Kỹ năng giao tiếp sư phạm trong giờ lên lớp của giáo sinh khi thực tập giảng dạy tại trường trung học cơ sở - Pdf 25



MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………
1. Lý do chọn đề tài………………………………………………………
2.Đối tượng và khách thể nghiên cứu…………………………………
2.1 Đối tượng nghiên cứu: ……………………………………………………
2.2 Khách thể nghiên cứu……………………………………………………………
3. Giới hạn nghiên cứu……………………………………………………………….
4. Mục đích nghiên cứu……………………………………………………………….
5. Nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………………………………….
6. Giả thuyết nghiên cứu………………………………………………………
7. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………………
8. Cấu trúc luận văn……………………………………………………………………
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI……………………………
1.1.Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề………………………………………
1.1.1. Một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài về vấn đề giao tiếp và kỹ năng
giao tiếp sư phạm…………………………………………………………
1.1.2. Một số công trình nghiên cứu ở trong nước về vấn đề giao tiếp và kỹ năng giao
tiếp sư phạm………………………………………………………….
1.2. Một số vấn đề lý luận về giao tiếp và giao tiếp sư phạm…………………
1.2.1. Khái niệm giao tiếp trong tâm lý học …………………………………….
1.2.2. Một số đặc điểm cơ bản của giao tiếp giữa người với người……….…….
1.2.3. Giao tiếp người – người trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định là điều kiện
không thể thiếu để hình thành và phát triển nhân cách……………….
1.2.4. Khái niệm giao tiếp sư phạm……………………………………………
1.3.Một số vấn đề lý luận về kỹ năng giao tiếp sư phạm……………………….
1.3.1. Khái niệm kỹ năng trong tâm lý học……………………………………
1.3.2. Khái niệm kỹ năng giao tiếp……………………………………………
1.4. Một số vấn đề lý luận về kỹ năng giao tiếp sư phạm trong giờ lên lớp của giáo
sinh khi thực tập giảng dạy ở trường trung học cơ sở……………………


1.4.1. Khái niệm giáo sinh trong trường sư phạm………………………………
1.4.2. Khái niệm kỹ năng giao tiếp sư phạm trong giờ lên lớp của giáo sinh khi thực
tập giảng dạy ở trường Trung học cơ sở………………………………………………
1.4.3. Một số kỹ năng giao tiếp sư phạm trong giờ lên lớp cơ bản của giáo sinh khi
thực tập giảng dạy ở trường Trung học cơ sở…………………………………………
1.4.4. Kỹ năng giao tiếp sư phạm trong giờ lên lớp của giáo sinh khi thực tập giảng
dạy chủ yếu được hình thành và phát triển thông qua rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
trong quá trình đào tạo ở trường sư phạm…………………………………………….
1.5. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp sư phạm trong giờ lên lớp khi
thực tập giảng dạy của giáo sinh ở trường THCS…………….………………………
1.5.1.Yếu tố khách quan………………………………………………………
1.5.2. Yếu tố chủ quan………………………………………………………………
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……………
2.1. Tổ chức nghiên cứu………………………………………………………………
2.2. Các phương pháp nghiên cứu……………………………………………………
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu và văn bản…………………………………
2.2.2. Phương pháp quan sát………………………………………………………….
2.2.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi…………………………………………
2.2.4. Phương pháp phỏng vấn sâu……………………………………………………
2.2.5. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học…………………………….
2.3. Xây dựng thang đánh giá…………………………………………………
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN ……………………. ………
3.1. Nhận thức của giáo sinh trường CĐSPNA về KNGTSP trong giờ lên lớp
3.2. Thực trạng về mức độ vận dụng thường xuyên và thành thạo những tri thức về
phương thức thực hiện sự tác động qua lại giữa giáo sinh và HSTHCS trong giờ lên
lớp của giáo sinh
3.2.1. Mức độ vận dụng thường xuyên và thành thạo các tri thức về phương thức
thực hiện sự tác động qua lại giữa giáo sinh và HSTHCS để hình thành kỹ năng tạo
ấn tượng ban đầu trước khi diễn ra bài giảng trên lớp của giáo sinh ………


3.2.2 Mức độ vận dụng thường xuyên và thành thạo các tri thức về phương thức thực
hiện sự tác động qua lại giữa giáo sinh và HSTHCS để hình thành kỹ năng lắng nghe
tích cực đối tượng giao tiếp trong giờ lên lớp của giáo sinh ………………………
3.2.3. Mức độ vận dụng thường xuyên và thành thạo các tri thức về phương thức
thực hiện sự tác động qua lại giữa giáo sinh và HSTHCS để hình thành kỹ năng tự
chủ cảm xúc, hành vi, trong giờ lên lớp của giáo sinh
3.2.4. Mức độ vận dụng thường xuyên và thành thạo các tri thức về phương thức
thực hiện sự tác động qua lại giữa giáo sinh và HSTHCS để hình thành kỹ năng sử
dụng phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong giờ lên lớp của giáo sinh
3.2.5. Mức độ vận dụng thường xuyên và thành thạo các tri thức về phương thức
thực hiện sự tác động qua lại giữa giáo sinh và HSTHCS để hình thành kỹ năng đặt
câu hỏi dẫn dắt học sinh thảo luận trong giờ lên lớp của giáo sinh
3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp sư phạm trong giờ lên lớp của
giáo sinh trường CĐSPNA
3.3.1.Yếu tố RLNVSPTX
3.3.2. Yếu tố động cơ nghề dạy học………………………………………………….
3.3.3. Ý thức tự khẳng định mình trước đồng nghiệp và trước học sinh trường THCS
của giáo sinh
3.3.4. Yếu tố KNGTSP trong giờ lên lớp của giáo viên trường THCS đang trực tiếp
hướng dẫn thực tập
3.3.5. Yếu tố KNGTSP trong giờ giảng dạy trên lớp của giảng viên trường Cao đẳng
Sư phạm Nghệ An
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ………………………………………………………
69
ĐLC Độ lệch chuẩn
ĐTB Điểm trung bình
GS Giáo sinh
GV Giáo viên
GVTHCS Giáo viên Trung học cơ sở
HS Học sinh
HSTHCS Học sinh Trung học cơ sở
KNGTSP Kĩ năng giao tiếp sư phạm
RLNVSP Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
RLNVSPTX Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên
RLNVSPTT Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm tập trung
SL Số lượng
THCS Trung học cơ sở
TN Tự nhiên
TNTP Thiếu niên tiền phong
TNCS Thanh niên cộng sản
XH Xã hội DANH MỤC CÁC BẢNG , BIỂU ĐỒ
DANH MỤC BẢNG

62 64 66 70 72 76 78 82 Bảng 3.10: Mức độ vận dụng thành thạo các tri thức về phương thức thực hiện sự tác
động qua lại giữa giáo sinh và HSTHCS để hình thành kỹ năng sử dụng phương tiện
ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong giờ lên lớp của giáo sinh……………………………
Bảng 3.11: Mức độ vận dụng thường xuyên các tri thức về phương thức thực hiện sự
tác động qua lại giữa giáo sinh và HSTHCS để hình thành kỹ năng đặt câu hỏi dẫn
dắt học sinh thảo luận trong giờ lên lớp của giáo sinh ………………………………


91

96
99
67 73 79 85 92
giao tiếp sư phạm trong giờ lên lớp khi thực tập giảng dạy của họ …………………

97
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhân cách con người hình thành, phát triển, tồn tại và thể hiện trong hoạt động

với HS. Chẳng hạn, ở Hà Tĩnh có trường hợp GV bắt HS liếm ghế vì HS đó đã
phạm lỗi viết lên ghế ngồi của GV. Ở Nghệ An có GV xử phạt HS bằng cách cho
lớp trưởng dùng roi đánh 100 cái vào mông những HS bị phạt dẫn đến hậu quả các
em phải vào trạm y tế với những vết tím bầm trên cơ thể. Ở thành phố Hồ Chí Minh
một thầy giáo đã dùng roi quất 90 roi vào 5 em HS lớp 8 do các em làm thiếu bài
tập toán, v.v…
Vì vậy, việc đào tạo KNGTSP cho giáo sinh là vô cùng cần thiết để góp phần
nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên trong tương lai. Tiếc rằng do trình độ và
thời gian nghiên cứu đều còn hạn hẹp nên chúng tôi không thể tiến hành nghiên cứu
vấn đề này một cách toàn diện, chỉ có thể tập trung nghiên cứu: “Kỹ năng giao tiếp
sư phạm trong giờ lên lớp của giáo sinh khi thực tập giảng dạy tại trường THCS”.
2. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Mức độ kỹ năng giao tiếp sư phạm trong giờ lên lớp
khi thực tập giảng dạy của giáo sinh.
2.2. Khách thể nghiên cứu
- Giáo sinh năm thứ ba tại các khoa Xã hội và khoa Tự nhiên: 204 người
- Các giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An: 120 người
- Các giáo viên THCS trực tiếp hướng dẫn giáo sinh thực tập giảng dạy tại
trường của mình: 102 người
- Học sinh THCS là lớp trưởng và lớp phó phụ trách học tập tại các lớp có giáo
sinh thực tập giảng dạy: 104 người
Tổng cộng số lượng khách thể là 530 người.
3. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Chúng tôi chỉ nghiên cứu KNGTSP trong giờ lên lớp của giáo sinh khoa Tự
nhiên và khoa Xã hội trường CĐSPNA khi thực tập giảng dạy ở trường THCS.
4. Mục đích nghiên cứu
Chỉ ra thực trạng mức độ kỹ năng giao tiếp sư phạm trong giờ lên lớp của giáo
sinh trường CĐSPNA khi thực tập giảng dạy ở trường THCS (cao, trung bình hay

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài; chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu;
chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn) và phần kết luận, kiến nghị.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay việc nghiên cứu vấn đề giao tiếp và KNGTSP đã được đề cập
đến trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước
thuộc các lĩnh vực như: tâm lý học, xã hội học, giáo dục học, sư phạm học…
1.1.1. Một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài về vấn đề giao tiếp và kĩ
năng giao tiếp sư phạm
Ngay từ thời cổ đại hai nhà triết học Xôcrat và Platon đã nhấn mạnh tầm quan
trọng của giao tiếp trong đời sống con người. Theo hai ông đối thoại được coi là
một sự giao tiếp có trí tuệ phản ánh mối quan hệ xã hội của con người, là nơi bộc lộ
đời sống tâm hồn của con người.
Sang thế kỷ XIX, giao tiếp đã được đánh giá như một vấn đề quan trọng đặc biệt
trong sự hình thành, phát triển về mặt xã hội của con người. Mác và Ăng ghen đã
đề cập đến giao tiếp với tư cách là một trong những phạm trù quan trọng nhất của
chủ nghĩa duy vật lịch sử. Lần đầu tiên, phạm trù này xuất hiện trong các bản thảo
kinh tế - triết học của Mác vào năm 1844 và trong tác phẩm “tình hình giai cấp công
nhân ở Anh” của Ănghen. Ở đây giao tiếp được hiểu như “một quá trình thống nhất,
hợp tác, tác động qua lại giữa người và người”, trích theo [29, tr. 366].
Trong tác phẩm “Những vấn đề lý luận và phương pháp luận tâm lý học”, tác
giả B.Ph.Lomov đã bàn đến khá nhiều về vấn đề giao tiếp. Ông đã chỉ rõ giao tiếp
tầm quan trọng của các kỹ năng giao tiếp trên trong việc thiết lập các mối quan hệ
của con người.
Owen Hargie đã đánh giá toàn vẹn các kỹ năng giao tiếp giữa các cá nhân và
trình bày những quan điểm lý thuyết quan trọng nhất trong cuốn Skilled
Interpersonal Communication: Research, Theory and Practice [54].
Geoffrey Beattie đã nghiên cứu về vấn đề giao tiếp không lời trong cuốn Visible
thought: The New Psychology of Body Language [50].
Mathew Mckay, Ph.D.Martha Davis, Ph.D.Patrick Fanning trong nghiên cứu
của mình các tác giả đã cho rằng kỹ năng giao tiếp được phát triển từ từ với sự nỗ
lực thực hành và học tập để hiểu người khác và truyền đạt ý tưởng của bản thân.
Các ông đã đề cập đến các kỹ năng giao tiếp: nghe tích cực, đọc ngôn ngữ cơ thể,
phát triển kỹ năng giải quyết xung đột, nói chuyện với trẻ em, giao tiếp với các
thành viên gia đình, nói trước công chúng, xử lí các tương tác nhóm, được phỏng
vấn cho công việc và đươc người phỏng vấn [57].
Tác giả V.A.Cruchetxki, trong tác phẩm “Những cơ sở của tâm lý học sư phạm -
tập 2” đã đề cập đến giao tiếp sư phạm là một trong những năng lực mà giáo viên
phải có. Theo ông năng lực giao tiếp là những năng lực tiếp xúc với trẻ em, kĩ năng
tìm được cách đối xử đúng đắn đối với học sinh, thiết lập được với trẻ em những
mối liên hệ qua lại hợp lý theo quan điểm sư phạm, biết cách đối xử khéo léo về
mặt sư phạm [8, tr.234].
Tác giả V.P.Dakharov trong quá trình nghiên cứu giao tiếp sư phạm, đã chỉ ra
rằng để có kỹ năng giao tiếp cần có các kỹ năng sau: Kỹ năng thiết lập mối quan hệ
trong giao tiếp, kỹ năng biết cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng giao tiếp,
kỹ năng nghe và biết lắng nghe, kỹ năng tự chủ cảm xúc và hành vi, kỹ năng tự
kiềm chế và kiểm tra đối tượng giao tiếp, kỹ năng diễn đạt dễ hiểu, ngắn gọn, mạch
lạc, kỹ năng linh hoạt, mềm dẻo trong giao tiếp, kỹ năng thuyết phục trong giao
tiếp, kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp. Ông đã xây dựng trắc nghiệm thăm dò
những kỹ năng giao tiếp nhằm phát hiện những khả năng tiềm tàng về giao tiếp của
mỗi người. Trong phần rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm, mỗi sinh viên sẽ được



Tác giả Trịnh Trúc Lâm và Nguyễn Văn Hộ trong cuốn “Ứng xử sư phạm” đã
chỉ ra rằng, để đảm bảo cho hoạt động giáo dục của người GV có hiệu quả thì người
GV phải có nhiều kỹ năng, trong đó KNGTSP là quan trọng nhất. KNGTSP giúp
GV biết cách giao tiếp với đối tượng giáo dục của mình và những lực lượng xã hội
có liên quan đến quá trình giáo dục [27, tr.34].
Tác giả Hoàng Anh: “Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên”, (luận án TS
tâm lý) đã nêu ra ba nhóm kỹ năng giao tiếp sư phạm bao gồm: Nhóm kỹ năng định
hướng giao tiếp, nhóm kỹ năng điều khiển bản thân, nhóm kỹ năng điều chỉnh đối
phương [3, tr.38].
Nguyễn Thanh Bình “Những khó khăn tâm lý trong giao tiếp sư phạm” (1997),
(luận án PTS tâm lý học) đã đưa ra thực trạng một số trở ngại tâm lý trong giao tiếp
sư phạm của sinh viên với HS phổ thông trung học khi đi thực tập.
Từ những công trình trên có thể thấy rằng vấn đề giao tiếp và KNGTSP đã được
nhiều tác giả trong nước và nước ngoài nghiên cứu, bàn luận đến. Tuy nhiên
nghiên cứu sâu vấn đề KNGTSP trong trong giờ lên lớp của giáo sinh khi thực tập
giảng dạy như một vấn đề độc lập thì chúng tôi chưa thấy có công trình nào nghiên
cứu. Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Kỹ năng giao tiếp sư phạm
trong giờ lên lớp của giáo sinh khi thực tập giảng dạy tại trường THCS” (nghiên
cứu điểm tại trường CĐSPNA) nhằm góp phần nâng cao, bồi dưỡng kỹ năng này
cho giáo sinh ngay trong quá trình đào tạo ở trường.
1.2. Một số vấn đề lý luận về giao tiếp và giao tiếp sư phạm
1.2.1 Khái niệm giao tiếp trong tâm lý học
Giao tiếp là một phạm trù nền tảng của khoa học tâm lý, chiếm một vị trí rất
quan trọng trong toàn bộ các vấn đề của tâm lý học. Giao tiếp đóng vai trò quan
trọng trong việc hình thành và biểu hiện tâm lý người. Giao tiếp không chỉ là đối
tượng nghiên cứu của tâm lý học mà nó còn được nhiều ngành khoa học xã hội
nghiên cứu.
Trong cuốn bản thảo kinh tế - triết học của Mác vào năm 1844 và trong tác
phẩm “Tình hình giai cấp công nhân ở Anh ” của Ănghen, giao tiếp được hiểu như
Tác giả Trần Thị Minh Đức, trong cuốn “Giáo trình Tâm lý học xã hội” đã định
nghĩa giao tiếp là sự trao đổi thông tin giữa người với người thông qua ngôn ngữ,
cử chỉ, tư thế, trang phục .v.v…[10, tr.140].
Trong cuốn “Giao tiếp sư phạm”, tác giả Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh đã định
nghĩa giao tiếp là hình thức đặc trưng cho mối quan hệ giữa con người với con
người mà qua đó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lí và được biểu hiện ở các quá trình trao
đổi thông tin, nhận biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau [22,
tr.6].
Theo Nguyễn Quang Uẩn, trong cuốn “Tâm lý học đại cương”, giao tiếp là sự
tiếp xúc tâm lý giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về
thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau. Hay
nói khác đi giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người - người, hiện thực hóa
các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác [46, tr.49].
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về giao tiếp. Mỗi định nghĩa đều
được dựa trên một quan điểm riêng và có hạt nhân hợp lý của nó. Tuy nhiên các
định nghĩa đều nêu ra những dấu hiệu cơ bản của giao tiếp đó là:
- Giao tiếp là một hiện tượng tâm lý đặc thù của con người, nghĩa là chỉ riêng
con người mới có sự giao tiếp thật sự khi họ biết sử dụng phương tiện ngôn ngữ
(nói, viết, hình ảnh nghệ thuật…) và được thực hiện chỉ trong xã hội loài người.
- Giao tiếp diễn ra giữa chủ thể này và chủ thể khác (chủ thể - chủ thể) với
những đặc điểm tâm lý, sinh lý, xã hội…tham gia vào quá trình giao tiếp. Tất cả các
đặc điểm của chủ thể giao tiếp đều ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp.
- Mục đích của quá trình giao tiếp là nhằm để thỏa mãn nhu cầu nào đó - nhu
cầu trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc và tri giác lẫn nhau…
- Phương tiện giao tiếp là ngôn ngữ và hệ thống phi ngôn ngữ.
Trên cơ sở tìm hiểu các định nghĩa của nhiều tác giả khác nhau, chúng tôi hiểu:
Giao tiếp là sự tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau giữa người và người, thông
qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau

hội tạo ra, các quan hệ chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội. Con người luôn luôn sống và làm việc trong các nhóm, các cộng đồng xã hội
nhất định (bản chất xã hội của con người). Chính đời sống xã hội, chính sự lao động
phối hợp cùng nhau đó đã dẫn đến sự tất yếu phải thường xuyên có sự giao lưu, sự
thiết lập những mối quan hệ với nhau, sự tác động lẫn nhau của con người. Giao
tiếp của con người được điều chỉnh bởi các yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá
và phụ thuộc vào tập quán của từng địa phương, từng dân tộc theo các chuẩn mực
đạo đức. Bởi vì con người vừa là thành viên tích cực của các quan hệ xã hội với tư
cách tự tạo lập nên các quan hệ xã hội như chính trị, kinh tế, văn hoá vừa phải
hoạt động tích cực cho sự tồn tại, phát triển của các mối quan hệ xã hội và đồng thời
vừa chịu sự chi phối, tác động của chính các mối quan hệ xã hội đó.
1.2.3. Giao tiếp giữa người và người trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất
định là điều kiện không thể thiếu để hình thành và phát triển nhân cách
Nhân cách chỉ có thể hình thành, phát triển, tồn tại trong sự giao tiếp với những
nhân cách khác. Bởi vì, cơ chế chủ yếu của sự phát triển tâm lí, nhân cách con
người là cơ chế lĩnh hội nền văn hoá xã hội. Chỉ có qua giao tiếp thì cá nhân mới có
thể lĩnh hội được các chuẩn mực đạo đức và hệ thống giá trị của xã hội, đồng thời
cũng qua giao tiếp mà mỗi cá nhân được đánh giá, được nhìn nhận theo quan điểm
của xã hội. Giao tiếp giữa con người và con người được diễn ra trong các hoat động
thực tiễn khác nhau (vui chơi, học tập, giải trí, lao động nghề nghiệp ) của con
người. Cuộc sống của con người là dòng chảy các hoạt động. Ở mỗi giai đoạn phát
triển của đời mỗi người có nhiều hoạt động khác nhau, trong đó có hoạt động được
coi là hoạt động chủ đạo- hoạt động chi phối, quyết định tới việc tạo ra những nét
mới trong tâm lý của chủ thể hoạt động. Đối với độ tuổi trưởng thành hoạt động
nghề nghiệp (lao động) là hoạt động chủ đạo chi phối đến sự hình thành phát triển
tâm lý, nhân cách của con người. Vì vậy có thể nói giao tiếp giữa con người và con
người trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định là điều kiện không thể thiếu để
hình thành và phát triển nhân cách. Trong nghiên cứu này của mình, chúng tôi quan

Nghị quan niệm giao tiếp sư phạm là những nguyên tắc, những biện pháp và kỹ xảo
tác động lẫn nhau giữa nhà giáo dục với tập thể sinh viên mà nội dung của nó là trao
đổi thông tin, chỉ ra các tác động giáo dục- học tập, tổ chức mối quan hệ lẫn nhau và cũng là sự “truyền lại nhân cách” nhà giáo dục cho người học. Quá trình đó diễn
ra nhờ vào việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ [41, tr.150].
Tóm lại, các tác giả đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về giao tiếp sư phạm
nhưng tất cả đều có điểm chung là khẳng định giao tiếp sư phạm đó là quá trình tiếp
xúc trao đổi thông tin, cảm xúc giữa những người có quan hệ hợp tác trong công tác
giáo dục học sinh nhằm đạt mục tiêu giáo dục.
Tiếp thu có chọn lọc những quan điểm khác nhau này trên cơ sở lí luận về giao
tiếp vừa trình bày trên chúng tôi hiểu: Giao tiếp sư phạm là quá trình tác động qua
lại, ảnh hưởng lẫn nhau giữa nhà giáo dục và người được giáo dục (đối tượng
giáo dục), giữa các nhà giáo dục với nhau (có mối quan hệ hợp tác trong hoạt
động giáo dục) qua đó tri giác lẫn nhau, trao đổi thông tin, tình cảm, ý nghĩ…
nhằm thực hiện tốt, có hiệu quả mục tiêu giáo dục là phát triển toàn diện nhân
cách cho người được giáo dục.
1.2.4.2. Một số đặc điểm của giao tiếp sư phạm
- Các chủ thể trong giao tiếp sư phạm.
Trong hoạt động giáo dục, để đạt được mục tiêu đề ra, ta thấy nổi lên các hình
thức giao tiếp sư phạm sau: giao tiếp giữa GV và HS; giữa GV và GV; giữa GV,
HS với những người khác có quan hệ hợp tác trong hoạt động giáo dục (là những
thành viên trong gia đình, xã hội); giữa HS với HS. Tất cả những nhân vật nói tới
trong các hình thức giao tiếp sư phạm vừa nói ở trên đều là chủ thể trong giao tiếp
sư phạm, đều có mục tiêu chung là phấn đấu vì sự phát triển toàn diện nhân cách tốt
đẹp của HS. Trong phạm vi nội dung nghiên cứu đã được giới hạn, trong đề tài của
mình, chúng tôi chủ yếu quan tâm nghiên cứu KNGTSP của giáo sinh trong giờ
thực tập giảng dạy trên lớp tại trường THCS.
- Học sinh, sinh viên vừa là chủ thể vừa là đối tượng trong giao tiếp sư phạm.

- Giao tiếp sư phạm diễn ra trong và ngoài giờ lên lớp
Giao tiếp sư phạm giữa GV và HS có thể diễn ra trong giờ lên lớp hoặc ngoài
giờ lên lớp. Giao tiếp sư phạm giữa GV và HS trong giờ lên lớp có chức năng chủ
yếu là dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn, điều khiển, điều chỉnh của GV, HS tích cực, chủ
động chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ mà loài người đã phát hiện ra. Đây là một trong những hình thức giao tiếp cơ bản nhất, quan trọng nhất giữa GV
và HS nhằm tạo dựng cơ sở cho sự phát triển nhân cách của cả trò lẫn thầy. Giao
tiếp sư phạm giữa GV và HS ngoài giờ lên lớp có chức năng chủ yếu nhằm mở
rộng, khắc sâu, vận dụng những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ HS đã tiếp thu
được trong giờ lên lớp thông qua việc tổ chức các hoạt động phong phú và đa dạng
khác nhau nhằm biến chúng (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ HS đã tiếp thu
được trong giờ lên lớp) thành tài sản riêng, thành nhân cách của các em. Để hoạt
động giáo dục đạt được chất lượng và hiệu quả cao, hai hình thức giao tiếp sư phạm
giữa GV và HS vừa nói tới ở trên, phải được phối hợp tổ chức một cách nhịp nhàng
với các hình thức giao tiếp sư phạm khác giữa GV, HS với các chủ thể khác có liên
quan đến việc thực hiện mục tiêu giáo dục.
1.3. Một số vấn đề lý luận về kỹ năng giao tiếp
1.3.1. Khái niệm kỹ năng trong tâm lý học
1.3.1.1. Định nghĩa kỹ năng
Có nhiều tác giả nước ngoài và tác giả trong nước đã nghiên cứu và đưa ra
những quan điểm khác nhau về “kỹ năng”. Hiện nay có hai loại quan niệm về kỹ
năng:
- Hướng quan niệm kỹ năng như mặt biểu hiện của năng lực:
Theo tài liệu trên trang web http://dethanhcong.com kỹ năng là năng lực hay
khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử
dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống [44].
A.V.Petropxki quan niệm “Kỹ năng là năng lực sử dụng các tri thức hay khái
niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của

Các tác giả Phạm Tất Dong, Nguyễn Hải Khoát, Nguyễn Quang Uẩn cho rằng:
Kỹ năng là một hệ thống các hành động thể lực và trí tuệ, các biện pháp và cách
thức mà nhờ đó, một dạng hoạt động nào đó được thực hiện và đạt tới mục đích đề
ra [9].
Tóm lại, các tác giả xem xét kỹ năng dù theo quan điểm nào cũng đều đề cập
đến vấn đề khả năng vận dụng tri thức đã biết thông qua rèn luyện để giải quyết có
hiệu quả một hành động nào đó theo mục đích đã đề ra. Từ những tìm hiểu về các khái niệm kỹ năng của nhiều tác giả như đã trình bày
trên, chúng tôi cho rằng: Kỹ năng là khả năng vận dụng có kết quả những tri thức
về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội thông qua rèn luyện để thực
hiện những nhiệm vụ tương ứng đã đặt ra từ trước.
1.3.1.2. Các mức độ của kỹ năng
Theo quan niệm của Bloom mà tác giả Nguyễn Thiện Thắng đã mô tả lại thì kỹ
năng có 4 mức độ [43, tr.14].
- Bắt chước: Quan sát và lặp lại hành động (lặp lại mẫu).
- Thao tác: Ở mức độ cao hơn, chủ thể thực hiện hành động theo sự hướng dẫn
bằng lời chứ không còn bằng hành động mẫu nữa.
- Hành động chuẩn xác: Mức độ thực hiện đúng, chuẩn xác hành động, thao tác
mà không cần quan sát mẫu hoặc nghe người khác chỉ dẫn, tất nhiên đòi hỏi sự nỗ
lực cố gắng cao của chủ thể hành động.
- Hành động tự nhiên: Mức độ thuần thục, thành thạo của hành động, thao tác
mà không cần sự cố gắng nhiều về thể lực cũng như trí lực.
Theo quan niệm của K.K.Platonov và G.G.Golubev mà tác giả Trần Quốc
Thành (1992) có đề cập trong bản tóm tắt luận án tiến sỹ “Kỹ năng tổ chức trò chơi
của Liên đội trưởng liên đội Thiếu niên Tiền phong Hồ chí Minh” thì kỹ năng giải
quyết tình huống sư phạm có 5 mức độ:
- Kỹ năng sơ đẳng: Con người ý thức được mục đích hành động và tìm cách
thực hiện hành động dựa trên vốn hiểu biết và kỹ xảo sinh hoạt đời thường, hành

thành 5 giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: Người sinh viên phải được giới thiệu cho biết hành động sẽ được
thực hiện như thế nào?
Giai đoạn 2: Diễn đạt các quy tắc lĩnh hội hoặc tái hiện lại những hiểu biết mà
dựa vào đó các kỹ năng, kỹ xảo được tạo ra.
Giai đoạn 3: Trình bày mẫu hành động,
Giai đoạn 4: Người sinh viên tiếp thu hành động một cách thực tiễn, nghĩa là
người sinh viên bắt đầu vận dụng các quy tắc một cách có ý thức.

Trích đoạn Phương pháp phỏng vấn sâu Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học Xây dựng thang đánh giá Mức độ vận dụng thường xuyên và thành thạo các tri thức về phương thức Trường Cao đẳng Sư phạm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status