1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG HỒNG
HIỆN ĐẠI HÓA TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƢ VIỆN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGHỆ THUẬT
TRUNG ƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƢ VIỆN
Hà Nội - 2012
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
MỞ ĐẦU 10
1. Tính cấp thiết của đề tài 10
2. Tình hình nghiên cứu 11
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 13
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn 13
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 13
4. Giả thuyết nghiên cứu 13
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 14
5.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn 14
5.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn 14
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 14
6.1. Phương pháp luận 14
6.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể 14
7. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của luận văn 14
7.1. Về mặt khoa học 14
7.2. Về mặt ứng dụng 14
8. Bố cục đề tài 15
CHƢƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT HIỆN ĐẠI HÓA TRUNG TÂM THÔNG TIN -
THƢ VIỆN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƢƠNG
16
1.1. Lý luận chung về hiện đại hóa trung tâm thông tin thƣ viện trong các
trƣờng đại học trƣớc yêu cầu đổi mới giáo dục 16
1.1.1. Khái niệm về hiện đại hóa trung tâm thông tin thư viện 16
1.1.2. Tính tất yếu của việc hiện đại hóa trung tâm thông tin thư viện trong các
trường đại học 18
1.1.2.1. Sự tác động của khoa học và công nghệ tới hoạt động thông tin thư
viện 18
1.1.2.2. Hoạt động thông tin thư viện đại học trước nhu cầu xã hội 20
1.2. Vai trò của Trƣờng Đại học Sƣ phạm Nghệ thuật Trung ƣơng trong sự
nghiệp đổi mới giáo dục 26
2.2.4.2. Tổ chức kho và sắp xếp tài liệu 59
2.2.4.3. Công tác bảo quản 61
2.2.5. Ứng dụng Công nghệ Thông tin 62
2.2.6. Công tác phục vụ người dùng tin 62
2.3. Đánh giá các tiêu chí hoạt động của Trung tâm Thông tin - Thƣ viện 68
2.3.1. Điểm mạnh 68
2.3.2. Điểm yếu 69
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP HIỆN ĐẠI HÓA TRUNG TÂM THÔNG TIN -
THƢ VIỆN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƢƠNG
75
3.1. Đổi mới cơ cấu tổ chức quản lý 76
3.2. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 78
3.3. Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng 82
3.3.1. Đầu tư cơ sở vật chất 82
3.3.2. Xây dựng hạ tầng kỹ thuật thông tin 82
3.4. Trang bị phần mềm thƣ viện điện tử 85
3.4.1. Đầu tư phần mềm điện tử 85
3.4.2. Xây dựng phần mềm hệ thống 88
3.5. Phát triển và hiện đại hóa nguồn lực thông tin 89
3.5.1. Xây dựng chính sách bổ sung 89
3.5.2. Nội dung tài liệu bổ sung 94
3.5.3. Hình thức bổ sung tài liệu 94
3.5.4. Chuẩn hóa xử lý tài liệu 96
3.5.5. Đẩy mạnh việc tạo lập, phát triển và cung cấp nguồn tin số hóa 98
3.5.6. Tổ chức kho, sắp xếp tài liệu và bảo quản tài liệu 98
7
3.6. Đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ thông tin thƣ viện theo hƣớng công nghệ
hiện đại 103
3.6.1. Sản phẩm thông tin thư viện 103
ISBD International Standard Bibliographic Description
Quy tắc mô tả thư mục theo tiêu chuẩn quốc tế
MARC 21 Machine Readable Cataloguing
Khổ mẫu biên mục có thể đọc bằng máy
9
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Danh mục các biểu đồ
Biểu đồ 1.1 Đối tƣợng ngƣời dùng tin Trƣờng Đại học Sƣ phạm Nghệ thuật
Trung ƣơng 36
Biểu đồ 2.1 Kinh phí đầu tƣ cho hoạt động thông tin thƣ viện từ 2008 - 2012 . 46
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu cán bộ theo giới tính 50
Danh mục các bảng
Bảng 1.1 Thời gian thu thập thông tin của ngƣời dùng tin 37
Bảng 1.2 Lĩnh vực chuyên môn mà ngƣời dùng tin quan tâm 39
Bảng 1.3 Nguồn tài liệu hữu ích mà ngƣời dùng tin quan tâm khai thác 40
Bảng 2.1 Kinh phí đầu tƣ cho hoạt động thông tin thƣ viện từ 2008-2012 45
Bảng 2.2 Số liệu về nguồn lực thông tin tại thƣ viện 48
Bảng 2.3 Trình độ chuyên môn của cán bộ 50
Bảng 2.4 Phân công lao động tại các bộ phận hiện nay 51
Bảng 2.5 Tổng kinh phí bổ sung tài liệu trong năm 2011 53
Bảng 2.6 Số liệu bổ sung sách 53
Bảng 2.7 Số thẻ cấp cho bạn đọc 67
Bảng 2.8 Nơi ngƣời dùng tin quan tâm khai thác thông tin tƣ liệu 71
Bảng 2.9 Tình hình sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin thƣ viện. 73
Danh mục các hình
xây dựng những bước phát triển vững chắc của sự nghiệp thư viện Việt Nam.
Nghị quyết của Đại hội Đảng 9 đã chỉ rõ: Để từng bước tiếp cận nền kinh tế
tri thức, đi tắt đón đầu, chúng ta cần đổi mới tư duy, xây dựng và thực thi chính
sách và biện pháp hữu hiệu, xây dựng một hạ tầng thông tin hiện đại, đi trước một
bước, có một chiến lược con người, một nền giáo dục lành mạnh và tiên tiến, chú
11
trọng đào tạo cán bộ cho các ngành công nghệ cao mũi nhọn, các lĩnh vực điện tử
viễn thông, công nghệ thông tin, quản trị thông tin,… đồng thời đào tạo và đào tạo
lại cho cán bộ viên chức, người sử dụng máy tính và mạng, nâng cao mặt bằng dân
trí, tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật.
Trong bối cảnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin và quá trình tin học
hóa đang được triển khai trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội ở nước ta, trong sự
nghiệp đào tạo và nghiên cứu. Tổ chức xây dựng thư viện điện tử tại các trường đại
học, cao đẳng, trung học và các cơ quan nghiên cứu khoa học là một công việc rất
quan trọng trong quá trình hiện đại hóa này.
Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương (ĐHSPNTTW) là trường
đào tạo duy nhất về sư phạm nghệ thuật trong nước, với chủ trương mở thêm các
mã ngành đào tạo theo hướng đa ngành, trường có 02 khoa truyền thống là Sư phạm
Âm nhạc và Sư phạm Mỹ thuật, gắn liền với quá trình trưởng thành của nhà trường,
gần đây thành lập ba khoa Thanh nhạc - Nhạc cụ, Mỹ thuật cơ sở và Văn hóa Nghệ
thuật. Cùng với sự đi lên của Nhà trường, Trung tâm Thông tin - Thư viện của
trường đã được thành lập ngày 25/11/2008 theo Quyết định số 11/QĐ-
ĐHSPNTTW-TC của Hiệu trưởng Trường ĐHSPNTTW thành đơn vị độc lập, trực
thuộc Ban Giám hiệu để đáp ứng nhu cầu tin đa ngành và mang tính đặc thù cao của
trường. Do mới thành lập nên Trung tâm Thông tin - Thư viện (TTTTTV) Trường
ĐHSPNTTW hoạt động chủ yếu theo phương thức truyền thống, còn nhiều bất cập,
chưa đáp ứng được nhu cầu của bạn đọc cũng như mục tiêu đào tạo của Nhà trường.
Vì những lý do trên tôi chọn vấn đề “Hiện đại hoá Trung tâm Thông tin -
Thư viện trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương” làm đề tài luận văn
học Khoa học xã hội và Nhân văn năm 2006. Có bài viết của Tiến sĩ Lê Văn Viết và
Thạc sĩ Võ Thu Hương “Thư viện đại học Việt nam trong xu thế hội nhập” đăng
trên tạp chí Thư viện Việt Nam số 2 năm 2007. Bài viết đề cập đến vai trò của thư
viện đại học, từ đó nhận diện về thực tiễn thư viện đại học Việt Nam hiện nay, thách
thức đối với thư viện đại học Việt Nam trong xu thế hội nhập và cuối cùng là tác giả
đề xuất mô hình thư viện đại học Việt Nam trong tương lai.
13
Ngoài ra, còn có một số luận văn tốt nghiệp của học viên chuyên ngành
thông tin thư viện như “Nghiên cứu phát triển thư viện điện tử trong các trường đại
học trên địa bàn Hà Nội hiện nay” của học viên Phạm Thị Mai thuộc khóa 1 đào
tạo Thạc sĩ chuyên ngành Khoa học thư viện của Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn bảo vệ năm 2009;
Đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về hiện đại hóa Trung tâm
Thông tin - Thư viện Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở khảo sát nhu cầu tin và nghiên cứu thực trạng tổ chức và hoạt
động TTTV của Trung tâm, nhận diện rõ yêu cầu, nhiệm vụ của TTTTTV Trường
ĐHSPNTTW trong giai đoạn đổi mới đất nước, đề xuất những giải pháp hợp lý
nhằm HĐH TTTTTV đáp ứng nhu cầu tin, nâng cao chất lượng phục vụ và phù hợp
với mục tiêu đào tạo của Nhà trường.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để đạt được mục tiêu đã đề ra, luận văn tiến hành nghiên cứu các nhiệm vụ
cụ thể sau:
Nêu bật được những vấn đề lý luận về hoạt động TTTV nói chung và HĐH
TTTV trong trường đại học nói riêng trong giai đoạn đổi mới, hội nhập.
Nêu bật được các hoạt động của Trường ĐHSPNTTW nói chung và khảo sát
hoạt động TTTV của TTTTTV Trường ĐHSPNTTW nói riêng.
Đưa ra những đề xuất và khuyến nghị giải pháp nhằm HĐH TTTTTV
cho đến nay vấn đề về HĐH thư viện các trường nghệ thuật nói chung và HĐH thư
viện Trường ĐHSPNTTW nói riêng chưa được nghiên cứu tổng thể và bài viết nào.
Do vậy, nghiên cứu này góp phần vào việc hệ thống hoá quan điểm về hiện đại hoá
thư viện trong trường đại học và đáp ứng được yêu cầu về HĐH thư viện đối với
các trường đại học nghệ thuật bằng giải pháp HĐH thư viện phù hợp với quy mô và
chức năng, nhiệm vụ của một thư viện trường đại học nghệ thuật cụ thể.
7.2. Về mặt ứng dụng
Đề xuất giải pháp HĐH TTTTTV Trường ĐHSPNTTW trên cơ sở lý luận và
thực tiễn hoạt động của một số thư viện trường đại học trong cả nước, từ đó nâng
15
cao chất lượng hoạt động của thư viện Nhà trường, nhằm rút ra những kinh nghiệm
cần có cho trường đại học đào tạo chuyên ngành nghệ thuật khác và góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo, phục vụ trực tiếp cho việc đào tạo nguồn nhân lực đạt chất
lượng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH) đất nước.
8. Bố cục đề tài
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Sự cần thiết hiện đại hóa Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường
Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.
Chương 2: Thực trạng hiện đại hóa Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường
Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.
Chương 3: Giải pháp hiện đại hóa Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường
Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.
16
CHƢƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT HIỆN ĐẠI HÓA TRUNG TÂM THÔNG TIN -
THƢ VIỆN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƢƠNG
1.1. Lý luận chung về hiện đại hóa trung tâm thông tin thƣ viện trong các
trƣờng đại học trƣớc yêu cầu đổi mới giáo dục
Ngày nay, cán bộ TTTV không chỉ đơn thuần làm công tác giữ sách mà họ
đang thực hiện vai trò điều phối giữa một bên là khối lượng thông tin khổng lồ luôn
gia tăng nhanh chóng và một bên là nhu cầu thông tin ngày càng cao và khắt khe
của xã hội. Nguồn tài nguyên thông tin và khả năng khai thác sử dụng thông tin có
nguy cơ ngày càng tách rời xa nhau. Dù xã hội Việt Nam chưa hẳn đã bước vào nền
văn minh ấy nhưng đã chịu sự tác động mạnh mẽ của nó, ít nhất trên lĩnh vực cạnh
tranh, đào tạo và thông tin. Vì vậy việc hội nhập thế giới về phương diện TTTV
phải là sự lựa chọn mang tính đột phá của chiến lược “đi tắt đón đầu” bắt kịp sự
phát triển của thế giới.
Sự nghiệp thư viện Việt Nam có sự thuận lợi khá lớn so với thế giới là được
nhà nước đầu tư trọn vẹn. Đội ngũ cán bộ thư viện Việt Nam chỉ việc hành động mà
không cần lựa chọn về chiến lược, mục tiêu, nội dung và phương thức, con người và
tổ chức, tài chính và cơ sở vật chất… Mọi thứ hầu như đã được thiết định đầy đủ
bằng chủ trương, chính sách và cơ chế. Và đây cũng là lý do giải thích tại sao một
đất nước chậm phát triển như chúng ta lại có được một sự nghiệp thư viện to lớn chí
ít cũng về qui mô và phạm vi hoạt động như chúng ta hiện có.
Tuy nhiên có thể xem đây cũng chính là điểm yếu cơ bản của chúng ta và có
thể nói về một phương diện nào đó, là một vật cản khá lớn chắn trên con đường hội
nhập của chúng ta. Chính sự bao bọc này đang làm thui chột ý chí tiến thủ, tính
năng động sáng tạo, khả năng tự vươn lên và khẳng định của những người làm nghề
thư viện ở Việt Nam hiện nay.
Đã có thời kỳ nói đến HĐH, chúng ta thường nghĩ đến một hệ thống trang
thiết bị hiện đại: bao gồm hệ thống máy tính, những phần mềm chuyên dụng, những
hệ thống an ninh tài liệu: camera, cổng từ… Những trang thiết bị này là cần thiết
nhưng chỉ là những phần rất thứ yếu và có lẽ là phần dễ thực hiện nhất trong các nội
dung hiện đại hoá. HĐH thư viện ở nước ta hiện nay cần phải nhằm tới những mục
tiêu bao trùm hơn, cơ bản hơn và thiết yếu hơn.
Trước tiên để việc HĐH thực sự có hiệu quả và đi đúng hướng thì việc đầu
tiên và vô cùng quan trọng là phải bắt đầu từ việc HĐH tầm nhìn các nhà lãnh đạo,
nhà quản lý và đội ngũ nhân viên thư viện. Tự bản thân mỗi người cần hiểu rõ vai
hay thống kê vòng quay của sách. Đầu những năm 70 vấn đề tự động hóa thư viện
19
đã diễn ra một bước tiến lớn đó là sự liên kết giữa kỹ thuật máy tính với các phương
tiện viễn thông. Kết quả của việc liên kết này tạo ra các mạng máy tính khác nhau
như mạng LAN, mạng WAN, các mạng quốc gia và quốc tế. Đến những năm 1980-
1990, CNTT phát triển, đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển thư viện, đặc biệt
trong kỷ nguyên thông tin hiện nay, các dạng CSDL hình thành và phát triển, sử
dụng nhiều nguồn tin nên các loại hình thông tin dưới dạng giấy, băng từ, tài liệu
nghe nhìn,… được phổ biến.
Thập kỷ Internet phổ biến vào những năm 1990-2000, việc ứng dụng công
nghệ này tạo ra các xuất bản phẩm điện tử, vốn tài liệu điện tử và siêu phương tiện
ra đời, giúp cho các loại hình thư viện cũng thay đổi hơn như có vật mang tin số hóa
thuận lợi cho việc lưu trữ, và bảo quản các siêu dữ liệu khổng lồ. Đến những năm
gần đây việc phát triển của công nghệ web và internet ở thế hệ 1 ra đời giúp cho thư
viện có thể xây dựng được website riêng, thư viện cá nhân phát triển với các vật
mang tin số hóa.
Sự tác động của CNTT-Truyền thông đến thư viện là tạo ra môi trường làm
việc điện tử (số hóa) trong hoạt động TTTV. Các thư viện sử dụng các công cụ điện
tử để điều hành các thủ tục thư viện như đặt mua, các dịch vụ cung cấp tài liệu điện
tử. Nguồn tin điện tử tăng lên như tạp chí điện tử, sách điện tử, CSDL trên đĩa cứng
và CD-ROM. Internet trên mạng nội bộ (Intranet), nguồn tin được nối mạng, phép
tạo lập mạng và chia sẻ các nguồn tin, giao lưu bằng công cụ điện tử như email,
chat, thông báo cũng phát triển.
Như vậy, hoạt động thông tin thư viện đã áp dụng rất sớm các thành tựu của
khoa học công nghệ. Trong đó phải kể đến việc ứng dụng CNTT trong việc tổ chức,
quản lý và khai thác thông tin. Cùng với xu hướng đó là các xu hướng đang có tác
động mạnh mẽ đến hoạt động TTTV như chuẩn hóa, thống nhất, trao đổi – chia sẻ
và cung cấp dữ liệu điện tử.
Những thành tựu của khoa học công nghệ được ứng dụng trong hoạt động
tế, các thư viện trường đại học Việt Nam đã không ngừng được đầu tư trang thiết bị,
cơ sở vật chất, nguồn nhân lực,… nhằm thay đổi phương thức phục vụ từ các mô
21
hình thư viện truyền thống sang mô hình thư viện hiện đại - thư viện mở. Một trong
những bước đi khởi đầu và đã thành công của một số thư viện đại học Việt Nam đó
là sự chuyển đổi từ mô hình kho đóng sang mô hình kho mở đã giúp cán bộ nghiên
cứu, giảng viên, sinh viên được trực tiếp lựa chọn các tài liệu mình cần thay vì phải
chờ đợi cán bộ thư viện lấy tài liệu cho mượn qua phiếu yêu cầu trước đây.
Các chuẩn nghiệp vụ TTTV như: Sử dụng khổ mẫu biên mục MARC21,
MARC21VN; chuẩn ISO 10161 cho mượn liên thư viện, hỗ trợ đề mục chủ đề, từ
khóa không kiểm soát, quy tắc biên mục ISBD, AACR2, LC-In-Publication
Catalog, TCVN4743-89,…
Tuy nhiên, nhìn bức tranh HTTTTV các trường đại học Việt Nam, trừ một số
Trung tâm học liệu và các thư viện đại học quốc gia được đầu tư xây dựng từ cơ sở
hạ tầng cho đến thiết bị phần cứng và phần mềm một cách khá bài bản theo đặc thù
và tiêu chuẩn quốc tế về thông tin, thư viện còn hầu hết các trung tâm thư viện khác
đều đầu tư trang bị nhỏ lẻ, chắp vá thiếu đồng bộ hoặc thiếu kinh nghiệm, tư vấn
của chuyên gia khi thiết kế và trang bị dẫn đến còn nhiều bất cập, hiệu quả khai thác
sử dụng chưa cao,…
Trên đây là những bước chuyển mình mà các thư viện Việt Nam nói chung
và thư viện đại học nói riêng đang hướng tới nhằm trang bị đầy đủ và sẵn sàng hội
nhập với các thư viện trên thế giới. Tuy nhiên, để có thể theo kịp với sự phát triển
các thư viện số, thư viện điện tử đang hoạt động hiệu quả và tiện lợi trên thế giới thì
các thư viện đại học tại Việt Nam cần phải có những bước đi tắt đón đầu để đạt
được các mục tiêu phát triển thư viện trong tương lai gần. Đó là mục tiêu xây dựng
được các mô hình thư viện số theo các tiêu chuẩn quốc tế, chia sẻ và liên thông với
khu vực và quốc tế.
Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa –
hiện đại hóa đã được Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa
chủ, tự chịu trách nhiệm, tự kiểm soát bên trong của các trường, trên cơ sở các quy
định của nhà nước và của các trường, tăng cường công tác giám sát và kiểm tra
của Nhà nước, của xã hội và của bản thân các cơ sở”. Qua đó, xác định tinh thần:
Nhà trường tự chủ, Nhà nước quản lý đối với các trường đại học trong công cuộc
đổi mới giáo dục đại học. 2
http://vietbao.vn/Giaoduc/Đoi-moi-co-tinh-cach-mang-nen-giao-duc-va-dao-tao-cua-nuoc-
nha/40219356/202/)
23
Cụ thể hơn, Nghị quyết 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo
dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 đề ra 6 mục tiêu:
- Hoàn chỉnh mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, có sự phân tầng về chức
năng, nhiệm vụ đào tạo, đảm bảo hợp lý cơ cấu trình độ, ngành nghề, vùng miền,
phù hợp với chủ trương xã hội hóa giáo dục, quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế
xã hội;
- Phát triển các chương trình giáo dục học theo hướng nghiên cứu và
định hướng nghề nghiệp ứng dụng. Bảo đảm sự liên thông giữa các chương
trình của toàn hệ thống. Xây dựng và hoàn thiện các giải pháp đảm bảo chất
lượng và hệ thống kiểm định giáo dục đại học, xây dựng một số trường đại học
đẳng cấp quốc tế;
- Mở rộng quy mô đào tạo, đạt tỷ lệ 200 sinh viên/1 vạn dân (2010) và 450/1
vạn dân (2020), trong đó 70 - 80% sinh viên theo học có chương trình nghề nghiệp
ứng dụng, khoảng 40% sinh viên ngoài công lập;
- Nâng tầm đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học: Bảo đảm
tỷ lệ sinh viên/1 giáo viên không quá 20. Đến năm 2010 ít nhất 40% giáo viên có
trình độ Thạc sĩ, và 25% đạt trình độ Tiến sĩ, đến 2020 có ít nhất 60% giáo viên có
trình độ Thạc sĩ và 35% trình độ Tiến sĩ;
Củng cố tổ chức bộ máy, tăng quyền tự chủ cho các đơn vị.
Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI
nhấn mạnh việc đổi mới tư duy giáo dục một cách nhanh nhất, tiếp cận trình độ giáo
dục khu vực và thế giới, ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học;
đẩy mạnh cải cách giáo dục đại học đảm bảo đủ số lượng, chất lượng giáo viên ở tất
cả các cấp, điều chỉnh mức thu học phí hợp lý để đảm bảo chất lượng đào tạo; đẩy
mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo; có lộ trình cụ thể cho việc chuyển một số
trường công lập sang dân lập, tư thục; phát triển nhanh nguồn lực có chất lượng cao,
nhất là chuyên gia đầu ngành.
Trong chiến lược đổi mới giáo dục đại học Việt Nam đến năm 2020 đã xác
định 7 nhiệm vụ quan trọng sau:
- Điều chỉnh cơ cấu trình độ và hệ thống Nhà trường;
25
- Xây dựng chương trình và quy mô đào tạo;
- Phát triển đội ngũ giảng viên;
- Tăng cường hoạt động nghiên cứu và triển khai;
- Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục đại học;
- Đổi mới quản lý giáo dục đại học;
- Nâng cao sức mạnh cạnh tranh của hệ thống giáo dục đại học trong quá
trình hội nhập quốc tế.
3
Với xu thế thông tin toàn cầu như hiện nay thì việc xây dựng một hệ thống
thông tin phục vụ cho các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học, giải trí,… của
cán bộ, giảng viên, sinh viên và nghiên cứu sinh,… trong trường là một nhu cầu
không thể thiếu được. Hệ thống thông tin này phải được xây dựng một cách hiện
đại, đáp ứng được các yêu cầu sử dụng hiện tại cũng như trong tương lai. Hệ thống
thông tin được xây dựng trên cơ sở ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin
và truyền thông đa phương tiện cho phép quản lý, lưu trữ và tìm kiếm, khai thác
điện tử với việc ứng dụng CNTT cho thư viện đang ngày càng phát triển là một yếu
tố khách quan.
1.2. Vai trò của Trƣờng Đại học Sƣ phạm Nghệ thuật Trung ƣơng trong sự
nghiệp đổi mới giáo dục
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển
Trường ĐHSPNTTW được thành lập theo Quyết định số 117/2006/QĐ-TTg
ngày 26/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Sư
phạm Nhạc - Họa Trung ương.
Trải qua hơn 40 năm hoạt động và trưởng thành, Trường ĐHSPNTTW luôn
gắn kết sự nghiệp đào tạo của mình với sự phát triển của nền giáo dục đại học và sự
nghiệp giáo dục đào tạo của đất nước.
Thực hiện chủ trương đổi mới sự nghiệp đào tạo và tinh thần “nhà trường tự
chủ”, Trường ĐHSPNTTW đã không ngừng đổi mới công tác tổ chức và quản lý
hoạt động đào tạo; phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu; xây dựng cơ
sở vật chất hiện đại phục vụ công tác đào tạo trong Nhà trường.
Trường ĐHSPNTTW là cơ sở đào tạo đại học và nghiên cứu khoa học về
giáo dục nghệ thuật, đặc biệt là đào tạo giáo viên Âm nhạc, giáo viên Mỹ thuật ở
các trình độ từ trung cấp, cao đẳng đến đại học. Mục tiêu phấn đấu trong kế hoạch
2010 - 2015 của Nhà trường là: “Đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học về đào
tạo loại hình giáo viên âm nhạc, mỹ thuật và các môn nghệ thuật khác ở trình độ
27
sau đại học, đại học, cao đẳng, trung cấp, để giảng dạy và hoạt động ở các trường
phổ thông và các trường sư phạm trong hệ thống giáo dục quốc dân và phục vụ nhu
cầu xã hội”.[37,tr.6]
Một số đặc điểm học tập, giảng dạy tại Trường ĐHSPNTTW
Chương trình học tập, giảng dạy của Trường ĐHSPNTTW có đặc điểm sau:
- Nội dung kiến thức chương trình học tập rất lớn, sinh viên học lý thuyết
kiến thức đại cương và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm buổi sáng thì buổi chiều học
chuyên môn, hoặc ngược lại, nên sinh viên ít có thời gian để tự học.