kênh quảng cáo mang lại hiệu
quả cao
78
10
thỏa mãn nhu cầu của các đối tượng khác hàng khác nhau. Khi vận dụng vào
hoạt động TT-TV, marketing nói chung và marketing hỗn hợp nói riêng cũng
mang những nét đặc thù cho bị chi phối bởi những đặc điểm đặc trưng của hoạt
động này ở nước ta như: hoạt động TT-TV tuy đã có định hướng mới (như đã
trình bày ở trên) nhưng vẫn đang trong giai đoạn chuyển đổi nên phần lớn vẫn
còn do nhà nước bao cấp nên vẫn mang tính phúc lợi xã hội là chính nên việc
vận dụng marketing hỗn hợp được nói đến ở đây phần nhiều vẫn mang ý nghĩa
áp dụng cho các tổ chức phí lợi nhuận. Chúng ta cũng cần phải hiểu rằng,
marketing được hiểu không đơn thuần là vấn đề kinh tế mà còn là cách thức tạo
ra sự trao đổi, kích thích sự trao đổi, làm cho sự trao đổi được dễ dàng và tiến hành
việc trao đổi theo giá trị kinh tế phát sinh khi trao đổi. Song, rất có thể với phần
nhỏ hơn còn lại, việc vân dụng này sẽ mở ra cách tiếp cận nền kinh tế thị trường
của các cơ quan TT-TV, góp phần đẩy nhanh sự phát triển kinh tế, phục vụ có
hiệu quả cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Trên thực tế, chúng ta cần chú trọng đến vấn đề rằng, sự tồn tại của thư
viện phụ thuộc vào hình ảnh của nó trong tâm trí người sử dụng và những nhà
cấp quỹ. Hình ảnh này phải là kết quả của chất lượng và hiệu quả của các sản
phẩm và dịch vụ mà thư viện cung cấp, khả năng tiên đoán các mong muốn và
đòi hỏi của NDT hiện tại và tiềm năng.
Ý thức được các vấn đề trên, trong những năm gần đây, Thư viện Viện
Dân tộc học đã chú ý đến việc ứng dụng marketing hỗn hợp để nâng cao hiệu
quả hoạt động của mình. Tuy nhiên, do hiện nay mới chỉ là giai đoạn đầu của
quá trình ứng dụng đó nên hoạt động marketing hỗn hợp của Thư viện còn gặp
rất nhiều khó khăn và hiệu quả mang lại còn nhiều hạn chế.
Từ những lý do nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Ứng dụng marketing hỗn
hợp trong hoạt động thông tin-thư viện tại Thư viện Viện Dân tộc học” làm đề

(Place), xúc tiến (Promotion) v.v…
Tại Việt Nam, các nhà thư viện học bắt đầu quan tâm đến hoạt động
marketing thư viện từ khoảng những năm 90 của thế kỷ XX. Các vấn đề lý
thuyết về chiến lược marketing, sản phẩm và dịch vụ, tiếp thị từ góc nhìn
12
marketing bắt đầu được quan tâm. Cho đến nay, trên các tạp chí chuyên ngành
như Tạp chí Thông tin và Tư liệu, Tạp chí Thư viện Việt Nam đã có những bài
viết về hoạt động marketing trong thư viện như: Chiến lược marketing đối với
hoạt động thông tin thư viện của tác giả Phan Thị Thu Nga (2005), Tiếp thị thư
viện qua mạng Internet của tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa (2007), Tiếp thị thư viện
qua blog (2008), Marketing trong hoạt động TT-TV (2010) của tác giả Trương Đại
Lượng Tuy nhiên, mỗi bài viết cũng chỉ đề cập đến một hoặc một số những khía
cạnh của marketing hỗn hợp.
Ngoài ra, trong những năm gần đây, đã xuất hiện một số nghiên cứu về
các vấn đề xoay quanh việc ứng dụng marketing trong hoạt động của một số cơ
quan TT-TV. Năm 2005, Nguyễn Hồng Anh đã bảo vệ luận văn thạc sỹ với đề tài
“Nghiên cứu ứng dụng Marketing trong một số cơ quan thư thư viện thông tin
lớn ở Hà Nội hiện nay” tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội. Luận văn đã chú
trọng phân tích hoạt động ứng dụng marketing hỗn hợp trên 6 cơ quan thông tin
thư viện lớn tại địa bàn Hà Nội. Tiếp đó, tháng 6/2010, Nguyễn Minh Nguyệt đã
bảo vệ khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Hoạt động marketing hỗn hợp tại Trung
tâm Học liệu Đại học Thái Nguyên” tại trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Khóa luận chú trọng khảo sát, phân tích,
đánh giá hoạt động marketing hỗn hợp tại Trung tâm Học liệu Đại học Thái Nguyên
– một trong những cơ quan TT-TV lớn và hiện đại nhất miền Bắc hiện nay.
Luận văn này tiếp cận việc ứng dụng marketing hỗn hợp tại thư viện của
một viện nghiên cứu, là Thư viện Viện Dân tộc học, thuộc Viện Khoa học Xã hội

- Thống kê so sánh
- Quan sát
- Phỏng vấn
- Điều tra bằng bảng hỏi
6. Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, hoạt động marketing hỗn hợp đã được đề cập đến trong chiến
lược phát triển của Thư viện Viện Dân tộc học, tuy nhiên việc thực hiện chưa
mang lại hiệu quả cao do một số yếu tố chi phối: chiến lược hoạt động, kinh phí,
14
nhân lực, quy trình tổ chức, phân phối. Nếu các yếu tố cho việc tổ chức và triển
khai này được đảm bảo thì sẽ nâng cao hiệu quả của việc triển khai ứng dụng
marketing hỗn hợp trong hoạt động TT-TV tại Thư viện Viện Dân tộc học trong
thời gian tới, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phục vụ NDT.
7. Đóng góp của đề tài
Luận văn mong muốn đóng góp các giải pháp đẩy mạnh hoạt động
marketing hỗn hợp tại Thư viện Viện Dân tộc học, góp phần đẩy mạnh hiệu quả
công tác nghiên cứu của Viện theo những nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Marketing hỗn hợp với hoạt động của Thư viện Viện Dân tộc học
Chương 2: Hoạt động marketing hỗn hợp tại Thư viện Viện Dân tộc học
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động marketing hỗn hợp tại Thư
viện Viện Dân tộc học

nhấn mạnh vào các yếu tố: nhu cầu, mong muốn, yêu cầu, hàng hóa, trao đổi,
giao dịch và thị trường và nó được hiểu là một dạng hoạt động chức năng đặc
thù của doanh nghiệp. Nó bao gồm nhiều hành vi của các bộ phận tác nghiệp
khác nhau hoặc của các công đoạn hoạt động marketing khác nhau, hướng tới
hai nhiệm vụ cơ bản: (1) nghiên cứu phát hiện, phân tích, đánh giá, lựa chọn nhu
cầu và mong muốn của khách hàng và các đối tác liên quan; (2) thỏa mãn nhu
cầu và mong muốn đó bằng sản phẩm, dịch vụ thông qua chính các công cụ
marketing trong marketing – mix của doanh nghiệp.
Từ việc nắm bắt khái niệm marketing và xác định rõ nhiệm vụ của
marketing mà lý thuyết về marketing hỗn hợp (marketing – mix) ra đời. 16
1.1.2 Marketing hỗn hợp (marketing – mix)
1.1.2.1. Định nghĩa
Như đã đề cập đến ở trên, thuật ngữ marketing hỗn hợp (marketing - mix)
lần lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1953 khi Neil Borden, là chủ tịch của
Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ lấy ý tưởng công thức thêm một bước nữa và đặt ra
thuật ngữ “marketing hỗn hợp”. Ngày nay, marketing hỗn hợp được hiểu là một
công cụ hữu hiệu trong hoạt động marketing nhằm hướng tới từng đối tượng
khách hàng khác nhau của tổ chức.
Phát triển ý tưởng của Neil Borden, Philip Kotler đã đưa ra định nghĩa về
marketing – mix như sau: “Marketing – mix là một tập hợp những yếu tố biến
động kiểm soát được của marketing mà công ty sử dụng để cố gắng gây được
phản ứng mong muốn từ phía thị trường mục tiêu” [2, tr. 48]. Theo ông,
marketing – mix bao gồm tất cả những gì mà công ty có thể vận dụng để tác
động lên nhu cầu về hàng hóa của mình. Có thể hợp nhất nhiều khả năng thành

Truyền thông tới khách hàng
(communication)
Bảng 1.1: 4P và 4C trong marketing – mix
Ngày nay, công thức marketing – mix của Philip Kotler được vận dụng
nhiều trong thực tế và nó được phát triển thêm nhiều yếu tố khác tùy thuộc vào
yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiệp (tổ chức). Bên cạnh công thức M = 4P,
người ta sử dụng khá phổ biến công thức M = 7P. Các yếu tố cấu thành trong
công thức M = 7P bao gồm: sản phẩm (product), giá cả (price), phân phối
(place), xúc tiễn hỗn hợp (promotion), con người (people), quy trình (process),
cơ sở vật chất (physical Evidence). Ngày nay, công thức M =7P thường được sử
dụng trong marketing dịch vụ. Thậm chí người ta còn phát triển công thức
marketing hỗn hợp M = 11P… Tuy nhiên, trong giới hạn của luận văn này, chỉ
xin đưa ra các vấn đề lý thuyết liên quan đến marketing hỗn hợp tương ứng
với công thức: M = 4P, bởi nó đang được triển khai phần nào trong hoạt
động marketing tại điểm nghiên cứu là Thư viện Viện Dân tộc học.
1.1.2.2. Các chức năng của marketing hỗn hợp
Bản chất của marketing hỗn hợp là công cụ để thực hiện các biện pháp
marketing nhằm hướng tới từng đối tượng khách hàng khác nhau, đặc biệt là đối
tượng khách hàng mục tiêu (thị trường mục tiêu). Chính vì thế nó có vị trí hết
sức quan trọng trong hoạt động marketing của doanh nghiệp (tổ chức). Chức
năng chính của marketing - mix thể hiện trong một số điểm cơ bản sau:
18
- Làm thích ứng sản phẩm với nhu cầu của thị trường, chỉ ra cho doanh
nghiệp biết cần phải sản xuất ra sản phẩm gì, với số lượng bao nhiêu, khi nào thì
bán trên thị trường.
- Hoạch định chiến lược giá cả: giúp các doanh nghiệp xây dựng chính
sách và phương pháp định giá, nhận biết nhân tố ảnh hưởng đến giá cả để từ đó

chất là ta phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanh tới sự
biến đổi của tính chất, quy mô, trình độ… của nhu cầu thị trường, tới tương quan
cung cầu và đặc biệt là tới các biến số marketing – mix trong doanh nghiệp.
Nhìn từ góc độ khoa học thư viện, đối với một cơ quan TT-TV, môi
trường marketing chính là tập hợp các chủ thể, các lực lượng bên trong và bên
ngoài các cơ quan đó, thường xuyên tác động đến các hoạt động TT-TV và vì thế
ảnh hưởng đến việc ra quyết định marketing của cơ quan. Mỗi cơ quan TT-TV
đều là thiết chế văn hóa, tổ chức xã hội, có quan hệ biện chứng với các tổ chức
xã hội khác, vì vậy trong hoạt động cần phải tìm hiểu những yếu tố thuận lợi và
khó khăn với mình, đó chính là môi trường “kinh doanh” và cũng chính là môi
trường marketing khi được đặt dưới góc nhìn marketing.
Căn cứ vào phạm vi tác động của các yếu tố môi trường tới hoạt động
marketing người ta phân chia môi trường marketing ra thành hai loại: môi
trường marketing vi mô và môi trường marketing vĩ mô.
1.2.1.1. Môi trường marketing vi mô
Môi trường marketing vi mô là những lực lượng, những yếu tố có quan hệ
trực tiếp với tổ chức và tác động đến khả năng phục vụ khách hàng của nó.
Những lực lượng này gồm có: các lực lượng bên trong tổ chức (ngoài bộ phận
marketing), các lực lượng bên ngoài tổ chức (các nhà cung ứng, các nhà môi giới
marketing, các đối thủ cạnh tranh, công chúng trực tiếp và khách hàng) [1, tr. 63].
Môi trường marketing vi mô được xác định trong hoạt động TT-TV chính
là môi trường được hình thành bởi các lượng lượng bên trong và bên ngoài các
cơ quan TT-TV. Các lực lượng bên trong bao gồm: mục tiêu, chiến lược,
phương châm phát triển của cơ quan; nguồn kinh phí được cấp để đảm bảo cung
ứng kịp thời và đầy đủ cho việc thực hiện các kế hoạch marketing; bộ phận
20
nghiên cứu và triển khai trong việc giải quyết những vấn đề thiết kế và cho ra

21
TT-TV, môi trường marketing vĩ mô đặc thù hơn, đó là môi trường được hình
thành bởi: yếu tố chính trị là yếu tố chính và cần nhắc đến đầu tiên (chính là các
chính sách của Đảng và Nhà nước về sự nghiệp văn hóa – thông tin nói chung
và TT-TV nói riêng có tác động đến sự phát triển của ngành và vì thế tác động
đến hoạt động của từng cơ quan TT-TV); tiếp theo là khoa học kỹ thuật đóng vai
trò quan trọng trong môi trường marketing vĩ mô bởi nó tạo ra những chuyển
biến lớn từ khâu sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin đến khâu phân
phối đến tay NDT; sau đó mới đến các yếu tố kinh tế, văn hóa xã hội khác. Thực
chất môi trường vĩ mô có ảnh hưởng toàn bộ tới môi trường marketing vi mô và
các quyết định marketing của các cơ quan TT-TV. Sự thay đổi của môi trường
này theo hướng có lợi cho cơ quan TT-TV có thể tạo nên những cơ hội, ngược
lại gây bất lợi cho các cơ quan TT-TV.

Hình 1.1: Ảnh hưởng của môi trường tới marketing hỗn hợp

22
Nhìn chung, môi trường có ảnh hưởng sâu sắc và mạnh mẽ tới hoạt động
của các cơ quan TT-TV. Để hiểu được sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường
tới hoạt động của các cơ quan TT-TV cần thiết biết rõ hệ thống hoạt động
marketing tồn tại như thế nào trong cơ quan TT-TV. Sơ đồ Hình 1 đã thể hiện rõ
hoạt động của cơ quan TT-TV là một hệ thống gồm những nỗ lực của marketing
– mix trong hoạt động TT-TV thể hiện qua bốn yếu tố: sản phẩm, giá cả, phân
phối, xúc tiến hỗn hợp dưới sự tác động của môi trường marketing vi mô và vĩ
mô. Sự tác động của môi trường đòi hỏi các cơ quan TT-TV phải hình thành các
hệ thống: thu thập thông tin marketing, lập kế hoạch marketing, tổ chức thực
hiện marketing, kiểm tra marketing, nhằm tìm ra những giải pháp hiệu quả cho

điện tử…; dịch vụ có thể bao gồm cả bản photo tài liệu, tìm kiếm thông tin, dịch
vụ đánh chỉ số, dịch vụ tham khảo, mượn trả tài liệu, hỗ trợ kỹ thuật, mượn liên
thư viện, phân phối tài liệu, đào tạo NDT… Sản phẩm và dịch vụ TT-TV cũng
được xác định bằng các đơn vị sản phẩm với ba cấp độ cấu thành sản phẩm:
- Lớp cốt lõi – cấp độ cơ bản nhất là sản phẩm theo ý tưởng: phản ánh
công dụng, tính hữu ích của sản phẩm, thỏa mãn được lợi ích cơ bản của NDT.
- Lớp đích thực – cấp độ thứ hai là sản phẩm hiện thực và cụ thể, được
biểu hiện bằng chất lượng, các thuộc tính (hình thức, kiểu dáng, màu sắc, cách
trình bày, bố cục), nhãn hiệu, tên gọi… nhờ những yếu tố này mà các cơ quan
TT-TV khẳng định sự hiện diện của mình trên thị trường, còn người tiêu dùng
phân biệt được sản phẩm của cơ quan này so với cơ quan khác.
- Lớp mở rộng – cấp độ cuối cùng là những sản phẩm bổ sung và hoàn
thiện bao gồm các dịch vụ kèm theo để thỏa mãn thêm lợi ích của người tiêu
dùng: vận chuyển, lắp đặt chạy thử, đào tạo, tập huấn sử dụng, thanh toán, bảo
hành… những yếu tố này đã tạo ra sự hoàn chỉnh của sản phẩm, nhờ sự hoàn
chỉnh này kích thích NDT sử dụng nó, sự hoàn chỉnh này phụ thuộc vào các yếu
tố bổ sung của người xử lý, cho nên dưới góc độ marketing yếu tố bổ sung trở
thành một trong những vũ khí cạnh tranh của các nhãn hiệu sản phẩm.
Mỗi cấp độ vừa nêu đều có những chức năng marketing khác nhau, việc
nghiên cứu sản phẩm dưới câu trúc ba lớp cho phép các cơ quan TT-TV nhận
24
thức được các cơ hội phát triển sản phẩm, như luôn không ngừng đổi mới và
hoàn thiện sản phẩm, làm cho sản phẩm kéo dài vòng đời (chu kỳ sống), tăng
sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, bằng các phương pháp có thể: giữ
nguyên lớp cốt lõi, thay lớp đích thực, thêm lớp mở rộng…, tùy trường hợp cụ
thể mà ứng dụng, nhằm thỏa mãn nhu cầu NDT của mình tốt hơn.
Muốn có một sản phẩm chất lượng và hoàn hảo cần những điều kiện sau:

1.2.3 Chiến lược giá
Với hoạt động trao đổi, giá cả được định nghĩa “là mối tương quan trao
đổi trên thị trường” [1, tr. 264]. Với người mua, “giá cả của một loại sản phẩm
hoặc dịch vụ là khoản tiền mà người mua phải trả cho người bán để được quyền
sở hữu, sử dụng sản phẩm hay dịch vụ đó” [1, tr. 265]. Với người bán, “giá cả
của một hàng hóa, dịch vụ là khoản thu nhập người bán nhận được nhờ việc tiêu
thụ sản phẩm đó” [1, tr. 265].
Quan niệm của marketing khi xác định tầm quan trọng của giá cả như sau:
- Giá cả là biến số duy nhất của marketing – mix tạo doanh thu cho doanh
nghiệp. Các quyết định về giá luôn gắn liền với kết quả tài chính của doanh nghiệp.
- Thông tin vế giá luôn giữ vị trí quan trọng trong việc để xuất các quyết
định kinh doanh. Quản trị giá được coi là một trọng tâm của quản trị marketing.
Trên cơ sở xác định tầm quan trọng của giá, chiến lược giá được xây dựng
với bốn nội dung cơ bản:
- Nắm bắt và dự báo một cách chính xác mức độ ảnh hưởng của các nhân
tố tác động đến các quyết định về giá.
- Xác định mức giá chào hàng, giá bán, giá sản phẩm mới, khung giá, giá
giới hạn, thời hạn thanh toán… Đó là việc xác định những mức giá cụ thể cho
từng sản phẩm và dịch vụ, kiểu kênh phân phối, thời gian và địa điểm tiêu thụ,
phương thức thanh toán. Việc tìm kiếm các phương pháp định giá khoa học là
vấn đề quan trọng nhất của nội dung này.
- Ra các quyết định về điều chỉnh và thay đổi giá theo môi trường kinh
doanh luôn biến đổi.
- Lựa chọn những ứng xử thích hợp trước những hoạt động cạnh tranh
26
qua giá cả.
Chiến lược giá cả rất phức tạp, không chỉ đối với các đơn vị kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status