ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=========== NGUYỄN PHAN VŨ
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI TÔN GIÁO
Ở TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
Mã số: 60.22.90
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Hữu Thảo
HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=========== NGUYỄN PHAN VŨ
Chƣơng 1 QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TÔN GIÁO VÀ TÌNH HÌNH
TÔN GIÁO Ở TỈNH THANH HOÁ 9
1.1. Một số vấn đề chung về quản lý nhà nƣớc về tôn giáo 9
1.1.1. Một số vấn đề lý luận về tôn giáo 9
1.1.2. Khái niệm “quản lý nhà nước” và “quản lý nhà nước về tôn giáo” 15
1.1.3. Nội dung quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam 17
1.2. Tình hình tôn giáo ở tỉnh Thanh Hoá 20
1.2.1. Một số đặc điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị của tỉnh
Thanh Hóa 20
1.2.2. Tình hình tôn giáo ở tỉnh Thanh Hóa 23
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 33
Chƣơng 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI
VỚI TÔN GIÁO Ở THANH HOÁ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 35
2.1. Thực trạng công tác quản lý nhà nƣớc đối với tôn giáo ở Thanh Hoá 35
2.1.1. Thành tựu và nguyên nhân 35
2.1.2. Hạn chế, yếu kém và nguyên nhân 51
2.2. Những vấn đề đặt ra từ công tác quản lý nhà nƣớc đối với tôn giáo ở
tỉnh Thanh Hóa hiện nay 58
2.2.1. Những vấn đề đặt ra từ phương diện công cụ quản lý nhà nước đối
với tôn giáo 58
2
2.2.2. Những vấn đề đặt ra từ phương diện tổ chức bộ máy quản lý nhà
nước đối với tôn giáo 60
2.2.3. Những vấn đề đặt ra từ phương diện cán bộ làm công tác quản lý
nhà nước đối với tôn giáo đối với tôn giáo 61
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 62
Chƣơng 3 DỰ BÁO TÌNH HÌNH VÀ PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI TÔN
GIÁO Ở TỈNH THANH HOÁ 64
lý nhà nước đối với tôn giáo.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, mỗi dân tộc, kể cả
người Kinh (Việt) đều lưu giữ những hình thức tín ngưỡng, tôn giáo của riêng
mình. Số lượng người theo tôn giáo ở nước ta khá đông, với 14 tôn giáo và 40
tổ chức tôn giáo như hiện nay, số tín đồ đã có tới vài chục triệu người. Nhìn
chung ở nước ta, hoạt động của các tôn giáo đều diễn ra trong khuôn khổ
chính sách, pháp luật và tuân thủ việc quản lý của nhà nước, theo đó, khối đại
đoàn kết toàn toàn dân được củng cố. Điều đó khẳng định, việc đề ra chính sách
tôn giáo đúng đắn và việc quản lý nhà nước đối với tôn giáo là một vấn đề
quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nhu cầu tôn giáo của đông đảo
nhân dân ta, đồng thời tác động to lớn đến tình hình kinh tế - chính trị - xã hội
của đất nước.
Thanh Hoá là một tỉnh nằm ở vùng Bắc Trung Bộ, có số dân khoảng
3.400.239 người (theo Tổng điều tra dân số ngày 01/04/2009), được xem là
một trong những tỉnh đông dân nhất, đứng thứ ba cả nước. So với cả nước,
Thanh hoá là một tỉnh có đồng bào theo đạo không đông (Phật giáo: khoảng
100.000 tín đồ, Công giáo: khoảng 140.000 tín đồ, Tin lành: khoảng 6000 tín
đồ, Cao đài: khoảng 100 tín đồ). Nhìn chung tình hình tôn giáo tại tỉnh Thanh
Hoá nhiều năm qua tương đối ổn định, đại bộ phận tín đồ, chức sắc tôn giáo
phấn đấu sống “tốt đời đẹp đạo”. Nhưng bên cạnh đó, do địa lý rộng, công tác
quản lý, tuyên truyền còn gặp nhiều khó khăn; vẫn có tình trạng hoạt động tôn
4
giáo vi phạm chính sách, pháp luật, hiện tượng mê tín còn diễn ra tràn lan.
Nhiều vấn đề liên quan đến tôn giáo trong tỉnh còn kéo dài như: Vấn đề đất
đai, hoạt động hội đoàn. Hoạt động truyền đạo trái phép của một số tôn giáo
vào vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa ngày càng gia tăng (trên địa
bàn toàn tỉnh còn 57/72 điểm, nhóm sinh hoạt của đạo Tin lành chưa đăng ký
sinh hoạt đạo với chính quyền cơ sở). Ngoài ra còn có một số hiện tượng tôn
giáo mới như : Chân Không, Thanh Hải Vô Thượng Sư, Long Hoa Di Lặc,
(TS Ngô Hữu Thảo- chủ nhiệm đê tài (1998), Đề tài KH
cấp bộ), (TS Nguyễn Thanh Xuân (2005), Ban
tôn giáo chính phủ, Nxb Tôn giáo, Hà Nội),
GS. TS Đỗ Quang Hưng (2008), NXB Lý luận
Chính trị).
Ở góc độ quản lý nhà nước về các hoạt động của tôn giáo là một trong
những yêu cầu quan trọng của sự nghiệp đổi mới đất nước trong xu thế hội
nhập hiện nay. Vì vậy, việc nghiên cứu tôn giáo, đề ra chủ trương chính sách
đối với tôn giáo và nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với các
hoạt động của tôn giáo ngày càng được quan tâm ở nhiều góc độ khác nhau
trên bình diện cả nước, thể hiện ở nhiều công trình như:
- TS Nguyễn Hữu Khiển (2001),
, Nxb Công an nhân dân.
- GS Đặng Nghiêm Vạn (2003),
, Nxb CTQG, HN.
- GS. TS Đỗ Quang Hưng (2005),
Tạp chí công tác tôn giáo số 1
6
- PGS. TS Nguyễn Đức Lữ (2009),
, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà
Nội.
- PGS.TS Nguyễn Hồng Dương (2012),
, Nxb
CTQG, HN
Ngoài ra còn có một số luận văn thạc sĩ : “
của Dương Xuân Huyên (2006),
Các công trình trên đã đề cập nhiều khía cạnh khác nhau của tôn giáo,
đặt vấn đề quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở từng lĩnh vực, từng địa
phương khác nhau và có nhiều ý kiến phong phú có thể tham khảo, học tập
và sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo trực tiếp cho đề tài luận văn này.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình, luận văn, luận án nào đề cập
7
trực tiếp vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Thanh
Hóa trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Làm rõ những vấn đề chung về quản lý nhà nước đối với tôn giáo và
thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở tỉnh Thanh Hóa hiện
nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
đối với tôn giáo trên địa bàn tỉnh.
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về tôn giáo và công tác quản lý nhà
nước đối với các hoạt động tôn giáo ở nước ta hiện nay.
- Phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước các hoạt động tôn giáo
ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay và những vấn đề đặt ra.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu
quả các hoạt động quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở tỉnh Thanh Hóa hiện
nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
*
Là công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo ở Thanh
Hóa.
: Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thanh
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được chia ra làm 3 chương, 7 tiết. 9
Chƣơng 1
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TÔN GIÁO VÀ TÌNH HÌNH TÔN
GIÁO Ở TỈNH THANH HOÁ
1.1. Một số vấn đề chung về quản lý nhà nƣớc về tôn giáo
1.1.1. Một số vấn đề lý luận về tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử, xã hội xuất hiện từ lâu trong lịch
sử, theo các tài liệu thống kê đến nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái
niệm tôn giáo, tùy cách tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu khác nhau người ta
đưa ra những định nghĩa khác nhau về tôn giáo. Thuật ngữ tôn giáo (religion
trong tiếng Anh), bắt nguồn từ tiếng La tinh là religio có nghĩa là sự tồn tại
một quyền lực bên ngoài mà con người phải tuân theo; cảm giác mộ Đạo và
tuân theo quyền lực đó. Theo tiếng Hy Lạp thì tôn giáo là legere - ràng buộc
hay mối liên hệ giữa con người và thần linh. Thuật ngữ religion lần đầu tiên
được Thiên chúa giáo sử dụng ngoài ý nghĩa như trên còn có nghĩa là ý thức
về một cộng đồng được tổ chức. Các tôn giáo cụ thể có khoảng trên dưới 5
nghìn tôn giáo đã và đang tồn tại trong lịch sử, hiện nay có khoảng 250 định
nghĩa về tôn giáo. Theo thời gian thuật ngữ ngày càng được mở rộng về nội
hàm và mức độ phổ biến, tùy từng tôn giáo, cách tiếp cận và ở từng nước mà
nó được hiểu theo những nghĩa khác nhau.
- -
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, một tiểu hệ thống kiến trúc
của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự
không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [36; 570]. Tôn giáo
là sản phẩm của con người, nó tồn tại và biến đổi cùng với xã hội loài người.
Trong cuộc sống của mình, để tồn tại được, con người phải được đáp ứng
được những nhu cầu về vật chất tối thiểu như ăn, mặc, ở Tuy nhiên, con
người không chỉ cần có vậy, khi xã hội càng phát triển thì việc thỏa mãn nhu
cầu tinh thần, trong đó có tín ngưỡng, tôn giáo càng được chú ý. Tôn giáo là
một trong những nhu cầu thiết yếu, nó có khả năng giữ vai trò thăng bằng
trạng thái tinh thần của con người. Đến với tôn giáo không hẳn là người ta
11
chốn chạy thực tại, mà có lẽ quan trọng hơn là họ tìm thấy ở đấy sự yên tĩnh
trong tâm hồn, sự cân bằng về tình cảm, sự đồng cảm, chia sẻ tâm tư nguyện
vọng với cộng đồng.
Trong xã hội công xã nguyên thủy, do trình độ của lực lượng sản xuất
và điều kiện sinh hoạt vật chất thấp kém, con người luôn cảm thấy yếu đuối
và bất lực trước thiên nhiên bao la, hùng vĩ, đầy bí ẩn. Vì vậy người nguyên
thủy đã gán cho tự nhiên những sức mạnh siêu nhiên. Khi xã hội xuất hiện
chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, giai cấp hình thành, đối kháng giai cấp nảy
sinh, hiện tượng tiêu cực xã hội ngày càng phát triển, con người lại thêm
một bất lực nữa, bất lực trước lực lượng tự phát nảy sinh trong xã hội. Không
giải thích được sự phân hóa giai cấp và nguyên nhân của bất bình đẳng xã
hội, những yếu tố ngẫu nhiên, may rủi trong cuộc sống, người ta hi vọng ảo
tưởng vào cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới “ bên kia”.
Quần chúng bất lực trong cuộc đấu tranh giai cấp và giai cấp thống trị
bóc lột đã sử dụng tôn giáo như một công cụ, phương tiện để duy trì ách
thống trị của mình là những nguyên nhân xã hội cho sự ra đời và tồn tại của
tôn giáo. Sự bần cùng về kinh tế, nạn áp bức về chính trị, sự hiện diện của
những bất công xã hội, cùng với nỗi thất vọng, bất lực trong cuộc đấu tranh
giai cấp của giai cấp bị trị, đó là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại.
chúng nhân dân không thể đoán trước được nó - là thế lực bất cứ lúc nào
trong đời sống của người vô sản và tiểu chủ, cũng đe dọa đem lại cho họ và
đang đem lại cho họ sự phá sản “đột ngột”, “ bất ngờ”, “ ngẫu nhiên”, làm
cho họ phải diệt vong, biến họ thành những người ăn xin, một kẻ bần cùng,
một gái điếm và dồn họ vào cảnh chết đói, đó là nguồn gốc sâu xa của tôn
giáo hiện đại” [32; 515 - 516]. Nhưng không phải chỉ có sự sợ hãi trước sức
mạnh tự phát của tự nhiên và xã hội mới dẫn con người đến việc nhờ cậy ở
thần linh, mà ngay cả những tình cảm tích cực như lòng biết ơn, sự kính
trọng, tình yêu thương đồng loại trong mối quan hệ giữa con người với tự
nhiên và con người với con người cũng được thể hiện qua các hình thức tín
ngưỡng, tôn giáo.
13
Tôn giáo đã đáp ứng nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, góp
phần bù đắp những hụt hẫng trong cuộc sống, nối trống vắng trong tâm hồn,
an ủi, vỗ về, xoa dịu con người lúc sa cơ lỡ vận hay khi bệnh tật hiểm nghèo,
tình duyên oan trái. Vì thế, tôn giáo dù chỉ là hạnh phúc hư ảo, song người ta
vẫn cần đến nó và cảm thấy “hạnh phúc” chừng nào chưa có hạnh phúc thực
sự, “là trái tim của thế giới không có trái tim cũng giống như nó là tinh thần
của những điều kiện xã hội không có tinh thần” như C.Mác đã nói.
-
Chủ tịch Hồ chí Minh đã để lại cho thế hệ sau những di sản tư tưởng
quý báu về nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Những
lời di huấn, các bài viết, những cử chỉ, hành động cũng như phong cách ứng
xử của người đối với tôn giáo nói chung và đối với tín đồ, giáo sĩ, nhà tu hành
của các tôn giáo là những bài học quý báu Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn
giáo tín ngưỡng dựa trên những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
về tôn giáo tín ngưỡng và vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam.
Tư tưởng về tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân
dân: Đây là tư tưởng quan trọng và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Người đã nhìn thấy ở tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên vừa là tín ngưỡng vừa
là đạo lý làm người, đồng thời cũng là nét đẹp văn hóa của dân tộc những tư
tưởng đó được thể hiện trong Văn kiện hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành
Trung ương khóa IX đã tiếp thu những tư tưởng của Người: “Giữ gìn và phát
huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những
người có công với Tổ quốc và nhân dân” [22, tr. 49]. Quan điểm đó càng trở
nên ý nghĩa hơn bao giờ hết trước xu thế toàn cầu hóa hiện nay khi mà hiện
tượng xâm lăng văn hóa phổ biến thì các giá trị truyền thống lại là yếu tố quan
trong giúp chúng ta có thể giữ gìn bản sắc truyền thống của mình. Bên cạnh
tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Người còn đề cập đến vấn đề
chống lợi dụng tín ngưỡng và bài trừ mê tín dị đoan.
Tư tưởng về đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc: Đoàn kết theo quan
điểm của người là đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp, không phân biệt dân tộc,
15
giai cấp, tôn giáo, đây là một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh, chính vì vậy đã
tập hợp được toàn dân, trong đó có nhiều chức sắc, tín đồ của các tôn giáo
tham gia kháng chiến và kiến quốc. Người nói rõ: “ Cái căn gốc, cái bất biến
cho chiến lược đại đoàn kết, hòa hợp dân tộc mà một bộ phận là đoàn kết tôn
giáo, đó là chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước” [37, tr. 466]. Từ
đó Người đã cố gắng tạo ra cơ sở lý thuyết cho sự đoàn kết ấy đó là khai thác
những giá trị trong các học thuyết tôn giáo, tôn trọng và tranh thủ những vị
chức sắc các tôn giáo phải đặt lợi ích dân tộc, lợi ích toàn dân lên trên hết.
Trong bức thư gửi đồng bào Phật giáo, nhân ngày lễ Phật rằm tháng bảy vào
năm 1947, Người viết: “ Tôi kính cẩn cầu nguyện Đức Phật bảo hộ Tổ quốc
và đồng bào ta…Nước có độc lập, thì đaọ Phật mới dễ mở mang…Nay đồng
bào ta đại đoàn kết, hi sinh của cải, xương máu, kháng chiến đến cùng, để
đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền
thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi
của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi khổ ải nô lệ”
tôn giáo cũng được hiểu theo hai nghĩa, rộng và hẹp.
: Là quá trình dùng quyền lực Nhà nước (quyền Lập pháp,
Hành pháp, Tư pháp) của các cơ quan Nhà nước theo quy định của pháp luật
để tác động, điều chỉnh, hướng các quá trình tôn giáo và hành vi hoạt động
tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được
mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý.
: Là một dạng quản lý xã hội mang tính chất Nhà nước, chức
năng nhiệm vụ của Nhà nước, là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức
thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp để điều chỉnh
các quá trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân
tôn giáo diễn ra theo quy định của pháp luật.
QLNN về tôn giáo ở cả 2 nghĩa rộng, hẹp, đều tập trung, trước hết và
chủ yếu là quản lý các “ Hoạt động tôn giáo là việc
truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý của tổ chức tôn giáo.
Việc truyền đạo là việc tuyên truyền những lý lẽ về sự ra đời, về luật lệ của
17
tôn giáo. Thông qua hoạt động truyền đạo, niềm tin tôn giáo của tín đồ được
củng cố, luật lệ trong tôn giáo được tín đồ thực hiện. Với những người chưa
phải là tín đồ, hoạt động truyền đạo giúp họ hiểu, tin và theo tôn giáo. Thông
qua hoạt động truyền đạo để tôn giáo phát triển lực lượng tín đồ.
Việc thực hành giáo luật và lễ nghi (còn gọi là ) là hoạt động
của tín đồ, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo thể hiện sự tuân thủ giáo luật, thoả
mãn đức tin tôn giáo của cá nhân tôn giáo hay của cộng đồng tín đồ.
Trong các hoạt động này, việc phân định ranh giới giữa hoạt động
truyền đạo và hành đạo chỉ tương đối, có không ít trường hợp hoạt động hành
đạo có hoạt động truyền đạo. Hoạt động quản lý tổ chức tôn giáo (còn gọi là
) nhằm thực hiện quy định của giáo luật, thực hiện hiến chương,
điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảm bảo duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức
tôn giáo.
+ Quy định tổ chức bộ máy QLNN đối với hoạt động tôn giáo;
+ Quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong công tác
QLNN đối với hoạt động tôn giáo;
+ Tổ chức quản lý công tác nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức làm công tác tôn giáo;
+ Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm
pháp luật về hoạt động tôn giáo.
Tất cả những công việc trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, để làm
tốt công tác QLNN đối với hoạt động tôn giáo cần chú trọng thực hiện tốt tất
cả các công việc này.
- Nội dung cụ thể của QLNN đối với hoạt động tôn giáo
+ Quản lý tổ chức tôn giáo;
+ Quản lý việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử
trong tôn giáo;
+ Quản lý các chương trình mục vụ thường xuyên, đột xuất của tôn giáo;
+ Quản lý về đại hội, hội nghị và một số việc thuộc hành chính đạo của
tổ chức tôn giáo;
19
+ Quản lý việc xây dựng cơ sở vật chất của tôn giáo, kinh doanh, xuất
nhập khẩu kinh sách tôn giáo và đồ dùng việc đạo;
+ Quản lý các hoạt động quốc tế của tổ chức, cá nhân tôn giáo.
QLNN đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo bao gồm:
+ Đăng ký, công nhận tổ chức tôn giáo
+ Thành lập, chia tách, sát nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc
+ Đăng ký Hội đoàn, dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể khác
+ Thành lập, giải thể trường đào tạo, mở lớp bồi dưỡng những người
chuyên hoạt động tôn giáo
+ Phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, cách chức, bãi
Thanh Hóa là một tỉnh lớn cả về mặt diện tích và dân số (đứng thứ 5 về
diện tích và thứ 3 về dân số trong nước), cũng là một trong những địa điểm
sinh sống đầu tiên của người Việt cổ. Các di chỉ khảo cổ cho thấy cách đây
6000 năm đã xuất hiện nền văn hóa đầu tiên ở Thanh Hóa là văn hóa Đa Bút.
Đến thời Văn Lang, Thanh Hóa là bộ Cửu Chân của nước Văn Lang. Thời kỳ
Bắc thuộc (các chế độ phong kiến của nước Trung Hoa xưa đô hộ), Thanh Hóa
thuộc quận Cửu Chân.
Thời kỳ nhà Đinh, Tiền Lê có tên gọi là đạo Ái Châu. Vào năm Thuận
Thiên thứ nhất triều đại nhà Lý thì đổi tên gọi là phủ Thanh Hóa. Năm 1397,
đời vua Trần Thuận Tông (nhà Trần), đổi Thanh Hóa làm trấn Thanh Đô, chia
làm 3 châu và 7 huyện. Đến thời kỳ nhà Lê, phủ Thanh Hóa được đổi tên
thành thừa tuyên Thanh Hóa, gồm phần diện tích đất Thanh Hóa hiện nay,
một phần diện tích đất tỉnh Ninh Bình (thời kỳ đó là phủ Trường Yên, trực
thuộc) và tỉnh Hủa Phăn (Sầm Nưa) của Lào (thời kỳ đó gọi là châu Sầm).
Năm 1841 (năm Thiệu Trị thứ nhất, triều đại nhà Nguyễn), lại đổi thành tỉnh
Thanh Hóa và tên gọi Thanh Hóa không đổi từ đó cho tới nay.
Hiện nay, Thanh Hóa có diện tích tự nhiên là 11.106 km
2
, dân số trên
3,7 triệu người (đứng thứ 5 về diện tích và thứ 3 về dân số cả nước). Mật độ
dân cư vào loại trung bình: 317 người/km
2
nhưng tỷ lệ phân bố không đồng
21
đều giữa các khu vực. Có 7 dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn tỉnh là: Kinh,
Mường, Thái, Mông, Dao, Thổ và Khơ Mú.
Thanh Hóa là tỉnh chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Trung Việt Nam
trên nhiều phương diện. Về hành chính, Thanh Hóa là tỉnh cực bắc Trung Bộ,
tiếp giáp với Tây Bắc Bộ và đồng bằng Bắc Bộ (Phía bắc giáp Sơn La, Hòa
lượng, toàn tỉnh có 637/637 xã, phường, thị trấn đạt phổ cập giáo dục tiểu học
và giáo dục trung học cơ sở. Ước tính năm 2012 toàn tỉnh có 833 trường đạt
chuẩn, đưa tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia từ 34,9% năm 2011 lên 38,8%
năm 2012; tổng số phòng học đầu năm học 25.841 phòng, trong đó có 21.328
phòng học kiên cố chiếm 82,5%. Tỷ lệ học sinh đậu tốt nghiệp THPT đạt
99,79% [59, tr. 4]. Mạng lưới y tế được tăng cường cả về cán bộ và cơ sở vật
chất; việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, chất lượng khám chữa bệnh được
cải thiện rõ rệt; công tác y tế dự phòng, việc phòng chống và phát hiện các
loại bệnh dịch nguy hiểm được tăng cường, chủ động hơn. Tính đến nay, toàn
tỉnh có 691 cơ sở y tế, trong đó bệnh viện 44 cơ sở; số giường bệnh 6.878
giường; tỷ lệ giường bệnh trên 10.000 dân là 20,1 giường; bác sỹ trên 10.000
dân là 6,7 bác sỹ; tỷ lệ trạm y tế có bác sỹ đạt 65%; tỷ lệ xã, phường, thị trấn
đạt chuẩn quốc gia về y tế (theo chuẩn mới) đạt 5%. Các chính sách xã hội,
giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo được quan tâm thực hiện có hiệu quả,
tỷ lệ hộ đói nghèo giảm dần qua các năm (tỷ lệ hộ nghèo năm 2012 chiếm
17,3%; giảm 3,07% so với 2011), đời sống nhân dân ngày một nâng lên.) [60,
tr.4].
Hoạt động văn hóa, thông tin, phát thanh truyền hình có những bước
phát triển mạnh mẽ; nhiều sự kiện văn hóa, lễ hội, biểu diễn nghệ thuật được
tổ chức, góp phần nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần của nhân dân. Cuộc
vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được triển
khai sâu rộng. Trong năm qua hàng loạt sự kiện văn hóa xã hội được diễn ra:
kỷ niệm 65 năm ngày Bác Hồ lần đầu tiên về thăm Thanh Hoá; phát động
cuộc thi tìm hiểu “Bác Hồ với Thanh Hóa -Thanh Hóa làm theo lời Bác Hồ
23
dạy”; tuần văn hóa thể thao và du lịch Sầm Sơn 2013; Lễ đón nhận bằng công
nhận di sản văn hoá thế giới Thành Nhà Hồ gắn với hội thảo quốc tế 40 năm
thực hiện công ước di sản văn hoá thế giới; Kỷ niệm 50 năm quan hệ “Tình
hữu nghị, hợp tác giữa 2 nước Việt Nam - Lào và tuần văn hoá diễn ra tại 2