Tính sáng tạo của sinh viên trường Đại học Hà Nội - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VƢƠNG THỊ THU HẰNG
TÍNH SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC Hà Nội - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được công bố trong bất kỳ công trình nào của các tác giả khác.

Hà Nội, tháng 10/2013
Tác giả luận văn
Vƣơng Thị Thu Hằng

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS
Phạm Thành Nghị, người đã trực tiếp hướng dẫn và nhiệt tình giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa, giáo viên và sinh
viên Khoa Tiếng Anh – Trường Đại học Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới sự giúp đỡ của toàn thể các Thày, Cô
trong và ngoài Khoa Tâm lý học, Trường ĐHKHXH&NV- ĐHQG Hà Nội
đã dạy dỗ, hướng dẫn tôi từng bước hoàn thành chương trình học tập.
Tôi xin cảm ơn bạn bè lớp đại học K46, lớp cao học K12, cùng gia
đình đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian hoàn thiện luận văn.
Do trình độ nghiên cứu còn hạn chế, luận văn này không thể tránh
được sai sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các Thày, Cô và các bạn
học viên khác.

1.2.1. Khái niệm sáng tạo 22
1.2.2. Khái niệm tính sáng tạo 26
1.3. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến tính sáng tạo 33
Tiểu kết chƣơng 1 36
Chƣơng 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1. Tổ chức nghiên cứu 37
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 37
2.2.1. Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu 37
2.2.2. Phƣơng pháp chuyên gia 38
2.2.3. Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi. 39
2.2.4. Phƣơng pháp trắc nghiệm 39
2.2.5. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu 42 2
2.2.6. Phƣơng pháp thống kê toán học 42
Tiểu kết chƣơng 2 43
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TÍNH SÁNG TẠO CỦA SINH
VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI 44
3.1. Thành tố thứ nhất: Kỹ năng lĩnh vực phù hợp 45
3.2.Thành tố thứ hai: Kỹ năng sáng tạo phù hợp 49
3.3. Động cơ nội sinh 54
3.4. Kết quả tính sáng tạo đo bằng Trắc nghiệm TST. 65
3.5. Các yếu tố ảnh hƣởng đến tính sáng tạo của sinh viên. 72
Tiểu kết chƣơng 3 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
KẾT LUẬN 78
KIẾN NGHỊ 79
1. Đối với nhà trƣờng 80
2. Đối với giảng viên 80

Biểu đồ 3.8: Môi trƣờng tin tƣởng, khuyến khích tính sáng tạo 76
Sơ đồ 3.1:Quan hệ nội tại giữa các yếu tố cấu thành tính sáng tạo 61 4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tính sáng tạo là thuộc tính của nhân cách, đƣợc hình thành và phát triển
trong quá trình học tập và lao động của con ngƣời. Trong cuốn The World is
Flat (2006), tác giả của tờ báo nổi tiếng New York Times, Thomas Friedman
phát biểu rằng các quốc gia nhƣ Mỹ từ lâu xem tính sáng tạo nhƣ điều gì đó
đƣơng nhiên phải có – bởi lẽ nó đã ăn quá sâu vào tiềm thức. Nhiều quốc gia
khác, tuy thế, vẫn đang tìm kiếm một cách có hệ thống các phƣơng pháp
nhằm xây dựng và khai thác tính sáng tạo – trong trƣờng học, nghệ thuật, hay
là kinh doanh.
Sáng tạo có thể coi là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong đời
sống con ngƣời, nó đƣợc coi là một dạng hoạt động đặc biệt và là biểu hiện
cao nhất của đời sống tâm hồn. Hoạt động sáng tạo còn tạo ra những trạng
thái tâm lý đặc biệt có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển
nhân cách con ngƣời. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về sáng tạo và tính sáng
tạo của con ngƣời ngày càng trở nên quan trọng.
Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của sáng tạo, trong xu thế chung của sự
phát triển, rất nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đã và đang
tăng cƣờng đào tạo nguồn nhân lực giàu tính sáng tạo, tạo ra những ƣu thế
cạnh tranh về nguồn lực con ngƣời, phục vụ cho sự phát triển của đất nƣớc.
Để phát huy đƣợc nguồn nhân lực giàu sáng tạo, Đảng và nhà nƣớc ta đã tập
trung đầu tƣ cho chính sách giáo dục phát huy tính sáng tạo của con ngƣời.

+ Sinh viên năm thứ hai: 46 sinh viên
+ Sinh viên năm thứ ba: 41 sinh viên
+ Sinh viên năm thứ tƣ: 21 sinh viên
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài nhƣ sáng
tạo, tính sáng tạo để xây dựng cơ sở lý luận định hƣớng cho việc nghiên cứu
thực tiễn. 6
- Khảo sát thực trạng tính sáng tạo của sinh viên khoa tiếng Anh
Trƣờng đại học Hà Nội.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao tính sáng tạo cho sinh viên
Trƣờng đại học Hà Nội.
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu
tiềm năng sáng tạo nói chung của sinh viên trong môi trƣờng học tập thông
qua việc đánh giá ba thành tố của tính sáng tạo: Kỹ năng lĩnh vực phù hợp, kỹ
năng sáng tạo phù hợp và động cơ nội sinh.
Giới hạn về khách thể nghiên cứu: Với quy mô đề tài luận văn Thạc
sỹ, đề tài nghiên cứu tính sáng tạo của sinh viên Trƣờng Đại học Hà Nội đƣợc
thực hiện trên 150 sinh viên khoa tiếng Anh của cả bốn khóa; phỏng vấn và
trao đổi với 10 giảng viên trong khoa Tiếng Anh.
6. Giả thuyết khoa học
Tính sáng tạo của sinh viên Trƣờng Đại học Hà Nội có thể xem xét
trên ba cấu thành theo lý thuyết thành tố của Amabile: Kỹ năng lĩnh vực phù
hợp, kỹ năng sáng tạo phù hợp và động cơ nội sinh. Trong ba thành tố cấu
thành tính sáng tạo của sinh viên thì yếu tố động cơ nội sinh đóng vai trò thúc
đẩy mạnh nhất, tiếp đến là kỹ năng sáng tạo phù hợp và kỹ năng lĩnh vực phù
hợp. Nếu quá trình dạy học tác động phù hợp tới những yếu tố này sẽ tăng

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu
Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu
Trong luận văn có 12 bảng, 08 biểu đồ và 01 sơ đồ. 8
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu về sáng tạo trên thế giới
Hiện nay, nghiên cứu về khả năng sáng tạo của con ngƣời đang ngày
càng đƣợc các học giả quan tâm trên nhiều lĩnh vực không chỉ đƣợc nghiên
cứu trong ngành Tâm lý học mà nó còn đƣợc nghiên cứu trong nhiều ngành
khoa học khác nữa. Quan điểm của các nhà khoa học trƣớc đây thƣờng gắn
sáng tạo với thiên tài, tài năng trong trong các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật.
Vì vậy, họ chỉ tập trung mô tả, giải thích mà không đi sâu vào nghiên cứu bản
chất và quy luật của hoạt động sáng tạo. Cũng từ quan điểm đó mà trƣớc đây
nguồn duy nhất để nghiên cứu vấn đề sáng tạo là các tiểu sử, hồi ký, các tác
phẩm văn học, nghệ thuật của các danh nhân, nghệ sĩ, nhà văn, nhà phát minh
nhƣ: Leonadovanhxi, Vangogh, Moza, Newton Quan điểm này đã làm hẹp
đi phạm vi nghiên cứu của các nhà khoa học, làm hạn chế khả năng thu thập
số liệu nghiên cứu bởi vì chỉ mô tả. Trong khi đó, chúng ta đều biết khả năng
sáng tạo hay hoạt động sáng tạo không chỉ có ở những thiên tài mà còn tiềm
ẩn trong mỗi cá nhân.
Tổng hợp các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học trên thế
giới, có thể tiếp cận nghiên cứu sáng tạo theo bảy xu hƣớng chính, đó là
[15, tr 35]:

Tiếp cận trắc đạc tâm lý: là hƣớng tiếp cận sử dụng các trắc nghiệm để
đo tính sáng tạo. Tiêu biểu cho hƣớng tiếp cận này là Guilford – ngƣời đề
xuất “tƣ duy phân kỳ” trở thành công cụ chính để đo tƣ duy sáng tạo. Năm
1974 Torrance đã xây dựng Trắc nghiệm tƣ duy sáng tạo Torrance (TTCT).
Việc sử dụng trắc nghiệm để nghiên cứu sáng tạo đã cũng cấp một công cụ dễ
làm, có thể cho điểm khách quan và có thể nghiên cứu trên bất kỳ đối tƣợng
nào, tuy nhiên nhiều nhà phê bình đã chỉ ra kết quả đo bằng điểm về sự thành
thục, mềm dẻo, độc đáo và chi tiết không bao quát đƣợc nội hàm sáng tạo. 10
Tiếp cận nhận thức: đƣợc sử dụng để nghiên cứu cả chủ thể con ngƣời
lẫn mô phỏng tƣ duy sáng tạo trên máy tính. Các tác giả Finke, Ward, Smith,
Sternberg, Davidson đã đề xuất mô hình tƣ duy sáng tạo gồm hai giai đoạn:
(1) - tạo ý tƣởng, (2) – khai thác ý tƣởng. Ở giai đoạn tạo ý tƣởng, cá nhân
xây dựng dạng thức tâm lý, đƣợc gọi là cấu trúc tiền sáng tạo, nó có các thuộc
tính đƣợc sử dụng để xúc tiến phát kiến sáng tạo. Trong giai đoạn khai thác ý
tƣởng, các thuộc tính này đƣợc dùng để đi đến ý tƣởng sáng tạo. Hàng loạt
các quá trình tâm lý đi vào hai giai đoạn này nhƣ là sự phục hồi, liên tƣởng,
tổng hợp, chuyển hóa…
Tiếp cận xã hội – nhân cách: cùng với tiếp cận nhận thức, tiếp cận xã
hội – nhân cách tập trung vào nghiên cứu nhân cách, động cơ và môi trƣờng
văn hóa xã hội nhƣ nguồn gốc của sáng tạo. Các nhà nghiên cứu nhƣ Amabile
và Csikszentmihalyi đã đƣa ra đƣợc đặc điểm nhân cách của ngƣời sáng tạo
nhƣ khả năng phê phán độc lập, tự tin, bị lôi cuốn bởi tính phức tạp, định
hƣớng mỹ học và ƣa mạo hiểm… Nếu nhƣ tiếp cận nhận thức bỏ qua việc
xem xét khía cạnh nhân cách và xã hội thì tiếp cận xã hội – nhân cách lại bỏ
qua việc nghiên cứu quá trình sáng tạo. Nhƣ vậy, dù có nghiên cứu tiếp cận
theo hƣớng nào cũng chỉ là một chiều và đơn tuyến. Do đó, cách tốt nhất là sử
dụng tiếp cận đa ngành trong nghiên cứu sáng tạo.

Ấp ủ: ở giai đoạn này các ý tƣởng chƣa xuất hiện mà có thể còn đƣợc
nung nấu ở cấp độ dƣới ý thức, sự trăn trở có ý thức về những vấn đề, sự thúc
ép về hậu quả vấn đề, những kích thích bởi hứng thú, đam mê và sự cam kết
đẩy chuyển hóa sang giai đoạn tiềm thức. Khi ý tƣởng liên kết với nhau, tự
thân không có sự điều kiển nào của ý thức, nhƣng bất thần những kết nối xuất
hiện, ý tƣởng sáng tạo xuất hiện bất ngờ và bƣớc thấu hiểu bắt đầu.
Lóe sáng: Bƣớc này bắt đầu bằng việc ý tƣởng bất ngờ. Có thể nói sự
xuất hiện ý tƣởng này chỉ là kết quả của giai đoạn trƣớc. Nếu không có sự làm 12
việc chăm chỉ trong giai đoạn chuẩn bị và những trăn trở trƣớc đó, không thể
có thời điểm ý tƣởng sáng tạo xuất hiện một cách bất ngờ nhƣ vậy.
Đánh giá và cụ thể hóa: Khi cá nhân nhận đƣợc ý tƣởng bất ngờ, câu
hỏi cần đƣợc giải đáp là liệu ý tƣởng này có giá trị và có đáng theo đuổi hay
không. Đây cũng là lúc các tiêu chuẩn bên trong lĩnh vực và ý kiến chuyên
môn là quan trọng nhất. Đánh giá và cụ thể hóa ý tƣởng là giai đoạn chiếm
nhiều thời gian nhất và gồm những công việc nặng nhọc nhất.
Chấp nhận về cơ bản mô hình quá trình của Wallas và tách 4 bƣớc ra
thành 2 bƣớc kiểm tra ý tƣởng và đánh giá ý tƣởng, Amabile (1983) đề xuất
mô hình sáng tạo gồm 5 bƣớc: Sự xuất hiện vấn đề (thông qua tác động bên từ
bên trong và bên ngoài); Chuẩn bị (thu thập thông tin phù hợp để giải quyết
vấn đề); Sản sinh ý tưởng (đƣa ra những phƣớng án có thể cho việc giải quyết
vấn đề); Kiểm tra ý tưởng (kiểm tra từng ý tƣởng đã đƣa theo sự phù hợp với
vấn đề); Đánh giá sản phẩm (lựa chọn cấu trả lời cho vấn đề). Hogarth(1980)
cũng đề xuất quá trình sáng tạo gồm 4 bƣớc: chuẩn bị; đưa ra giải pháp;
đánh giá giải pháp; áp dụng giải pháp. Stein (1967) lại đề xuất xem xét mô
hình quá trình sáng tạo chỉ với 3 bƣớc: hình thành giả thuyết; kiểm tra giả
thuyết; trao đổi kết quả.
Theo Csikszentmihalyi, ông nghiên cứu tính sáng tạo dƣới góc độ quá

đã xây dựng lý thuyết cổ điển và đặt tên cho nó là lý thuyết “cấu trúc trí tuệ”.
Mô hình của Guilford về giải quyết vấn đề sáng tạo dựa trên lý thuyết cấu trúc
trí tuệ của ông. Ông cho rằng hành vi giải quyết vấn đề bắt đầu với một số đầu
vào, có thể từ môi trƣờng bên ngoài hay bên trong cơ thể con ngƣời. Cá nhân
thƣờng không ý thức đƣợc rằng thông tin vừa đƣợc đƣa ra và nhiều khi đƣợc
đƣa ra một cách không có ý thức. Vì vậy, ở giai đoạn này màng lọc sẽ xác
định đầu vào và có ảnh hƣởng đến hành vi hay không. Lối ra 1 là sự lảng
tránh vấn đề một cách vô thức. Lối ra 2, có thể loại bỏ vấn đề vì một lý do có
ý thức nào đó. Nếu vấn đề đƣợc nhận ra, tránh đƣợc lối ra 1 và lối ra 2, thì
câu trả lời bắt đầu đƣợc tạo ra. Ở lối ra 3, giai đoạn mà phần đông mọi ngƣời 14
từ bỏ giải quyết vấn đề, vì rằng giải quyết vấn đề đƣợc xem là nhiệm vụ khó
khăn. Đó thƣờng là cuộc đấu tranh cần sự kiên trì, bền bỉ. Đầu ra mới và phong
phú hơn thêm vào sự hiểu biết sâu hơn và nếu ngƣời tƣ duy không lựa chọn thoát
ra ở lối ra 4, họ có thể đi tới ý tƣởng có giá trị độc đáo ở giai đoạn 2 và tạo ra sản
phẩm mới. Ngƣời giải quyết vấn đề ở lối ra 5 là ngƣời sáng tạo thực sự.
Mô hình của Guilford đã đƣa ra sự chia nhánh thú vị để phát hiện ra
rằng chúng ta nuôi dƣỡng tƣ duy sáng tạo nhƣ thế nào. Tuy nhiên, việc giải
quyết vấn đề sáng tạo ở đây đƣợc Guildford giải thích một cách máy móc,
đơn giản, khó áp dụng trong thực tiễn giải quyết vấn đề sáng tạo.
Tư duy theo chiều ngang: Edward de Bono cho rằng tƣ duy theo chiều
ngang đóng vai trò chính yếu trong tƣ duy sáng tạo. Theo ông, tƣ duy theo
chiều dọc là tìm một lời giải đúng, tƣ duy theo chiều ngang liên quan đến tính
phong phú hơn là tính đúng đắn và do đó hƣớng tới tạo ra nhiều cách suy
nghĩ; tƣ duy theo chiều ngang là sự chấp nhận những thông tin có thể không
phù hợp; tƣ duy theo chiều ngang có thể tiến hành theo cách nhảy cóc; tƣ duy
theo chiều dọc có thể cung cấp một câu trả lời tốt, nhƣng chúng ta cũng cần tƣ
duy theo chiều ngang để có câu trả lời vĩ đại.

tạo. Có thể có nhiều hơn những phẩm chất nhân cách tạo điều kiện cho hoạt
động sáng tạo nhƣng 11 phẩm chất nhân cách dƣới đây là tiêu biểu cho nhân
cách sáng tạo[15, tr 227]:
(1) Nhân cách sáng tạo có thiên hƣớng về một lĩnh vực;
(2) Cởi mở với tình huống không xác định;
(3) Tƣởng tƣợng tự do;
(4) Tự do chức năng;
(5) Tính mềm dẻo của nhân cách;
(6) Ƣa mạo hiểm;
(7) Cởi mở với sự thiếu trật tự;
(8) Trì hoãn hƣởng thụ;
(9) Giải phóng khỏi vai trò giới; 16
(10) Tính kiên trì;
(11) Lòng dũng cảm;
Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu khác cho thấy có thể bổ sung thêm
nhiều phẩm chất khác của nhân cách sáng tạo nhƣ nhạy cảm với sự tồn tại của
vấn đề; có khả năng tƣ duy phân tích và trực giác; cởi mở với kinh nghiệm và
ít bảo thủ trong việc chấp nhận thông tin mới; hứng thú với những điều vui vẻ
và tƣơi trẻ; có khả năng làm việc độc lập; luôn nghi ngờ những gì đang tồn
tại; độc lập trong đánh giá; lạc quan với những nhiệm vụ khó khăn; rất tháo
vát khi có sự cố bất thƣờng xảy ra; có ý tƣởng rất độc đáo, khác biệt về định
tính với ý tƣởng của ngƣời khác.
Nhƣ vậy, tiếp cận nghiên cứu sáng tạo nhƣ thuộc tính nhân cách đã cho
ta thấy những những phẩm chất nhân cách cơ bản có trong ngƣời sáng tạo.
Chúng ta có thể không tìm thấy đƣợc toàn bộ những phẩm chất này ở một
ngƣời sáng tạo nhƣng một ngƣời có những phẩm chất nhân cách này sẽ đảm
bảo cho sự ra đời của các ý tƣởng sáng tạo.

Bao gồm:
- Kiến thức về lĩnh vực
- Kỹ năng kỹ thuật đòi
hỏi
- Tài năng đặc biệt phù
hợp với lĩnh vực chuyên
môn
Phụ thuộc vào:
- Khả năng nhận thức
bẩm sinh
- Kỹ năng tri giác và vận
động bẩm sinh
- Giáo dục chính thống
và phi chính thống
2
NHỮNG KỸ NĂNG
SÁNG TẠO PHÙ HỢP

Bao gồm:
- Kiểu nhận thức thích
hợp
- Kiến thức về phƣơng
pháp tìm tòi khám phá để
tạo ra những ý tƣởng mới
- Kiểu làm việc hấp dẫn
Phụ thuộc vào:
- Đào tạo
- Kinh nghiệm trong việc
tạo ra ý tƣởng
- Những đặc tính nhân

M.Stein…nghiên cứu nhân cách của những ngƣời nổi tiếng và từ đó tổng hợp
đƣợc một số phẩm chất đặc trƣng của một nhân cách sáng tạo. Đây là cơ sở để
định hƣớng và phát triển những nhân cách sáng tạo trong thực tiễn; Nghiên
cứu dưới góc độ sinh lý thần kinh. Các tác giả nhƣ E.A. Spitzka, Thomas
S.Harvey, Guilford… đã nghiên cứu một số bộ não thông minh nhằm lý
giải dƣới góc độ sinh học về hoạt động, cấu tạo của não nhƣ thế nào để dẫn
đến ý tƣởng sáng tạo mới. Nhƣng kết quả nghiên cứu về thần kinh là cơ sở
quan trọng về mối tƣơng quan giữa sinh lý và tâm lý; Nghiên cứu sáng tạo
dưới góc độ phân tích sản phẩm hoạt động. Các tác giả B.Gheselin,
M.Stein, G.Claussa, Guilford… đã phân tích một số sản phẩm sáng tạo nổi
tiếng và từ đó chỉ ra những tiêu chí đặc trƣng của một sản phẩm sáng tạo.
Đây là cơ sở để đánh giá và công nhận mức độ sáng tạo của mỗi cá nhân và
cộng đồng; Nghiên cứu tính sáng tạo như là thuộc tính nhân cách bằng sử
dụng trắc nghiệm.
1.1.2. Nghiên cứu về sáng tạo, tính sáng tạo ở Việt Nam
* Về nghiên cứu
Ở Việt Nam, nghiên cứu về sáng tạo còn là một lĩnh vực khá mới và
chỉ đƣợc nghiên cứu trong vòng hai mƣơi năm trở lại đây. Công trình đầu tiên
nghiên cứu về khả năng sáng tạo, trí sáng tạo của học sinh đƣợc Viện khoa
học giáo dục Việt Nam – đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Giáo dục và đào tạo
nghiên cứu vào năm 1990. Các nghiên cứu này nghiên cứu về bản chất, cấu
trúc tâm lý của sáng tạo, phƣơng pháp chẩn đoán, đánh giá thuộc tính nhân 19
cách, tìm ra con đƣờng giáo dục phát huy tính sáng tạo ở học sinh và ngƣời
trƣởng thành ở Việt Nam. Với mục đích nghiên cứu ấy, một vài bộ trắc
nghiệm sáng tạo của nƣớc ngoài (test của K.J.Schoppe, K.K.Urban…) đã
đƣợc tác giả Nguyễn Huy Tú Việt hóa để đo tính sáng tạo của học sinh, sinh
viên. Các trắc nghiệm sáng tạo này trƣớc đây đã đƣợc sử dụng để làm căn cứ

test VKT (hay TST) của K.J.Schoppe đã đƣợc Việt hóa vào quá trình nghiên
cứu của mình nhƣ là một công cụ để đo mức độ tính sáng tạo của sinh viên.
Năm 2000, tác giả Đức Uy viết trong cuốn Tâm Lý học sáng tạo, đã
chỉ ra động lực sáng tạo, vai trò của giao tiếp, trực giác và tƣởng tƣợng trong
sáng tạo khoa học, vai trò của tƣ duy sáng tạo và một số phẩm chất cơ bản của
ngƣời sáng tạo [17].
Năm 2011, tác giả Phạm Thành Nghị, trong cuốn sách “Những vấn đề
Tâm lý học sáng tạo” đã làm rõ đƣợc bản chất của sáng tạo và chỉ ra đƣợc
những đặc điểm nhân cách sáng tạo, làm rõ đƣợc cơ sở sinh học và xã hội của
sáng tạo, phân tích đƣợc mối quan hệ giữa sáng tạo và các hiện tƣợng tâm lý
khác từ đó nêu nên những ứng dụng sáng tạo trong tổ chức và việc giáo dục,
phát triển năng lực sáng tạo[14].
Năm 2012, cuốn “Giáo trình Tâm lý học sáng tạo” đƣợc tác giả Phạm
Thành Nghị viết đã hệ thống hóa những kiến thức về bản chất của sáng tạo,
cơ sở sinh học, xã hội của sáng tạo, mối quan hệ giữa sáng tạo với các hiện
tƣợng tâm lý khác nhƣ trí thông minh, tƣ duy, tƣởng tƣợng, động cơ cũng nhƣ
kiến thức về phƣơng pháp nghiên cứu sáng tạo.
Vấn đề sáng tạo đã và đang nhận đƣợc sự quan tâm của các nhà
nghiên cứu, một số luận văn thạc sỹ, luận án tiến sĩ có nghiên cứu về vấn đề
này là: năm 2007, luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Văn Trƣởng nghiên cứu về
“Mối quan hệ giữa tính sáng tạo với việc hình thành kỹ năng dạy học của sinh
viên trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm Quảng Ninh”; năm 2008, có Luận án Tiến sĩ
của tác giả Trần Thị Phƣơng Huyền “Nghiên cứu mức độ sáng tạo của sinh
viên trƣờng Cao đẳng sƣ phạm Vĩnh phúc thới kỳ đổi mới”; năm 2009, luận 21
án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Mai Hƣơng nghiên cứu về “Tƣởng tƣợng
sáng tạo của sinh viên khoa Giáo dục mầm non Trƣờng đại học Hùng Vƣơng
trong hoạt động vẽ tranh”, năm 2010 có luận văn Thạc sĩ của tác giả Mã Ngọc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status