Quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (giai đoạn 1995 - 2005) - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA QUỐC TẾ HỌC
*** BÙI THANH LONG
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – HOA
KỲ
(GIAI ĐOẠN 1995-2005)

Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60.31.40

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH QUỐC TẾ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS.Đỗ Sơn Hải
Nhu cầu của hai nước đối với thị trường của nhau
12
1.3.1.
Lợi ích của Việt Nam
12
1.3.1.1.
Lợi ích Kinh tế
12
1.3.1.2.
Lợi ích Chính trị
14
1.3.2.
Lợi ích của Mỹ
15
1.3.2.1.
Lợi ích Kinh tế
15
1.3.2.2.
Lợi ích Chính trị
17

Chương 2
Quá trình phát triển quan hệ thương mại Việt – Mỹ (1995 –
2005)
2.1.
Quan hệ thương mại xuất – nhập khẩu
21
2.1.1.
Xuất khẩu
21

Quan hệ đầu tư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
43
2.2.1.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hoa Kỳ tại Việt Nam
43
2.2.1.1.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài liên quan đến Hoa Kỳ đã đăng ký
44
2.2.1.2.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài liên quan đến Hoa Kỳ đã thực
hiện
46
2.2.1.3.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài liên quan đến Hoa Kỳ vào Việt
Nam từ năm 2003 đến giữa năm 2006

48
2.2.1.4.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hoa Kỳ theo từng lĩnh vực
51
2.2.1.5.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hoa Kỳ theo hình thức và địa
điểm đầu tư 54
2.2.2.
Đầu tư nước ngoài gián tiếp tại Việt Nam
57
2.2.2.1.

69

Chương 3
Triển vọng phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ
3.1.
Những nhân tố tác động đến sự phát triển quan hệ thương
mại Việt Nam – Hoa Kỳ 73
3.1.1.
Những nhân tố chung
73
3.1.2.
Nhân tố Việt Nam
79
3.1.2.1.
Việt Nam gia nhập WTO
80
3.1.2.2.
Việt Nam giành được quy chế thương mại bình thường vĩnh
viễn (PNTR) 87
3.1.2.3.
Việt Nam khai thác vị thế thành viên WTO và PNTR trong
quan hệ kinh tế với Mỹ
110
3.3.1.
Những khó khăn, thách thức
110 3.3.2.
Nhóm giải pháp giúp doanh nhân Việt Nam thâm nhập tốt
thị trường Mỹ 115
3.3.2.1.
Nhóm giải pháp từ phía Nhà nước
115
3.3.2.2.
Nhóm giải pháp từ phía doanh nghiệp
117
3.3.3.
Những giải pháp khác nhằm thực hiện được mục tiêu đã đề
ra 122
KẾT LUẬN

124
TÀI LIỆU THAM KHẢO
i
PHỤ LỤC BẢNG, HÌNH VẼ VÀ ẢNH MINH HOẠ

IBM International Business Machines: Tập đoàn công nghệ máy tính đa
quốc gia
IMF International Monetary Fund: Quỹ tiền tệ quốc tế
MFN Most Favored National Treatment: Quy chế tối huệ quốc
MIA Missing In Action: Quân nhân Mỹ bị mất tích trong chiến tranh NABE National Association For Business Economics: Hiệp hội các nhà
kinh tế và kinh doanh quốc gia
NAFTA North American Free Trade Agreement: Khu vực mậu dịch tự do
Bắc Mỹ
NICs New Industrial Countries: Các nước công nghiệp mới
NME Non-Market Economic Country: Nước phi kinh tế thị trường
NT National Treatment: Đối xử quốc gia
NTR Normal Trade Regulations: Quy chế quan hệ thương mại bình
thường
ODA Official Development Assistance: Viện trợ phát triển chính thức
OECD Organisation for Economic Co-operation and Development: Tổ
chức hợp tác và phát triển kinh tế
OPIC Overseas Private Investment Corporation: Tổ chức đầu tư tư nhân
hải ngoại
PNTR Permanent Normal Trade Regulations: Quy chế Thương mại bình
thường vĩnh viễn
POW Prisoner of War: Tù nhân chiến tranh
SAARC South Asian Association for Regional Cooperation: Khu vực hợp
tác kinh tế Nam Á
SSA South Shrimp Association of America: Liên minh Tôm miền Nam
nước Mỹ
TBCN Tư bản chủ nghĩa
TRIMs Trade-Related Investment Measures: Hiệp định về các biện pháp

hệ hai nước ngày càng được cải thiện và phát triển. Cùng với sự phát triển của
quan hệ ngoại giao là sự phát triển của quan hệ thương mại, đầu tư. Từ sự hợp
tác ban đầu còn nhỏ lẻ, bó hẹp trong vấn đề nhân đạo, quan hệ hai nước đã
mở rộng sang các lĩnh vực kinh tế thương mại, chính trị, giáo dục, y tế, khoa
học - công nghệ… và cả những lĩnh vực chưa từng có trong lịch sử quan hệ
hai nước như tiếp xúc quốc phòng, chống khủng bố, ma tuý, tội phạm xuyên
quốc gia… Gần đây, hai bên đang trao đổi những biện pháp nhằm đưa quan
hệ hai nước lên bước phát triển mới, hướng tới xây dựng mối quan hệ hợp tác
ổn định lâu dài. Trong quan hệ hai nước, hợp tác thương mại và đầu tư luôn là
lĩnh vực trọng tâm và cũng là lĩnh vực đạt được nhiều kết quả nhất. Hiệp định
thương mại Việt - Mỹ được ký kết vào tháng 7/2000 và có hiệu lực vào tháng
12/2001 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thúc đẩy quan hệ hợp tác
kinh tế - thương mại và đầu tư giữa hai nước. Ngoài ra, hai bên đã ký một loạt
thoả thuận và hiệp định kinh tế như Hiệp định Dệt may (2003), Hiệp định
Hàng không (2003), thư thoả thuận về Sáng kiến cạnh tranh Việt Nam, Thoả
thuận về hệ thống cấp Visa điện tử cho hàng dệt may xuất khẩu sang Mỹ… và
đang trao đổi, đàm phán tiến tới ký kết hiệp định khung về Hợp tác kinh tế -
kỹ thuật, Hiệp định Hàng hải…
Kim ngạch buôn bán hai chiều đạt khoảng 6 tỷ USD năm 2004 tăng
gấp 4 lần so với năm 2001, khi Hiệp định thương mại song phương chưa có
hiệu lực. Về đầu tư, cho đến nay (2005), Mỹ đã có 266 dự án tại Việt Nam
với tổng trị giá khoảng 2 tỷ USD, trong đó 219 dự án trị giá 1,3 tỷ USD đang
còn hiệu lực. Nếu tính cả đầu tư của các công ty Mỹ qua nước thứ 3 thì con số
này đạt khoảng 2,6 tỷ USD [50; tr.6]. Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, Hoa 2
Kỳ là nước có nền kinh tế phát triển bậc nhất Thế Giới trong khi đó Việt Nam
là nước có nền kinh tế đang phát triển. Những con số nêu ở trên chưa phản
ánh đúng tiềm năng của hai bên. Để giúp người đọc có được cái nhìn bao quát

hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ” của Tiến sĩ Đỗ Đức Định, Viện Kinh tế
Thế giới, cùng nhiều bài viết ở lĩnh vực thương mại đầu tư khác trên các báo,
tạp chí, các dự án của các tổ chức trong và ngoài nước – Dự án Star phối hợp
cùng CIEM “Đánh giá tác động kinh tế của hiệp định thương mại Việt Nam -
Hoa Kỳ” - Báo cáo kinh tế năm 2003…
Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tác giả dựa trên phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu
như: phân tích - tổng hợp, thống kê - so sánh, dự báo v.v…
4. Đóng góp của luận văn
- Luận văn hệ thống hoá một cách tổng quát quan hệ thương mại Xuất -
Nhập khẩu và Đầu tư giữa Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 1995 – 2005.
- Phân tích các yếu tố tác động đến mối quan hệ này, trên cơ sở đó đưa ra
quan điểm mới và các lợi thế so sánh.
- Nhận định xu hướng phát triển và kiến nghị các giải phát thúc đẩy sự phát
triển hơn nữa quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ.
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người
làm công tác nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động thực tiễn lên quan đến
quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ.
5. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được chia làm ba chương:
Chƣơng 1: Một số nét khái quát về quan hệ thương mại Việt Nam –
Hoa Kỳ trước bình thường hoá
Chƣơng 2: Quá trình phát triển quan hệ thương mại Việt – Mỹ trong
giai đoạn 1995 - 2005
Chƣơng 3: Những nhân tố tác động và triển vọng của sự phát triển
quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do trình độ còn hạn chế, điều kiện
thời gian và nguồn tài liệu tiếp cận còn ít cho nên luận văn không tránh khỏi

5
năm cuối thế kỷ 20 tuy vẫn còn tồn tại nguy cơ của các cuộc xung đột sắc tộc
và tôn giáo, các cuộc chiến tranh biên giới, nạn khủng bố, đe doạ sự ổn định
của khu vực và thế giới. Phần chi phí quốc phòng trong tổng GDP của thế
giới đã giảm từ 7,5% năm 1971 xuống còn 3,3% năm 1996. Nhân tố kinh tế
ngày càng có vị trí quan trọng trong quan hệ quốc tế và là động lực quan
trọng thúc đẩy các mối quan hệ quốc tế hiện nay.
Cùng với sự chấm dứt chiến tranh lạnh, cuộc cách mạng công nghiệp lần
3 (còn gọi là cách mạng tin học) là một trong những động lực thúc đẩy mạnh
mẽ quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá. Hai cuộc cách mạng công nghiệp
trước đã đưa đến sự phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất thế giới, còn
cuộc cách mạng tin học đã tạo ra mạng lưới thông tin hiện đại, làm cho sự
trao đổi và thông tin lẫn nhau giữa các quốc gia này càng trở nên dễ dàng và
thuận tiện. Chính vì thế, hoạt động thương mại và đầu tư đã có thể phát triển
rộng khắp đến những khu vực khác nhau trên thế giới và sự quốc tế hoá sản
xuất làm cho tính tuỳ thuộc vào nhau, bổ sung lẫn nhau của nền kinh tế các
nước trở nên sâu sắc hơn, đi đôi với nó là sự cạnh tranh gay gắt và nguy cơ tụt
hậu. Vì vậy, các nước cần phải liên kết kinh tế từ cấp độ khu vực như Diễn
đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Liên minh Châu Âu
(EU), Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), tới cấp độ toàn cầu, điển
hình là Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Không nước nào có thể đứng
một mình biệt lập mà lại phát triển được, nước phát triển nhất như Mỹ cũng
đã tham gia khối NAFTA, APEC, đồng thời có quan hệ hợp tác với tất cả các
trung tâm kinh tế khác. Nước đông dân nhất thế giới như Trung Quốc cũng đã
tham gia APEC và có quan hệ đối tác chiến lược với các trung tâm kinh tế
khác. Các nước nhỏ hơn càng phải tham gia tích cực và ưu tiên hơn các quan
hệ của họ với các trung tâm kinh tế. Các quốc gia tham gia vào các tổ chức
kinh tế quốc tế đều phải điều chỉnh thể chế của mình để tuân thủ nguyên tắc
của các định chế đó. Chẳng hạn WTO quy định các nước thành viên phải có
7
Ở đây đã và đang hình thành nhiều tầng cấp hợp tác kinh tế: từ sự hợp
tác đại khu vực như Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
(APEC) tới các liên kết khu vực như Hiệp hội các nước Đông Nam Á
(ASEAN), khu vực hợp tác kinh tế Nam Á (SAARC) và các cơ chế hợp tác
phát triển tiểu vùng như hợp tác các nước lưu vực sông Mê Kông, các tam tứ
giác phát triển của Singapore, Malaysia, Indonesia và Philippines. Tình hình
chính trị chung trong khu vực là tương đối ổn định dù còn tiềm ẩn một số vấn
đề có thể dẫn đến mất ổn định như vấn đề Đài Loan, biển Đông. Sự kiện
khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 đã làm kinh tế Đông Á và Đông Nam
Á suy giảm nghiêm trọng. Tuy nhiên, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần
IX đã đánh giá: “Sau khủng hoảng tài chính – kinh tế, nhiều nước ASEAN và
Đông Á đang khôi phục và phát triển với khả năng cạnh tranh mới” [3]. Như
vậy trong tương lai, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương sẽ có vị trí ngày
càng tăng trên trường quốc tế.
Trong bối cảnh đó và dưới ánh sáng của đường lối đổi mới của Đảng
Cộng sản Việt Nam, các quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam đã có một
bước chuyển biến quan trọng. Từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung gần
như khép kín, Việt Nam đã chuyển dần sang nền kinh tế thị trường tăng
cường quan hệ và giao lưu kinh tế với tất cả các nước thông qua hội nhập
kinh tế khu vực và quốc tế, phù hợp với xu thế chung của thời đại. Điều này
đã có tác động rất lớn đến mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, đặc biệt là
trong lĩnh vực kinh tế- thương mại.

1.2. Quan hệ Việt – Mỹ từ trƣớc đến 1995
Kể từ sau khi chiến tranh Việt Nam – cuộc chiến được coi là dài ngày
nhất trong lịch sử nước Mỹ – kết thúc với thắng lợi thuộc về Việt Nam năm
1975, đế quốc Mỹ đã áp đặt chính sách cấm vận toàn diện đối với Việt Nam.

và bị giam giữ ở Việt Nam. Tuy nhiên phía Việt Nam coi vấn đề MIA của Mỹ
ở Việt Nam là vấn đề nhân đạo, đã hợp tác đầy đủ và giúp đỡ Mỹ giải quyết 9
thì phía Mỹ vẫn còn tồn tại nghi ngờ rằng Việt Nam chưa cung cấp đầy đủ
những thông tin cần thiết.
Từ cuối những năm 80, Mỹ bắt đầu có những nỗ lực nối lại các mối liên
hệ với Việt Nam. Với chủ trương “vượt trên ngăn chặn”, lấy “cam kết tích
cực” làm mũi nhọn và cũng do thiện chí của Việt Nam trong vấn đề
Campuchia, ngày 18/07/1990, Ngoại trưởng Mỹ lúc đó là James Baker đã
đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách của Mỹ đối với Đông
Dương kể từ năm 1979. Tháng 4/1991, Mỹ trao cho phía Việt Nam bản lộ
trình 4 giai đoạn trong đó họ gắn quá trình bãi bỏ lệnh cấm vận, từng bước cải
thiện quan hệ rồi tiến tới bình thường hoá quan hệ với Việt Nam với tiến trình
giải quyết vấn đề Campuchia và vấn đề POW/MIA của Mỹ. Việt Nam chưa
bao giờ chính thức thừa nhận lộ trình này vì nó là một kế hoạch do Mỹ đơn
phương đặt ra. Việt Nam coi vấn đề POW/MIA là vấn đề nhân đạo và hết
lòng hợp tác. Từ năm 1987 đến 1990, Việt Nam đã trao trả hàng trăm bộ hài
cốt lính Mỹ, tạo điều kiện cho phía Mỹ tiếp cận hồ sơ của Việt Nam và đi các
nơi tìm kiếm hài cốt lính Mỹ chết trong chiến tranh. Trước những thiện chí
của Việt Nam đặc biệt là sau khi Việt Nam ký hợp định hoà bình của Liên
Hợp quốc về Campuchia tại Paris, ngày 23/10/1991, Ngoại trưởng Mỹ Baker
đã tuyên bố Washington sẵn sàng tiến hành các biện pháp tiến tới bình thường
hoá quan hệ với Việt Nam. Sau đó Washington đã thực hiện một số bước nới
lỏng lệnh cấm vận chống Việt Nam nhưng vẫn bám vào lộ trình do họ đưa ra.
Mỹ đã huỷ bỏ lệnh hạn chế 25 dặm đối với cán bộ ngoại giao Việt Nam ở
New York và sau đó cho phép cơ quan viện trợ quốc tế Mỹ (USAID) được
viện trợ nhân đạo trực tiếp vào Việt Nam. Năm 1991, Mỹ lần đầu tiên tuyên
bố viện trợ 1 tỷ USD giúp Việt Nam trong lĩnh vực chân tay giả. Cuối năm

giao Hoa Kỳ về các vấn đề Đông Á - Thái Bình Dương. Trong giai đoạn mới
này, thay cho chiến tranh cũng như thay cho cấm vận và trừng phạt là những
nỗ lực mang tính xây dựng nhằm phát triển các mối quan hệ hợp tác nhiều
mặt, cùng có lợi giữa hai nước Việt Nam và Mỹ. 11
Sau khi bình thường hoá, hai nước đã trao đổi nhiều cuộc viếng thăm cấp
cao. Ngoài chuyến đi quan trọng mở đầu của Ngoại trưởng Mỹ Waren
Christoper tháng 8/1995, nhiều phái đoàn cấp cao của Mỹ như đoàn của Bộ
trưởng Thương mại Mỹ, đoàn do cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Anthony Lake
đã sang thăm Việt Nam. Chủ tịch nước Lê Đức Anh cũng đã có cuộc gặp
Tổng thống Bill Clinton bên lề khoá họp nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Liên
Hợp Quốc tại New York tháng 10/1995. Thủ tướng Phan Văn Khải có cuộc
tiếp xúc với Tổng thống Bill Clinton tại Hội nghị cấp cao APEC ở Auckland
(New Zealand) tháng 11/1998. Việt Nam đã đón tiếp Bộ trưởng Ngoại giao
Mỹ Madeleen Albright, Bộ trưởng tài chính Robert Rubin, Cựu Tổng thống
George Bush cùng nhiều quan chức cao cấp khác trong chính phủ Mỹ. Đặc
biệt, Tổng thống Bill Clinton đã sang thăm Việt Nam vào ngày 17-
18/11/2000. Đây là một sự kiện lớn trong quan hệ giữa hai nước. Qua các
chuyến thăm đó, hai bên đã hiểu nhau hơn, từ đó thúc đẩy quá trình giải quyết
những vấn đề còn tồn tại và tìm giải pháp cho sự hợp tác lâu dài. Việt Nam và
Mỹ đã có những bước đi cụ thể tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động kinh
tế, thương mại giữa hai nước như ký các hiệp định về xử lý nợ, Hiệp định về
hoạt động của Tổ chức đầu tư tư nhân hải ngoại (OPIC), hai hiệp định với
Ngân hàng xuất nhập khẩu Mỹ (Eximbank) nhằm khuyến khích các dự án
đầu vào Việt Nam. Ngày 10/3/1998, Việt Nam được hưởng miễn trừ không
phải áp dụng Tu chính án Jackson – Vanik nhưng vẫn giữ quyền hàng năm
xem xét hiệu lực của đạo luật này. Như vậy, Việt Nam sẽ có thể tham gia vào
các chương trình khuyến khích xuất khẩu và hỗ trợ đầu tư của Mỹ, bao gồm

chung của thế giới và với cả lợi ích của các bên.

1.3. Nhu cầu của hai nƣớc đối với thị trƣờng của nhau

1.3.1. Lợi ích đối với Việt Nam

1.3.1.1. Lợi ích kinh tế
13
Sau khi ra khỏi chiến tranh, nền kinh tế Việt Nam bị tàn phá nặng nề và
phụ thuộc nhiều vào buôn bán và sự hỗ trợ kinh tế của Liên Xô và các nước
Đông Âu (sự hỗ trợ này lên tới khoảng 1 tỉ USD/năm). Việt Nam vẫn là một
trong những nước nghèo nhất thế giới, bình quân GDP chưa đầy 200
USD/người, lạm phát cao (năm 90 là 64%, năm 91 là 67%) [33]. Vào đầu
thập kỷ 90, chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ nên viện
trợ nước ngoài giảm mạnh, kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng trầm
trọng. Đại hội VI Đảng cộng sản Việt Nam năm 1986 đã khởi xướng công
cuộc đổi mới nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng nhưng lệnh cấm
vận của Mỹ là một trở ngại lớn đối với việc phát triển kinh tế của Việt Nam.
Với lệnh cấm vận này, khả năng Việt Nam tham gia vào thương mại khu vực
và quốc tế hầu như là không thể, ngoại trừ với khối XHCN. Việt Nam không
nhận được các khoản vay và viện trợ của các tổ chức tài chính quốc tế (do bị
Mỹ ngăn cản) nên đã không có vốn để cải thiện hạ tầng cơ sở yếu kém của
mình. Lệnh cấm vận cũng đã ngăn cản các nước khác thiết lập quan hệ kinh
tế với Việt Nam. Một số công ty và chính phủ một số nước vẫn còn ngại
chính sách cấm vận và trừng phạt của Mỹ nên chưa vào đầu tư kinh doanh
hoặc giúp đỡ Việt Nam. Theo cuộc điều tra 27 công ty hàng đầu của Nhật
Bản cho thấy các công ty này coi cấm vận thương mại của Mỹ là sự ngăn cản

với Việt Nam.

1.3.1.2. Lợi ích chính trị
Nhờ sức mạnh kinh tế, quân sự và khoa học kỹ thuật, Mỹ đóng vai trò
quan trọng và có ảnh hưởng lớn đối với nhiều nước trên thế giới, vì vậy, việc
bình thường hoá quan hệ với Mỹ sẽ giúp Việt Nam dần thoát khỏi thế bị cô
lập, nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, khai
thông các trở ngại trên con đường mở rộng ngoại giao đa phương của mình,
tạo cho Việt Nam một tư thế thuận lợi trong hợp tác nhiều mặt với các nước,
nhất là về kinh tế. Trên thực tế, dù nhiều nước phương Tây đã vượt Mỹ trong 15
cải thiện quan hệ với Việt Nam nhưng do có sự phụ thuộc nhất định hoặc có
quan hệ chặt chẽ với Mỹ nên mức độ quan hệ với Việt Nam của họ cũng phải
dựa vào những động thái của Mỹ. Do đó, khi quan hệ Việt - Mỹ được cải
thiện, Việt Nam sẽ có thể mở rộng quan hệ một cách toàn diện và hiệu quả
hơn với các nước này, tận dụng thế mạnh về kinh tế, khoa học công nghệ của
những nước đó cho công cuộc phát triển kinh tế của mình. Mặt khác, để thực
hiện chính sách hội nhập khu vực và thế giới, bình thường hoá quan hệ với
Mỹ là một yêu cầu có tính tiên quyết đối với Việt Nam vì Mỹ là nước có vai
trò và tiếng nói quan trọng trong các diễn đàn và thể chế quốc tế, Việt Nam
không thể gia nhập các tổ chức như APEC, WTO mà không có sự ủng hộ của
Mỹ. Trong quan hệ với các nước Đông Nam Á cũng vậy, có lẽ chừng nào Mỹ
chưa bỏ cấm vận và bình thường hoá quan hệ với Việt Nam thì chừng đó,
Việt Nam chưa thể gia nhập tổ chức khu vực này được. Việt Nam còn muốn
sử dụng mối quan hệ bình thường với Mỹ để góp phần giữ an ninh và ổn định
ở khu vực biển Đông vì đây là khu vực tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột. Mặc
dù ở đây đang có sự tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc, Việt Nam,
Philippin, Malaixia và Brunei nhưng chỉ có Trung Quốc thường xuyên có

bản Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng bị bao vây cô lập, vị thế của Việt Nam
đã tăng lên trên trường quốc tế. Cấm vận của Mỹ chủ yếu chỉ còn làm cản trở
chính các công ty của Mỹ vào đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Các triển vọng
về thương mại của các công ty Mỹ ở Việt Nam nằm trong các lĩnh vực máy
bay, dầu khí, giao thông và thông tin, ngân hàng, nông nghiệp và bảo hiểm
nhưng họ lại phải khoanh tay đứng nhìn các đối thủ cạnh tranh của mình từ
các nước ASEAN, Nhật Bản và Châu Âu lao vào các hợp đồng đầu tư và
buôn bán đầy lợi nhuận tiềm tàng ở Việt Nam. Thị trường 80 triệu người tiêu
dùng của Việt Nam và các kế hoạch phát triển hạ tầng khổng lồ cũng đã tạo
ra những cơ hội kích thích giới kinh doanh Mỹ nhưng lệnh cấm vận đã làm
cho họ không thể tận dụng được những cơ hội này. Vì vậy, giới kinh doanh
Mỹ đòi hỏi Chính phủ phải có sự thay đổi chính sách. Tất nhiên, thâm hụt 17
buôn bán của Mỹ sẽ không đảo ngược được bởi những cơ hội làm ăn ở Việt
Nam nhưng do sự cạnh tranh thương mại trên toàn cầu ngày càng mạnh mẽ,
cùng với tiềm năng của Việt Nam, đây là một thị trường mà khu vực tư nhân
Mỹ cần được phép nhảy vào.
Trước thực tế đó cùng áp lực ngày càng tăng của nhiều nghị sĩ và
giới kinh doanh Mỹ, ngày 22/3/1993, phát biểu tại Chicago, ngoại trưởng
Mỹ Waren Christopher đã thừa nhận rằng ông muốn Mỹ nhanh chóng tiến
tới bình thường hoá các quan hệ với Việt Nam vì "các lợi ích to lớn về
kinh tế và thương mại". Chính những lợi ích của bản thân nước Mỹ đã
buộc Mỹ phải „„dính líu chặt chẽ hơn với Việt Nam‟‟[34]. 1.3.2.2. Lợi ích chính trị
Chính sách của Mỹ từ năm 1946 được hoạch định xuất phát từ mục tiêu
của chiến tranh lạnh là ngăn chặn Đông Dương và toàn bộ Đông Nam Á khỏi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status