ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HOC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THU THỦY
VẤN ĐỀ THỂ HIỆN NHÂN VẬT TRONG
SỬ THI Ê ĐÊ QUA TÁC PHẨM MDRONG DĂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. NGUYỄN XUÂN KÍNH
HÀ NỘI – 2013 MỤC LỤC
Mục lục 0
Mở đầu 1
Chương 1: Tổng quan về Tây Nguyên, dân tộc Ê Đê và sử thi Ê Đê… 8
1.1. Thiên nhiên, xã hội, con người Tây Nguyên 8
1.2. Dân tộc Ê Đê và sử thi Ê Đê 12
1.2.1. Dân tộc Ê Đê 12
1.2.2. Sử thi Ê Đê 15
Tiểu kết 18
Chương 2: Các dạng nhân vật và thi pháp thể hiện nhân vật trong sử
thi Ê Đê qua tác phẩm Mdrong Dăm…………….…… 20
2.1. Các dạng nhân vật 20
2.1.1. Nhân vật trung tâm (nhân vật anh hùng) 20
2.1.2. Nhân vật phụ nữ (nhân vật người đẹp) 34
2.1.3. Nhân vật Mtao 45
2.1.4. Nhân vật bà Duôn Sun và cháu gái 51
2.1.5. Nhân vật thần linh 52
2.2. Thi pháp 54
hành động khó phai mờ trong lòng người nghe, người đọc. Trong khuôn khổ
yêu cầu của luận văn thạc sĩ, với thời gian cho phép, chúng tôi lựa chọn đề
tài “Vấn đề thể hiện nhân vật trong sử thi Ê Đê qua tác phẩm Mdrong Dăm”
để tìm hiểu việc thể hiện từ ngoại hình đến hành động, tính cách, phẩm chất
của nhân vật trong sử thi Ê Đê.
Lựa chọn đề tài “Vấn đề thể hiện nhân vật trong sử thi Ê Đê qua tác
phẩm Mdrong Dăm”, một mặt chúng tôi kế thừa những nghiên cứu đi trước
đồng thời dựa trên những nguồn tư liệu mới được công bố về một số tác
phẩm sử thi để tìm hiểu kĩ hơn vấn đề của đề tài. Qua đó, chúng tôi hy vọng
sẽ thu nhận được thêm nhiều tri thức về loại hình tự sự dân gian không hẳn
mới mẻ, song chắc chắn còn nhiều điều lý thú này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sử thi Tây Nguyên thực sự là một mảnh đất màu mỡ mà ở đó nhiều
nhà nghiên cứu đã “cày xới” tạo nên những công trình có giá trị tiêu biểu.
Chỉ tính riêng ở Việt Nam, việc nghiên cứu sử thi đã bắt đầu từ cách đây khá
nhiều năm gắn với tên tuổi các tác giả Võ Quang Nhơn, Phan Đăng Nhật, Đỗ
Hồng Kỳ Chúng tôi đã tiếp cận được một số công trình như: Sử thi anh
hùng Tây Nguyên – Võ Quang Nhơn [20], Văn học các dân tộc thiểu số Việt
Nam [14], Sử thi Ê Đê [15], Vùng sử thi Tây Nguyên [16], Nghiên cứu sử thi
Việt Nam [17] cùng của tác giả Phan Đăng Nhật; Sử thi Tây Nguyên [24] của
nhiều tác giả; Hệ thống nghệ thuật cuả sử thi Tây Nguyên – Phạm Nhân
Thành [22]
Ngoài những công trình trên có nghiên cứu hoặc đề cập đến vấn đề
thể hiện nhân vật trong các sáng tác sử thi nói chung thì chúng tôi cũng tiếp
cận được các công trình nghiên cứu riêng về sử thi Ê Đê như cuốn Sử thi Ê
nhân định rất chính xác rằng: “Về mọi mặt, hình thức cũng như nội dung, tài
năng cũng như đức tính các nhân vật anh hùng khan là một kiểu mẫu của
CÁI ĐẸP, cái tuyệt vời, siêu việt và phi thường; một hình ảnh con người lý
tưởng không những hơn hẳn mọi người thường trên thế gian mà đạt đến tầm
của thần thánh” [15, tr.182]. Vấn đề thể hiện nhân vật theo tác giả không chỉ
tập trung ở việ miêu tả ngoại hình mà còn cả ở hành động, tâm lý, tính cách.
Đặc biệt, tâm lý của nhân vật được hành động hóa một cách tài tài tình, “các
hiện tượng tâm lý trừu tượng của con người được khan chuyển thành hành
động cụ thể” [15, tr 34]. Nhân vật hiện lên sống động qua từng lời kể bởi các
biện pháp nghệ thuật như phép cường điệu, phóng đại, so sánh với tính hình
tượng cao. Mặc dù chỉ đề cập đến nhân vật anh hùng trong hệ thống hệ thống
rất nhiều nhân vật của sử thi Ê đê nhưng thông qua nghiên cứu của tác giả
Phan Đăng Nhật, chúng tôi có gợi dẫn để nghiên cứu sâu hơn về nhân vật người anh hùng nói riêng cũng như các nhân vật khác nói chung trong sử thi
Mdrong Dăm. Ngoài ra, việc tác giả khẳng định: “Lấy tư duy cụ thể thay cho
tư duy trừu tượng là một đặc điểm của người Ê Đê và các dân tộc ở trình độ
xã hội tương tự” [15, tr.34] cũng giúp chúng tôi mạnh dạn so sánh cách thể
hiện nhân vật trong sử thi Ê Đê với sử thi Mơ Nông.
Tiếp tục vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đọc được cuốn Văn học dân
gian Ê đê, Mơ nông [13] của tác giả Đỗ Hồng Kỳ. Trong cuốn sách này tác
giả đã phân chia hệ thống nhân vật trong sử thi Ê Đê gồm: nhân vật trung
tâm, nhân vật mtao (tù trưởng), nhân vật nữ tài sắc, nhân vật bà Duôn Sun và
cháu gái, nhân vật Aê Du, Aê Diê (ông trời). Đồng thời, tác giả cũng đề cập
đến hệ thống thi pháp của sử thi Ê Đê. Cuốn sách của tác giả Đỗ Hồng Kỳ
khá gần với đề tài nghiên cứu của chúng tôi nhưng nội dung mới chỉ đề cập
đến vấn đề chung, khái quát; nghiên cứu về nhân vật mới chỉ dừng lại ở vẻ
bề ngoài, chưa tìm hiểu sâu trên các phương diện hành động, tính cách Kế
đề này với sử thi Mơ Nông.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Với đề tài “Vấn đề thể hiện nhân vật trong sử thi Ê Đê qua tác phẩm
Mdrong Dăm”, chúng tôi nghiên cứu cách thể hiện nhân vật trong sử thi Ê
Đê thông qua tác phẩm Mdrong Dăm [27] - được sưu tầm và công bố thời
gian gần đây (năm 2006). Với việc lựa chọn của mình, chúng tôi hi vọng có
thể nghiên cứu tốt một vấn đề cũ nhưng trên một nguồn tư liệu mới.
Để nhận diện cái riêng của sử thi Ê Đê trong vấn đề nghiên cứu,
chúng tôi tìm hiểu, so sánh đối chiếu nội dung liên quan ở tác phẩm của sử
thi Mơ Nông: Lêng giành lại cây nêu ở bon Ting, Yông con Gâr [30]. Đây
cũng là tác phẩm rất mới, được sưu tầm và công bố gần đây (năm 2011).
4. Mục đích nghiên cứu
- Thấy được những nét đặc sắc trong miêu tả nhân vật tù trưởng, nhân
vật phụ nữ chính và các nhân vật khác qua ngoại hình, hành động, tính
cách… trong sáng tác của nghệ nhân dân gian Ê Đê trên cơ sở nghiên cứu tác
phẩm Mdrong Dăm.
- So sánh, đối chiếu để thấy điểm tương đồng, khác biệt cũng như
bước phát triển trong việc miêu tả con người giữa sử thi Ê Đê và sử thi Mơ
nông.
- Thấy được đặc trưng thi pháp miêu tả con người trong sáng tác sử
thi được lựa chọn cũng như sử thi Ê Đê nói riêng và sử thi Tây Nguyên nói
chung.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Với đề tài “Vấn đề thể hiện nhân vật trong sử thi Ê Đê qua tác phẩm
Mdrong Dăm”, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ TÂY NGUYÊN, DÂN TỘC Ê ĐÊ
VÀ SỬ THI Ê ĐÊ
1.1. Thiên nhiên, xã hội, con ngƣời Tây Nguyên
Tây Nguyên là vùng cao nguyên, giáp với Hạ Lào và Đông Bắc
Campuchia. Thực chất, Tây Nguyên không phải là một cao nguyên duy nhất
mà là một loạt cao nguyên liền kề. Tây Nguyên lại có thể chia thành ba tiểu
vùng địa hình đồng thời là ba tiểu vùng khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên
(tương ứng với các tỉnh Kon Tum và Gia Lai, trước là một tỉnh), Trung Tây
Nguyên (tương ứng với các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông), Nam Tây Nguyên
(tương ứng với tỉnh Lâm Đồng). Khí hậu ở Tây Nguyên được chia làm hai
mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến
tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất. Do ảnh
hưởng của độ cao nên ở các cao nguyên cao 400 - 500 m khí hậu tương đối
thuộc ngữ hệ Môn-Khơme có các dân tộc ở Bắc Tây Nguyên từ khoảng giữa
tỉnh Gia Lai hiện nay trở ra, như các dân tộc Xơ Đăng, Cơ Tu, Dẻ Triêng, Rơ
Mâm, Ba Na, Brâu…, và các dân tộc ở miền Nam Tây Nguyên từ nửa tỉnh
Đắc Lắc trở vào như các dân tộc Mơ Nông, Kơ Ho, Mạ, Sre, Stiêng… Chen
vào giữa, trên vùng đất từ giữa tỉnh Gia Lai hiện nay cho đến nửa tỉnh Đắc
Lắc, là các dân tộc thuộc ngữ hệ Malayo-Polynésien gồm người Gia Rai,
người Ê Đê, người Chu Rú, người Rakglei. Người Chàm sống ở vùng duyên
hải Nam Trung Bộ cũng thuộc ngữ hệ này. Đông, mạnh nhất ở Tây Nguyên
là dân tộc Gia Rai, rồi đến người Ê Đê, người Ba Na, người Xơ Đăng… Cũng có những dân tộc rất nhỏ như người Châu ở trong thung lũng Mường
Hon của núi Ngok Linh, chỉ có khoảng 80 người…
Trong xã hội Tây Nguyên cổ truyền, vẫn còn rất đậm nét cho đến tận
ngày nay, làng là đơn vị xã hội cơ bản và duy nhất. Không có đơn vị xã hội
cao hơn làng. Trong nhiều ngôn ngữ các dân tộc Tây Nguyên không có từ để
chỉ đơn vị cao hơn làng. Bon trong tiếng Mơ Nông, Buôn trong tiếng Ê Đê,
Plei trong tiếng Gia Rai, Ba Na, Veil trong tiếng Cơ Tu… đều có nghĩa là
làng. Ngày trước trong một số dân tộc có từ T’ring dùng để chỉ liên minh
giữa một số làng, nhưng đấy chỉ là những liên minh tạm thời để cùng nhau
đối phó với một số trở lực nào đó, khi trở lực ấy đã được giải quyết thì
những liên minh đó cũng tan rã, không hề có lãnh thổ và tổ chức hành chính
tương đương.
Trong xã hội cổ truyền Tây Nguyên cũng không có đơn vị nhỏ hơn
làng. Ở đây ý thức về cá nhân chưa phát triển, không có cá nhân độc lập đối
với làng. Con người là một bộ phận nhỏ chìm trong cộng đồng làng, hòa tan
trong làng, không thể tách rời khỏi làng. Ở Tây Nguyên, hình phạt nặng nề
nhất, nổi đau đớn lớn nhất, điều nhục nhã nhất đối với một người là bị đuổi
khỏi làng. Nếu ta thường nói người Tây Nguyên có tính cộng đồng rất cao,
thì tính cộng đồng đó là tính cộng đồng làng, thậm chí còn sâu đậm và cụ thể
không có nghệ sĩ chuyên nghiệp. Người ta không làm nghệ thuật. Nghệ thuật
tuyệt đối không phải là một nghề. Nghệ thuật là đời sống, cách sống, thế
thôi. Là hơi thở, là không khí. Con người Tây Nguyên do vậy luôn đậm đặc
chất nghệ sĩ. Chất nghệ sĩ ấy đã làm nên một đời sống văn hóa lễ hội đặc sắc
trên đất Tây Nguyên hùng vĩ và trữ tình. Hiểu được về vùng đất và cuộc sống của con người nơi đại ngàn Tây
Nguyên sẽ giúp ta hiểu về những dân tộc sống ở nơi đây nói chung cũng như
tộc người Ê Đê và nền văn hóa của họ nói riêng.
1.2. Dân tộc Ê Đê và sử thi Ê Đê
1.2.1. Dân tộc Ê Đê
Ê Đê là cộng đồng có gần 195.000 người có địa bàn cư trú tương đối
tập trung ở tỉnh Đắc Lắc và miền tây hai tỉnh Khánh Hoà, Phú Yên. Ngoài
ra, còn có các nhóm địa phương như Kpa, Adham, Bih, Ktul…với những tên
gọi khác như Rađê, Đê, Kpa, Ktul…
Người Ê Đê làm rẫy là chính, riêng nhóm Bih làm ruộng nước theo
lối cổ xưa có trâu dẫm đất thay cho việc cày xới. Người Ê Đê không đi vào
cải tiến những công cụ làm rẫy mà tập trung vào thay đổi các khâu canh tác
để giữ gìn cải tạo đất như luân canh, xen canh…Khai thác những đặc điểm
khác biệt của tiểu khí hậu chẳng hạn như khi phơi rẫy thì gặp nắng, trỉa lúa
thì có mưa…Người Ê Đê có rất nhiều hiểu biết về những biến đổi thời tiết
hàng năm, về đất đai, cây cỏ, muông thú. Mặc dù đó mới chỉ là những tri
thức ở dạng kinh nghiệm dân gian.
Ở trình độ phát triển tư duy của mình, người Ê Đê vẫn quan niệm
rằng những thành bại của nghề nương rẫy là do thần linh. Vì vậy, song song
với việc canh tác nương rẫy, người Ê Đê còn tiến hành các lễ nghi nông
nghiệp, tìm sự trợ giúp của thần linh với ước mong về mùa màng bội thu
sung túc.
phụ nữ căng tròn. Nhà sàn là nơi cư trú của đại gia đình mẫu hệ Ê Đê. Gian
trong bao gồm các tiểu gia đình, mỗi tiểu gia đình đều có một bếp nấu ăn
uống lớn. Đứng đầu ngôi nhà dài là một phụ nữ nhiều tuổi, có uy tín phân công lao động, quản lí tài sản, giải quyết những mối bất hòa trong phạm vi
gia đình.
Trong sinh hoạt của xã hội Ê Đê, các hoạt động nghi lễ tín ngưỡng
chiếm vị trí hết sức quan trọng. Vai trò của những thầy cúng, thầy bói được
đặc biệt đề cao. Ngoài ra, còn phải kể đến những nghệ nhân dân gian gọi là
Pôkhan (người kể Khan), PôMtul Ching (người sửa chiêng)…
Trong đời sống, người Ê Đê vẫn bảo lưu tàn dư của xã hội tiền giai
cấp: lấy buôn làng làm đơn vị tổ chức xã hội nhỏ nhất. Hợp thành buôn là
các gia đình, đại gia đình theo chế độ mẫu hệ. Trong xã hội Ê Đê truyền
thống dòng họ đóng vai trò hết sức quan trọng. Người Ê Đê có tập tục chuê
nuê. Tập tục quy định: nếu trong hai vợ chồng có một người chết thì gia đình
người qúa cố phải tìm người thế vào. Người Ê Đê luôn luôn coi gia đình, cả
đại gia đình mẫu hệ là một “hruh malao” (tổ ấm). Nếu không may, một
trong hai người chết đi, con trẻ sẽ rỡi vào tình trạng thiếu người nuôi nấng,
dạy bảo. Đối với người đàn ông già chết vợ cũng vậy, nếu không có người
nuê thì ông ta phải trở về nhà cha mẹ để ở với cháu gái (lúc này cha mẹ đã
rất già hoặc đã chết). Việc chuê nuê giúp cho con trẻ, người già góa bụa có
nơi nương tựa, có được cái không khí thân mật, ấm cúng của gia đình. Đó
chính là tính nhân văn của hiện tượng này. Ngày nay, tục lệ này vẫn còn tồn
tại ở những mức độ khác nhau.
Trong số những dân tộc thiểu số ở nước ta, Ê Đê là dân tộc có đời
sống tinh thần phong phú. Người Ê Đê cho rằng thế giới có ba tầng: tầng đất,
tầng trời và tầng dưới mặt đất. Ở ba tầng đó đều có các vị thần trú ngụ.
Trong xã hội Êđê truyền thống, đời sống hiện thực của con người luôn gắn
bó chặt chẽ với tín ngưỡng, nghi lễ. Các thần linh là những lực lượng chi
thần, tập quán pháp, thành ngữ, tục ngữ, ca dao – dân ca, một số “điển tích”
của thần thoại, cổ tích vào trong các tác phẩm khan.
Về phương diện nội dung, klei khan là bức tranh rộng lớn về cuộc
sống vật chất và tinh thần của người Ê Đê. Nội dung cơ bản của khan - sử thi
là kể chuyện các nhân vật anh hùng trong mối quan hệ với con người và thần
linh, trong đó chủ yếu là tường thuật các trận đánh nhau giữa hai lực lượng
đối lập nhau về quyền lợi. Về phương thức thể hiện, khan – sử thi kết hợp
phương thức trần thuật khách quan và phóng đại hiện thực. Nhìn chung,
mạch văn nhịp nhàng, đôi khi ào ạt, có sức lôi cuốn, hấp dẫn người khác.
Khi diễn xướng khan, nghệ nhân chủ yếu chỉ dùng ngôn ngữ và giọng
điệu để biểu đạt nội dung truyện kể, rất ít người dùng động tác nào đó để mô
phỏng cử chỉ, hành động của nhân vật. tùy theo nội dung cụ thể của truyện
kể mà nghệ nhân có giọng điệu sao cho phù hợp, nhằm đưa lại hiệu qủa nhận
thức – thẩm mĩ cao nhất cho người nghe.
Nhìn chung, hát kể khan được tiến hành theo một chu kì khá đơn
giản. Khi bắt đầu, giọng nghệ nhân từ thấp lên cao, diễn tả hết một câu, một
ý thì giọng nghệ nhân ngân dài để ngắt câu, chuyển ý. Sau khi ngắt câu,
chuyển ý, nghệ nhân lại có giọng như lúc bắt đầu khan. Điều kính phục ở
đây là nội dung khan được người diễn xướng diễn đạt bằng nhiều làn điệu.
Khi thì nói vần, khi thì ngân nga, khi thì hát, sự cuốn hút, hấp dẫn người
nghe của khan chủ yếu là ở ngôn ngữ, âm điệu, hình ảnh nội dung lời khan
và giọng kể, ngâm của nghệ nhân. Ngoài ra thường không có nhạc kèm theo.
Klei khan được kể trong các buổi sinh hoạt công cộng có cúng lễ hoặc
không có cúng lễ vào giai đoan vui chơi của buổi sinh hoạt. Klei khan được
hát kể tại ba địa điểm: trong chòi, ở trên rẫy, lễ bỏ mả và trong gian khách
của ngôi nhà dài. Khan thường được diễn xướng trước đám đông. Sự có mặt
đông đúc của công chúng sẽ làm cho nghệ nhân càng thêm hứng khởi. Công
Tây Nguyên núi đồi hùng vĩ, theo năm tháng vẫn giữ lại trong mình
một vẻ đẹp hoang sơ và kỳ bí đến lạ thường. Văn hóa Tây Nguyên muôn
màu muôn vẻ, đa sắc thái dân tộc, được bao bọc bởi chính đất mẹ nơi này.
Những cánh rừng bạt ngàn, những con thác ngày đêm ầm ầm đổ nước, hay
những lời ca hát, những tiếng cồng chiêng của buôn làng cứ thế mà đi theo
năm tháng trong tiềm thức của mỗi người con núi rừng.
Sống ở mảnh đất Tây nguyên, dân tộc Ê Đê mang trong mình những
nét chung của đại ngàn và cả những điểm riêng khác biệt. Tộc người Ê Đê có
nhiều nhóm. Tuy các nhóm này có một số điểm khác nhau về phong tục tập
quán, nghĩa từ vựng, cách phát âm, nhưng cư dân Ê Đê là một tộc người có
nền văn hóa chung, thống nhất.
Sản xuất nương rẫy chiếm vị trí trọng yếu, là nguồn sống chính của
người Ê Đê. Bên cạnh trồng lúa, người Ê Đê còn trồng ngô, khoai, sắn.
Ngoài việc làm rẫy, đồng bào còn vào rừng chặt đọt mây, kiếm các loại rau
quả về làm thức ăn. Việc đánh bắt cá, săn bắn chim muông mang lại cho
người Ê Đê một nguồn thực phẩm khá dồi dào. Việc chăn nuôi gia cầm, gia
súc rất được chú trọng phát triển trong từng gia đình.
Một tập tục tồn tại từ lâu và khá bền vững trong xã hội Ê Đê phải kể
đến là chuê nuê. Mục đích quan trọng của tập tục này là kế thừa tài sản, cũng
là để duy trì mối quan hệ thông gia. Chuê nuê còn tìm lại sự hài hòa cho gia
đình, dòng họ.
Trong quan niệm của mình, người Ê Đê cho rằng thế giới có ba tầng:
tầng đất, tầng trời và tầng dưới mặt đất. Ở ba tầng đó đều có các vị thần trú
ngụ. Họ tin rằng con người, chim muông, cây cỏ, đồ vật trong nhà… đều có hồn. Vì vậy, cuộc sống của người Ê Đê gắn bó mật thiết với những tập tục
tôn giáo, tín ngưỡng.
Người Ê Đê có thể loại văn học dân gian tổng hợp gọi là klei khan,
tài giỏi và hùng mạnh”. Ngay tên gọi của tác phẩm cũng đã nói lên khát
vọng, sự ngưỡng mộ của cộng đồng Ê Đê gửi gắm qua nhân vật này.
Chúng ta đã từng gặp trong các truyện cổ tích, truyện truyền thuyết
của người Kinh sự ra đời kỳ lạ của những nhân vật như Thánh Dóng, Sọ Dừa
Thạch Sanh… Nguồn gốc của họ đều mang một màu sắc huyền thoại. Có
một mô tip phổ biến đó là một cặp vợ chồng đã già rồi mà vẫn chưa có con,
người vợ ăn phải dị vật (uống nước trong quả dừa rồi thụ thai - “Sọ Dừa”);
hoặc người mẹ giẫm phải vết chân (“Thánh Gióng”) rồi đứa trẻ được sinh
ra; hay như Thạch Sanh là do hoàng tử con trai Ngọc Hoàng đầu thai làm người… Những đứa trẻ này lớn lên cũng khác biệt với những người khác
(Thánh Gióng ba năm không biết nói biết cười, chỉ đến khi nghe sứ giả rao
tìm người tài mới bật tiếng gọi. Câu nói đầu tiên là câu nói muốn đánh giặc.
Còn Sọ Dừa lớn lên trong vỏ bọc xấu xí, dị hợm như một cục thịt đỏ hỏn
suốt ngày chỉ lăn lông lốc nhưng cũng đi chăn bò, làm thuê. Thạch Sanh thì
một mình lớn lên bên gốc đa và được thần dạy cho võ nghệ…).
Như vậy, mặc nhiên trong trí tưởng tượng của dân gian, những nhân
vật anh hùng xuất chúng như vậy đều không thể được sinh ra theo cách bình
thường như những con người bình thường. Họ phải là con của những thế lực
siêu nhiên, kì lạ… Cũng chính vì thế, họ sống một cuộc đời khác với những
người phàm trần khác.
Sử thi Ê Đê cũng kể về những nhân vật anh hùng đều có sự ra đời kì
lạ, thậm chí không rõ nguồn gốc. Chỉ biết họ là con của thần, của trời đất…
Sử thi Ê Đê thường cho một dung lượng nhất định để kể về thời thơ ấu của
các nhân vật chính.
Sự ra đời của Mdrong Dăm cũng mang vẻ khác thường, dù mẹ chàng
đã tình tự với Dăm Bhu trong rừng, nhưng nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của
nhân vật anh hùng này còn là do mẹ chàng “ăn trái cây giữa thân, uống nước
giữa dòng thác, ăn trái dại trong rừng nên bụng mới ngày một to lên” [28,tr
Trước hết, Mdrong Dăm khi còn nhỏ đã thật đẹp, chàng “có đôi chân
như người ta tạc, miệng như quả mlue, mắt như sao hôm, thân thể thơm mãi
mùi hoa quả rừng” [28, tr 668]. Lớn lên, Mdrong Dăm có vẻ đẹp nổi bật
“bắp chân như người ta chạm, ngắm bắp đùi như người tạc có, tiếng nói,
tiếng cười của chàng giòn tan” [28, tr 689]. Trang phục của Mdrong Dăm
thật rực rỡ, tương xứng với sự giàu sang và vẻ đẹp oai hùng của chàng: “khố
kiểu người Hdrung quấn ba vòng, chàng mặc khố thêu của người Ê Đê bằng