ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGÔ THỊ HỒNG VÂN LUẬN VĂN THẠC SỸ THẾ GIỚI ĐỘNG VẬT
TRONG SỬ THI BANA CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 602234 HÀ NỘI, THÁNG 9/2008
MỤC LỤC
1.1.1. Con vật nuôi trong nhà………………………………………… 30
1.1.2. Động vật hoang dã có trong tự nhiên…………………………….40
1.1.2.1. Động vật lớn……………………………………………………41
1.1.2.2. Động vật nhỏ………………………………………………… 46
1.2. Nhóm động vật không có thực…………………………………… 62
2. Cách thức miêu tả…………………………………………………….69
CHƯƠNG 3
MỐI QUAN HỆ GIỮA HÌNH ẢNH ĐỘNG VẬT TRONG SỬ THI
VỚI ĐỜI SỐNG, VĂN HOÁ, TÂM LINH NGƯỜI BANA
1. Sử thi Bana thường dùng hình ảnh loài vật để phóng đại các chi tiết
nhằm lôi cuốn người nghe, thông qua đó nói lên tính cách hào hùng, bất
khuất của người Bana………………………………………………… 78
2. Tính nhân văn của sử thi Bana……………………………………… 84
3. Hình ảnh đặc trưng của mỗi loài vật thường được sử dụng để miêu tả
người anh hùng………………………………………………………….86
4. Hình ảnh động vật có mặt trong sử thi được đưa vào nghệ thuật điêu
khắc, trong cuộc sống đời thường của người Bana…………………… 87
5 Số lượng hình ảnh động vật có mặt trong 5 tác phẩm sử thi phản ánh sự
phong phú và giàu có của vùng đất Tây Nguyên……………………….89
6. Hình ảnh động vật có mặt trong sử thi xuất hiện trong đời sống thường
nhật, tín ngưỡng của người Bana ngày nay…………………………… 91
7. Hình ảnh xuất hiện dưới lốt loài vật trong sử thi tác động đến quan
niệm sống của người Bana hiện tại…………………………………… 92
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người trong xã hội, là tình cảm và
sự hài hoà của con người trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên
Đọc kho tàng sử thi Tây Nguyên, chúng ta nhận thấy sự quen thuộc của
những hình ảnh cỏ, cây, muông thú… Những hình ảnh ấy dưới cách nhìn
này hay cách nhìn khác không chỉ là sự thể hiện hiện thực cuộc sống
khách quan mà còn chứa đựng những ý nghĩa sâu sắc. Sử thi Tây Nguyên
phản ánh rõ nét và sâu sắc xã hội Tây Nguyên. Trong tổng thể cũng như
trong chi tiết, cuộc sống của làng, của buôn và của con người, thiên nhiên
cũng như phong tục tập quán, tất cả đều được tái hiện lại, khiến cho sử thi
trở thành bộ sách bách khoa về Tây Nguyên.
Bước vào thế giới của sử thi, ta bắt gặp ở đó mọi mặt tri thức của
các dân tộc thời cổ. “Trong sử thi có đầy đủ các mặt về đời sống văn hoá
của các dân tộc, các nghi lễ phong tục tập quán, cách thức sinh hoạt, ăn
mặc, đi lại… tất cả điều đó khiến các nhà nghiên cứu coi sử thi như là “bộ
bách khoa thư”, là “cuốn từ điển sống” của mỗi dân tộc” [26, tr348]. Tất
cả những gì quen thuộc với cuộc sống đều xuất hiện trong sử thi. Nó là
một tấm gương phản ánh một cách toàn diện đời sống của mỗi dân tộc ở
một thời đã qua, đồng thời nói lên khát vọng của dân tộc ấy về một cuộc
sống hạnh phúc và thịnh vượng. Người Ấn Độ nói rằng: “Cái gì không có
trong hai bộ sử thi Mahabharata và Ramayana thì không thể tìm thấy ở
bất kì nơi nào trên đất Ấn Độ”. Đó là một câu nói nổi tiếng, một sự khẳng
định đầy kiêu hãnh, một niềm tự hào lớn lao của người Ấn Độ. Vì thế
người Việt Nam có quyền tự hào và phải biết tự hào khi sở hữu một kho
tàng sử thi đồ sộ. Đóng góp một phần không nhỏ vào kho tàng sử thi đồ
sộ ấy là những áng sử thi Tây Nguyên.
Bởi vậy, tìm hiểu về những hình ảnh trong kho tàng sử thi Tây
Nguyên, cũng là một cách tiếp cận về cuộc sống của người dân Tây
Nguyên. Hiện nay, có nhiều đề tài nghiên cứu về sử thi Tây Nguyên,
3
nhưng với riêng sử thi Bana thì các đề tài nghiên cứu còn ít. Để tìm hiểu
1993, Đỗ Hồng Kì bảo vệ luận án Tiến sỹ Sử thi thần thoại Mnông; năm
1988 Phan Đăng Nhật bảo vệ luận án Tiến sỹ khoa học Những đặc điểm
cơ bản của sử thi khan ở Việt Nam Ngoài ra, phải kể đến những báo cáo
khoa học có giá trị của Đinh Gia Khánh, Tô Ngọc Thanh, Ngô Đức
Thịnh… được trình bày trong các cuộc hội thảo khoa học về sử thi Tây
Nguyên trong thời gian qua. Bên cạnh đó cũng phải nhắc đến một số bài
viết về sử thi đăng trên các tạp chí Nguồn sáng dân gian, Văn hoá dân
gian, Ngôn ngữ và đời sống, Nghiên cứu văn học… của các tác giả Phan
Đăng Nhật, Phạm Nhân Thành, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Chu Thái Sơn,
Nguyễn Chí Huyên, Nguyễn Quang Tuệ…
Năm 1997, Trung tâm Khoa học xã hội nhân văn quốc gia (nay là
Viện Khoa học xã hội Việt Nam) phối hợp với UBND tỉnh Đắc Lắc tổ
chức hội thảo Sử thi Tây Nguyên – Việt Nam. Tham gia hội thảo có các
bản báo cáo Sử thi ở Việt Nam của GS. Đinh Gia Khánh, Nhìn lại quá
trình sưu tầm, nghiên cứu sử thi Tây Nguyên trong bối cảnh sử thi Việt
Nam của GS.TSKH Phan Đăng Nhật, Vùng sử thi Tây Nguyên (một số
quan điểm cơ bản) của GS.TS Ngô Đức Thịnh, Sử thi thần thoại của
người Mơ Nông của TS. Đỗ Hồng Kỳ, Hơ mon, một loại thể diễn xướng
dân gian của người Bana ở An Khê, Gia Lai của GS.TSKH. Tô Ngọc
Thanh, Quá trình sử dụng thuật ngữ sử thi ở Việt Nam của GS.TS.
Nguyễn Xuân Kính, Cuộc cần hôn anh hùng trong sử thi Ê Đê và Mã Lai
của GS.TSKH Niculin… Năm 1998, kỷ yếu hội thảo này được Nhà xuất
bản Khoa học và xã hội, Hà Nội công bố với tên sách Sử thi Tây Nguyên.
Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng
sử thi Tây Nguyên được thực hiện từ năm 2001 đến năm 2007 có quy mô
lớn nhất trong quá trình sưu tầm sử thi Tây Nguyên. Trong thời gian này,
các chuyên gia đã tiến hành điều tra, khảo sát hàng nghìn buôn, làng
5
(bom, plây) thuộc 530 xã (phường, thị trấn) thuộc 56 huyện (thị xã, thành
phố) thuộc các tỉnh Tây Nguyên và vùng phụ cận. Kết quả là đã phát hiện
Cụ thể là những từ, cụm từ chỉ hình ảnh của động vật xuất hiện trong sử
thi Bana. Tác giả làm công việc thống kê định lượng và phân loại các từ
các cụm từ chỉ hình ảnh động vật một cách tương đối rõ ràng và hệ thống
hóa rồi sau đó nghiên cứu, lý giải. Đồng thời chúng tôi cũng xem xét cách
sử dụng những hình ảnh động vật của đồng bào Bana trong việc thể hiện
đời sống văn hoá của người Bana và khả năng phản ánh văn hoá của sử
thi Bana.
4.2. Giới hạn phạm vi t- liệu
Cho đến cuối năm 2007 đã có 75 tác phẩm in trong 62 tập thuộc
Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi
Tây Nguyên được thực hiện từ năm 2001 đến năm 2007 đã xuất bản (mỗi
tập khoảng 1000 trang, khổ 16 x 24cm). Hiện nay, việc công bố vẫn còn
tiếp tục với 25 tác phẩm sử thi Tây Nguyên trong thời gian 2009 – 2010.
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng năm tác phẩm sau:
- Giông, Giơ mồ côi từ nhỏ
- Giông trong Yuăn
- Chàng Kơ Tam Gring Mah
- Giông đánh quỷ Bung Lung
- Giông, Giơ đi săn chém cọp của Dăm dơ dang 7
Đây là một sự tập hợp ngẫu nhiên. Prốp khi xây dựng lí thuyết về
cấu trúc truyện cổ tích thần kỳ Nga, ông đã chọn ngẫu nhiên 100 truyện.
…
Trong các bảng tra cứu sắp xếp theo thứ tự A, B, C. Trong một văn
bản hình ảnh động vật xuất hiện nhiều lần thì ghi luôn số lần để tiện tra
cứu và theo dõi (Ví dụ : B5-15 nghĩa là văn bản 5 xuất hiện 15 lần hình
ảnh động vật nào đó).
Ở chương 2, tác giả lựa chọn phương pháp liên ngành: văn học,
văn hoá học, sử học, dân tộc học, xã hội học… để tìm hiểu hình ảnh động
8
vật trong sử thi Bana. Tìm hiểu chức năng, cách diễn đạt trong sử thi
Bana về các hình ảnh này… qua đó phần nào hiểu thêm về con người, về
đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng của người dân Bana.
Ở chương 3 tiến hành phân tích, tổng hợp các hình ảnh động vật để
khái quát về mối quan hệ giữa động vật với con người, tộc người Bana
trên vùng đất Tây Nguyên.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận
văn gồm ba chương:
Chƣơng 1: Số liệu thống kê hình ảnh động vật trong kho tàng sử thi
Bana
Chƣơng 2: Hình ảnh động vật trong kho tàng sử thi Bana
Chƣơng 3: Mối quan hệ giữa hình ảnh động vật trong sử thi với đời
sống, văn hóa, tâm linh ngƣời Bana
quanh thị xã Kon Tum, nhóm Tơ Lô ở An Khê, Mang Yang (tỉnh Gia
Lai), nhóm Rơngao ở quanh thị xã Kon Tum, Đắc Tô (tỉnh Kon Tum),
nhóm Giơlơng ở huyện Kon Plông, thị xã Kon Tum (tỉnh Kon Tum)…
Tuy được chia ra nhiều nhóm địa phương khác nhau nhưng người Bana
vẫn có một truyền thống văn hoá chung. Truyền thống văn hoá ấy được
thể hiện khá rõ nét trong phương thức sản xuất, phong tục tập quán, lễ
hội, văn học nghệ thuật, tín ngưỡng tôn giáo… Hình thái tổ chức xã hội
của người Bana là plei (làng), làng là đơn vị cư trú của các gia đình phụ
hệ nhưng người phụ nữ vẫn đóng vai trò quan trọng trong mọi việc của
gia đình. Mỗi làng có từ 20 đến 70 hộ gia đình. Giữa làng có một ngôi
10
nhà rông – nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Để điều chỉnh công việc
trong làng là hội đồng già làng, đứng đầu là chủ làng. Già làng là người
thay mặt cho cả làng quyết định các công việc chung như việc làm nhà
rông, dời chuyển làng, tổ chức lễ hội, sản xuất, chiến đấu đến việc xử
phạt những cá nhân hay gia đình vi phạm những điều trái với luật tục.
1.2. Sử thi Bana
Người Tây Nguyên nói chung, người Bana nói riêng đều quan
niệm “vạn vật hữu linh”. Tất cả các sự vật hiện tượng trong tự nhiên và
chính bản thân con người đều có linh hồn. Trong thế giới có một lực
lượng vô hình ảnh hưởng quyết định tới cuộc sống của con người đó là
Yang. Các Yang thường được đồng bào nhắc tới nhiều là: Yang Dak
(Thần nước), Yang Công (Thần núi), Yang Nam (Thần nhà), Yang Rông
(Thần nhà rông), Yang Chiêng (Thần cồng chiêng), Yang T’rưng…đặc
biệt Bok Keidei là vị thần tối cao. Ở đây, mối quan hệ giữa người với các
Yang rất bình đẳng, tác động qua lại, gắn bó với nhau một cách bền vững
tạo nên vẻ đẹp hồn nhiên của cuộc sống.
Người Bana có một đời sống tinh thần, tín ngưỡng phong phú đặc
sắc. Trí thông minh và óc tưởng tượng phong phú của các nghệ nhân
ngoài của tự nhiên mà còn thâm nhập rất sâu vào đời sống tinh thần của
con người.
II. SỐ LIỆU THỐNG KÊ TÊN HÌNH ẢNH ĐỘNG VẬT XUẤT HIỆN
TRONG SỬ THI BANA
2.1. Bảng số liệu thống kê
Để tiện cho việc tra cứu, tác giả thống kê tên hình ảnh động vật
theo 5 bảng dữ liệu, bao gồm Tên hình ảnh động vật, Phân nhóm động
vật theo tần số xuất hiện, Phân nhóm động vật theo góc độ là vật thần và
12
không phải là vật thần, Tên hình ảnh động vật không có thực, Hình ảnh
các động vật xuất hiện nhiều trong sử thi Bana.
2.1.1. Bảng 1: Tra cứu về tên hình ảnh động vật xuất hiện trong sử thi
của dân tộc Bana (khảo sát qua 5 văn bản, theo thứ tự A,B,C… ). Bảng
tra cứu gồm những thông tin.
1. Số thứ tự
2. Tên hình ảnh động vật
3. Tần số xuất hiện
4. Trong các văn bản (5 văn bản sử thi được khảo sát) lần lượt
được đánh thứ tự:
B1- Giông, Giơ mồ côi từ nhỏ
B2- Giông trong Yuăn
B3- Chàng Kơ Tam Gring Mah
B4- Giông đánh quỷ Bung Lung
B5- Giông, Giơ đi săn chém cọp của Dăm dơ dang
Bảng 1: Tên hình ảnh động vật xuất hiện trong sử thi Bana
6
Cá
249
B1-56; B2-110; B3-55; B4-14; B5–14
7
Cá sấu
4
B1- 3; B3–1
8
Chim
96
B1-23; B2-18; B3-33; B4-16; B5–6
9
Chó
89
B1– 44; B3-1; B5-44
10
Chó sói
1
B1-1
11
Chuột
24
B1-3 ; B2-10; B3-1; B4-5; B5–5
12
Cò
3
B4-1; B5–2
13
Cóc
B1-1; B4-3
21
Đỉa
1
B4-1
22
Ếch
25
B1–17; B4-4; B5-4
23
Gà
146
B1-46; B2-32; B3-28; B4-18; B5–22
24
Gấu
2
B1– 2
25
Gián
1
B3–1
26
Hến
2
B4–2
27
Hổ
14
B1–12; B3-1; B4-1
28
B2–11; B4-6
36
Nhái
8
B1-6; B4–2
37
Nhện
1
B3–1
38
Nhím
1
B2–1
39
Nòng nọc
1
B2-1
40
Mang
22
B1–21; B4-1
41
Mèo
36
B5–36
42
Mối
7
B1-2; B3-3; B4-1; B5-1
43
B2–1
51
Ruồi
4
B2-3; B4–1
52
Sâu
7
B2-5; B5–2
53
Sò
3
B1-1; B4–2
54
Sóc
6
B1-2; B4-1; B5-3
55
Sư tử
40
B1– 40
56
Thằn lằn (rắn
mối)
6
B3-1; B4–5
57
Thuồng luồng
4
B1–4
Giông, Giơ mồ côi từ nhỏ có số lượng cũng như tần số xuất hiện hình
ảnh các loài động vật nhiều nhất.
2.1.2. Bảng 2: Phân nhóm động vật theo tần số xuất hiện từ cao xuống
thấp.
Trên cơ sở bảng tra cứu dữ liệu đã thiết lập, tác giả đi vào phân
nhóm các hình ảnh theo tần số xuất hiện (tính từ trên xuống dưới). Cụ thể
chia ra làm ba khu vực tần số xuất hiện: cao, trung bình, thấp
Bảng 2 gồm những thông tin:
1. Loại tần số
2. Số thứ tự
3. Loài động vật
4. Tần số xuất hiện
Bảng 2: Phân nhóm động vật theo tần số xuất hiện từ cao xuống thấp
LOẠI TẦN SỐ
STT
LOÀI ĐỘNG VẬT
TẦN SỐ XUẤT
HIỆN
Cao trở lên
( 70 lần trở lên)
1
2
3
4
4
5
6
7
8
Sư tử
Mèo
Rắn
Cua
ếch
Chuột
Bướm bướm
Mang
40
36
31
27
25
24
23
22
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
Ngựa
Dê
Voi
Hổ
Ong
Trăn
Rái cá
Bò tót
Kiến
Nai
Tôm
ốc
Nhái
Khỉ
Sâu
Mối
Diều hâu
Sóc
Thằn lằn (Rắn mối)
7
7
7
6
6
6
5
5
4
4
4
4
4
4
3
3
3
2
2
2
2
1
1
16
37
38
39
40
41
42
là vật thần.
Bảng này gồm có những thông tin sau:
1. Số thứ tự
2. Tên loài động vật
3. Tần số xuất hiện /5 văn bản
4. Vật thần
Tần số xuất hiện
Trong các văn bản
5. Không phải vật thần
Tần số xuất hiện
Trong các văn bản
Bảng 3: Phân nhóm động vật theo góc độ là vật thần và không phải là vật thần
STT
LOÀI
ĐỘNG
VẬT
TẦN SỐ
XUẤT
HIỆN
VẬT THẦN
KHÔNG PHẢI
VẬT THẦN
TẦN
SỐ
XUẤT
HIỆN
TRONG
CÁC
VĂN
2
B4-2
4
Bò tót
11
10
B2-10
1
B1-1
5
Bươm
bướm
23
17
B2-17
6
B2-3; B5-3
6
Cá
249
43
B1-1;
B2- 42
206
B1-55; B2-
48; B3-55;
B4-14;
B5-14
7
B1-1
11
Chuột
24 24
B1-3; B2-10;
B3-1; B4-5;
B5- 5
12
Cò
3 3
B4-1; B5-2
13
Cóc
1 1
B4-1
14
Con ăn
mày
1
B2-12; B3-4
19
Diều hâu
6 6
B1-2; B3-4
20
Đom đóm
4 4
B1-1; B4-3
21
Đỉa
1 1
B4-1
22
ếch
25 25
B1-17; B4-4;
B5-4
B4-2
27
Hổ
14 14
B1-12; B3-1;
B4-1
28
Hươu
4 4
B1-1; B3-2;
18
B5-1
29
Khỉ
7 7
B1-4; B4-3
30
Kì đà
4 11
B1-3; B3-4;
B4-1; B5-3
35
Ngựa
17 17
B2-11; B4-6
36
Nhái
8 8
B1-6; B4-2
37
Nhện
1 1
B3-1
38
Nhím
1
1
B1-1; B3-3;
B4-1; B5-1
43
Muỗi
3 3
B3-1; B4-2
44
Ong
13 13
B2-4; B3-7;
B4-2
45
Ốc
9 9
B1-1; B3-1;
B4-7
46
Quạ
5
B2-1
51
Ruồi
4 4
B2-3; B4-1
52
Sâu
7 7
B2-5; B5-2
53
Sò
3 3
B1-1; B4-2
54
Sóc
6 6
B1-2; B4-1;
B5- 3
B4-3
59
Trâu
127
11
B2-11
116
B1-14; B2-
19
29; B3-30;
B4-17; B5-
26
60
Trăn
13
12
B2-12
1
B1-1
61
Trĩ
1 1
B1-1
62
Voi
16
TÊN HÌNH
ẢNH ĐỘNG
VẬT
TẦN SỐ XUẤT
HIỆN/5 VĂN BẢN
KHẢO SÁT
TRONG CÁC VĂN BẢN
1
Rồng
1
B1–1
2
Thuồng luồng
4
B1–4
Như vậy, hình ảnh động vật không có thật trong cuộc sống được
các nghệ nhân Bana đưa vào sử thi khá ít so với các loài vật có thật
(chiếm 3,1% trong tổng số các loài vật và 0,32% trong tổng số tần xuất
xuất hiện trong 5 văn bản sử thi được chọn khảo sát). Tuy nhiên, hình ảnh
các loài động vật được nhân cách hóa thành thần như chàng Bò tót - Thưk
Kưl, nàng Bướm bướm - Pơ lai, chàng Nhím - Bok Khem, Rái cá - Phei,
Cá trê - Sơ Kênh, Cá Chép Hồng - Ka unh, trâu đực có bảy đuôi, heo bảy
20
lần thay nanh, gà mào rộng bằng cái nia… xuất hiện nhiều trong các văn
bản sử thi Bana.
2.1.5. Bảng 5: Hình ảnh các động vật xuất hiện nhiều trong sử thi Bana
27
22
26
Tổng cộng
249
116
146
127
2.2. Những nhận xÐt ban đầu qua các bảng thống kê
Sử thi là bách khoa thư về một dân tộc. Vì vậy khi đọc sử thi Bana,
chúng ta thấy được cuộc sống sinh hoạt, đời sống tinh thần của người
Bana. Và việc sử dụng những hình ảnh động vật trong sử thi Bana cũng
như là một sự thể hiện những những nét sinh hoạt, phong tục, tập quán và
tín ngưỡng của người Bana.
Qua thống kê khảo sát 5 văn bản sử thi Bana: B1- Giông, Giơ mồ côi
từ nhỏ, B2- Giông trong Yuăn, B3- Chàng Kơ Tam Gring Mah, B4-
Giông đánh quỷ Bung Lung, B5- Giông, Giơ đi săn chém cọp của Dăm
dơ dang, tác giả thu được một số lượng hình ảnh động vật là 63 hình ảnh,
bao gồm 1548 lần xuất hiện trong các văn bản sử thi. Như vậy, hình ảnh
động vật trong sử thi Bana chiếm một số lượng không nhỏ về tần số xuất
hiện. Và số loài cũng cho thấy hình ảnh động vật được thể hiện hết sức đa
dạng và phong phú.
Về số lần xuất hiện các hình ảnh động vật thì không có sự đồng đều
thậm chí là có sự chênh lệch khá lớn. Có những hình ảnh xuất hiện với số
lần xuất hiện cao như cá (249 lần ); gà (146 lần); trâu (127 lần), bò (116
21
lần)… Trong khi đó có rất nhiều hình ảnh chỉ xuất hiện có 1 lần như: đỉa,
nòng nọc, nhện, gián, lươn… Điều đó khẳng định những con vật gần gũi
với con người, thường xuyên tiếp xúc với con người dễ dàng đi vào sử thi.
tác giả đã tiến hành sắp xếp các hình ảnh động vật tính từ cao xuống thấp.
Cụ thể, tác giả tiến hành chia các hình ảnh động vật biểu hiện ở 3 cấp độ
khác nhau:
- Khu vực có tần số xuất hiện cao: 70 lần trở lên
- Khu vực có tần số xuất hiện trung bình: 20 - 69 lần
- Khu vực có tần số xuất hiện thấp: 1- 19 lần
Trong bảng dữ liệu, những thông số về tên hình ảnh động vật, số lần
xuất hiện hình ảnh, đơn vị văn bản có số lần xuất hiện hình ảnh đó đều
được thống kê một cách tỉ mỉ.
- Khu vực có hình ảnh xuất hiện với tần số cao (70 lần trở lên):
Khu vực có hình ảnh động vật xuất hiện với tần số cao có 8 hình ảnh
(chiếm 12,7 % trên tổng số các hình ảnh). Những xét về số lần xuất hiện
thì chúng lại được thể hiện bằng những con số rất cao với tổng số 1055
lần xuất hiện ( chiếm 68,2 % tổng số lần xuất hiện các loài cộng lại).
Trong khu vực này số loài vật nuôi chiếm con số áp đảo với 5 hình
ảnh (chiếm 62,5% trên tổng số các hình ảnh tổng khu vực): Gà (146 lần),
Trâu (127 lần), Bò (116 lần), Lợn (120 lần), Chó (89 lần). Loài vật không
phải là vật nuôi đóng góp 3 hình ảnh: Cọp (110 lần), Chim (96 lần), Cá
(249 lần). Tại sao số vật nuôi chiếm số lượng lớn như vậy, tác giả sẽ lý
giải kĩ ở phần sau.
- Khu vực hình ảnh xuất hiện với tần số trung bình (20 - 69 lần):
Khu vực này có tất cả là 8 hình ảnh (chiếm 12,7% tổng số các hình
ảnh) và có số lần xuất hiện là 228 lần (chiếm 14,7% tổng số xuất hiện các
hình ảnh). ở khu vực này sự chênh lệch về số lần xuất hiện các hình ảnh
động vật không đáng kể mà đều đặn nối tiếp nhau.