Từ tiết trả bài nâng cao chất lượng viết văn cho học sinh - Pdf 25

Từ tiết trả bài nâng cao chất lượng viết văn cho học sinh
MỤC LỤC
Trang
A. Phần nội dung
1. Lí do chọn đề tài 2
2. Mục đích nghiên cứu 4
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Giới hạn đề tài 5
B. Nội dung và những giải pháp 5
Chương I: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài nghiên cứu 5
I. Cơ sở pháp lí 5
II. Cơ sở lí luận 5
III. Cơ sở thực tiễn 6
Chương II: Thực trạng của đề tài 7
1. Những thuận lợi và khó khăn 7
1.1. Thuận lợi 7
1.2. Khó khăn 7
Chương III: Nội dung và biện pháp thực hiện 8
1- Chấm bài - trả bài là một khâu quan trọng trong q trình dạy học bộ mơn. 8
2- Những lỗi cơ bản học sinh thường mắc phải qua các bài kiểm tra 11
2.1- Lỗi dùng từ sai 12
2.2- Lỗi viết câu khơng đúng ngữ pháp 14
2.3- Lỗi diễn đạt thiếu chặt chẽ 15
2.4- Các lỗi khác trong diễn đạt và hành văn 16
3- Những u cầu về diễn đạt và một số cách diễn đạt hay trong văn nghị luận 16
3.1- Cách dùng từ chính xác độc đáo 17
3.2- Viết câu linh hoạt và viết văn có hình ảnh 18
3.3- u cầu về giọng văn và sự thay đổi giọng văn trong bài viết 19
3.4- Các u cầu khác 20

đánh giá nội dung kiến thức mà phải đánh giá đúng mức kĩ năng làm bài của học sinh: từ
việc nhỏ nhất như chữ viết, viết đúng chính tả, đến cách dùng từ, viết câu, dựng đoạn, viết
bài hồn chỉnh
Trong q trình dạy học, kiểm tra đánh giá là một khâu rất quan trọng. Kiểm tra,
đánh giá nhằm thu được, đánh giá đúng thơng tin về trình độ khả năng học tập của học
sinh. Mục đích chính là hướng tới điều chỉnh hoạt động dạy và học bộ mơn. Cho nên kiểm
Người thực hiện: Đỗ Thơng
2
Từ tiết trả bài nâng cao chất lượng viết văn cho học sinh
tra, đánh giá có quan hệ gắn bó hữu cơ, mật thiết với phương pháp dạy học, thúc đẩy tích
cực trong việc nâng cao chất lượng học tập, góp phần đánh giá đúng chất lượng đào tạo.
Kiểm tra đánh giá chính xác sẽ thúc đẩy sự phát triển q trình đổi mới dạy học. Qua đánh
giá, kiểm tra, trả bài giáo viên hướng dẫn học sinh rút ra được nhiều kinh nghiệm cách viết
văn, hạn chế những khuyết điểm vi phạm, từ đó phát huy được năng lực tư duy, sáng tạo
của học sinh góp phần nâng cao chất lượng viết văn.
Thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH10, ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc
hội khóa X; Chỉ thị số 14/2001/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ về đổi mới chương trình
Giáo dục phổ thơng; Chỉ thị số 30/1998/CT-TTg về điều chỉnh chủ trương phân ban ở phổ
thơng trung học; Chỉ thị số 40-CTTW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về xây dựng, nâng
cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục, từ năm học 2006-2007,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai thực hiện chương và sách giáo khoa mới bậc Trung
học phổ thơng trên tồn quốc. Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của nhà nước, của ngành
đã khẳng định mục tiêu cơng cuộc đổi mới giáo dục nhằm: “nâng cao chất lượng giáo dục
tồn diện thế hệ trẻ, đáp ứng u cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ cơng nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước…tiếp cận trình độ giáo dục phổ thơng ở các nước phát triển trong
khu vực và thế giới”; “khắc phục những hạn chế của chương trình, sách giáo khoa, tăng
cường tính thực tiễn, kĩ năng thực hành, năng lực tự học; coi trọng kiến thức khoa học xã
hội và nhân văn”. Đồng thời chỉ thị số 3399/CT-BGDĐT ngày 6/8/2010 của Bộ giáo dục
và Đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm năm học 2010-2011 với chủ đề “Năm học tiếp tục đổi
mới quản lí và nâng cao chất lượng giáo dục”. Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ

4- Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung đi sâu làm rõ vấn đề: chấm bài và trả bài, những lỗi học sinh
thường mắc phải, cách sữa bài, kinh nghiệm viết tốt một bài văn Qua việc nghiên cứu
góp phần nâng cao hiệu quả việc dạy và học văn theo phương pháp đổi mới.
5- Phương pháp nghiên cứu
Người thực hiện: Đỗ Thơng
4
Từ tiết trả bài nâng cao chất lượng viết văn cho học sinh
Trên cơ sở thực tế cơng việc giảng dạy, và qua các kỳ thi thường niên, cũng như
kết quả thi tốt nghiệp những năm qua, đề tài vận dụng các phương pháp thống kê, phân
tích, so sánh trên số liệu đạt được từ thực tế giảng dạy các lớp của bản thân

6- Giới hạn đề tài
Phạm vi bài viết kinh nghiệm của một cá nhân, tơi tập trung các vấn đề cần trao
đổi:
+ Chấm bài - trả bài là một khâu quan trọng trong q trình dạy học bộ mơn.
+ Những lỗi cơ bản học sinh thường gặp qua các bài kiểm tra
+ Những u cầu về diễn đạt và một số cách diễn đạt hay trong văn nghị luận.
+ Hiệu quả mang lại từ việc đổi mới cách chấm và trả bài
+ Một số kiến nghị

B-NỘI DUNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
Chương I
Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài nghiên cứu.
I- Cơ sở pháp lí
Các văn bản liên quan đến đề tài:
- Sách giáo khoa Ngữ văn 10,11,12 chương trình chuẩn
- Sách giáo khoa Ngữ văn 10,11,12 chương trình nâng cao
- Sách giáo viên Ngữ văn 10,11,12 chương trình chuẩn
- Sách giáo viên Ngữ văn 10,11,12 chương trình nâng cao

việc dạy học bộ mơn Ngữ văn, ngồi việc cung cấp kiến thức cho học sinh, việc ra đề
kiểm tra, chấm bài là một khâu rất quan trọng trong q trình dạy học bộ mơn nhằm nâng
cao chất lượng dạy và học Với lòng đam mê, cùng việc tìm tòi học hỏi đúc kết kinh
nghiệm, sự đồng thuận của tập thể tổ bộ mơn, trong các năm qua, bản thân cùng tập thể đã
mang lại những kết q đáng khích lệ trong dạy và học tập bộ mơn. Tỉ lệ tốt nghiệp bộ
Người thực hiện: Đỗ Thơng
6
Từ tiết trả bài nâng cao chất lượng viết văn cho học sinh
mơn ngày càng cao, số lượng học sinh giỏi văn ngày càng nhiều, học sinh đỗ vào các
trường đại học càng ngày càng tăng. Để được những kết quả ấy, chúng tơi thấy rằng một
trong những ngun nhân dẫn đến hiệu quả ấy chính là việc hình thành cho các em một
phương pháp học tập, trong đó có phương pháp viết một bài văn. Trên thực tế các em đã
rút ra nhiều kinh ngiệm viết văn bổ ích từ các tiết trả bài của giáo viên.
Chương II
Thực trạng của đề tài nghiên cứu
1.Những thuận lợi và khó khăn.
1.1. Thuận lợi:
- Các yếu tố chủ quan có ảnh hưởng tích cực tới đề tài:
+ Từng là tổ trưởng nhiều năm và giáo viên đứng lớp có nhiều kinh nghiệm, bản
thân tham gia chấm thi tốt nghiệp Trung học phổ thơng nhiều khóa, cùng việc nghiên cứu
giảng dạy, tơi dành nhiều thời gian và tâm huyết để nghiên cứu suy ngẫm về chun mơn,
về tính hiệu quả của giờ lên lớp, đặc biệt là tiết dạy trả bài tập viết làm văn cho học sinh.
+ Bản thân chịu khó tìm tòi, học hỏi nâng cao trình độ nghiệp vụ chun mơn,
đọc tham khảo nhiều tài liệu, các sách nghiên cứu lý luận phê bình văn học, các tài liệu
tham khảo về cách viết văn hay…các chun đề bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp… Tiếp
cận và tích lũy, sưu tầm nhiều dạng đề thi tốt ngiệp phổ thơng trung học, đề thi học sinh
giỏi tỉnh, học sinh giỏi quốc gia, các đề học sinh giỏi ở các tỉnh khác.v.v có ghi chép,
tích lũy, cập nhật thường xun.
+ Bản thân tích cực chịu khó trao đổi với đồng nghiệp trong và ngồi trường để
học hỏi và rút ra được những kinh nghiệm chấm bài-sửa bài - trả bài rất cần thiết để áp

Nội dung và biện pháp thực hiện
1- Chấm bài - trả bài là một khâu quan trọng trong q trình dạy học bộ mơn.
Người thực hiện: Đỗ Thơng
8
Từ tiết trả bài nâng cao chất lượng viết văn cho học sinh
Trong q trình dạy học, quy trình chấm và trả bài tập làm văn là một quy trình
đầy cơng phu tỉ mỉ, gắn liền với tinh thần trách nhiệm và lương tâm nghè nghiệp, tinh u
thương q trọng đối với học sinh. Thực trạng phổ biến trong thời gian qua, và hiện nay ở
một số nơi, số ít giáo viên chưa chú trọng khâu kiểm tra đánh giá bài làm của học sinh.
Hoặc kiểm tra, đánh giá chưa tồn diện còn phiến diện cục bộ, đề cao phương diện này, hạ
thấp mặt khác: Chẳng hạn đánh giá kiểm tra việc tiếp nhận một tác phẩm văn chương có
giáo viên chỉ chú ý mặt nội dung tư tưởng, mà khơng chú ý đến khâu diễn đạt của học
sinh. Hay ngược lại, chỉ coi trọng kĩ năng diễn đạt sao cho trau chuốt bỏng bẩy, khơng chú
ý đến tri thức lí luận…Hoặc vẫn còn biểu hiện chạy theo thành tích kiểm tra, đánh giá cho
điểm một cách chủ quan dễ dãi theo “tỉ lệ khốn” do cá nhân, tổ, nhà trường đề ra. Hoặc
kiểm tra, đánh giá theo kiểu bài chất lượng đầu năm: chấm thật khắc khe, cho nhiều điểm
yếu kém với quan điểm để học sinh chịu học, cuối kì hay cuối năm nâng điểm để hồn
thành chỉ tiêu đạt kết quả “dạy học có tiến bộ”. Hoặc kiểm tra, đánh giá cho điểm theo
kiểu bình qn “cào bằng”, đánh giá cho điểm chung chung, hiếm thấy điểm 9-10, thường
phổ biến là điểm 5-6-7, vì thế khơng có sự phân hố. Cũng có khơng ít trường hợp giáo
viên chưa chú trọng vào khâu chấm - trả bài, chưa thấy được tầm quan trọng của việc
chấm - trả bài, chấm qua loa, hoặc để dồn gần tới tiết trả bài chấm vội vàng, thiếu cẩn thận
nên khơng thấy được những bài viết sáng tạo, hoặc khơng phát hiện và tổng hợp được
những thiếu sót trong bài viết, bỏ qua nhiều lỗi mắc phải của từng học sinh Đánh giá đúng
thực chất bài làm của học sinh, chỉ ra những ưu khuyết điểm của từng bài sẽ tạo niềm tin
cho học sinh có hứng thú trong học tập, từ đó nâng cao chất lượng viết văn nói riêng,
mang lại hiệu quả cao trong dạy và học bộ mơn. Do vậy cần có một quy trình chấm - trả
bài đúng đắn, khoa học khơng chỉ thể hiện trình độ năng lực, tinh thần trách nhiệm của
giáo viên, còn giúp học sinh nắm chắc phương pháp làm bài.
Trong qua trình chấm bài, cách đánh giá qua lời phê rất quan trọng, có những lời

học sinh xác định lại u cầu về nội dung, thể loại, phạm vi tư liệu. Dựa vào kết quả bài
làm, giáo viên tổng kết tình hình làm bài của học sinh trên mọi mặt: ưu -khuyết điểm
Người thực hiện: Đỗ Thơng
10
Từ tiết trả bài nâng cao chất lượng viết văn cho học sinh
chính, về nội dung kiến thức, hình thức bài làm, kết quả đạt được, tinh thần thái độ làm bài
của học sinh những bài viết sáng tạo của cá nhân được tun dương, những hiện tượng
đáng chú ý. Dựa trên u cầu của đề, giáo viên hướng dẫn học sinh xây dựng dàn bài hồn
chỉnh. Học sinh sẽ đối chiếu với dàn bài để tự nhận xét về những thiếu sót trong bài viết
của mình. Một vấn đề quan trọng ở tiết trả bài là giáo viên dành nhiều thời gian hướng dẫn
học sinh tự sửa chữa những lỗi sai phạm, thiếu sót về dùng từ, viết câu, dựng đoạn, hành
văn, thậm chí cả hình thức chữ viết…Cuối cùng giáo viên chọn những bài văn hay tiêu
biểu đọc trước lớp, hoặc những đoạn văn viết tốt cho cả lớp nghe để học tập rút kinh
nghiệm. Giáo viên cần tạo một khơng khí thân mật, dân chủ để học sinh có thể u cầu
giáo viên giải đáp những thắc mắc về điểm số và cả nội dung bài viết…Có như thế, giáo
viên mới tạo điều kiện tốt để học sinh hồn thiện hơn về những bài tập làm văn tiếp theo
của mình.

2. Những lỗi cơ bản học sinh thường mắc phải qua các bài kiểm tra
Một bài văn hay trước tiên phải đảm bảo đầy đủ u cầu về nội dung, đồng thời
phải có những ý sâu sắc, mới mẻ, phù hợp với u cầu của đề. u cầu tiên quyết của bài
văn hay là khâu diễn đạt. Muốn có năng lực diễn đạt tốt, cần có hai điều kiện: một là tư
duy ( suy nghĩ thầm trong đầu) sáng sủa mạch lạc, sắc sảo và hai là khả năng vận dụng
ngơn ngữ (phương tiện) để thể hiện một cách trung thành, chính xác, sáng tỏ những suy
nghĩ thầm kín của mình. Để đạt được điều ấy, về mặt diễn đạt phải đạt những u cầu
chung: như cách dùng từ, đặt câu đúng ngữ nghĩa, đúng ngữ pháp, hành văn trong sáng,
phù hợp với nội dung biểu đạt, thể hiện trung thành ý nghĩ và tình cảm của bản thân.
Trên thực tế năng lực diễn đạt của học sinh nói chung, năng lực diễn đạt trong
việc viết các kiểu văn bản ở nhà trường còn nhiều điểm yếu cần khắc phục. Tỉ lệ những
bài mắc lỗi sai còn nhiều, số lượng bài điểm dưới trung bình khơng ít, bài điểm 8-9-10 rất

48bài
BV Số 2
23 47,91 20 41,66 27 56,25 11 22,9
1
51bài
BV Số 3
18 35,29 21 41,17 30 58,82 9 17,6
4
50bài
BV Số 4
13 26 19 38 29 58 9 18
2.1. Qua bảng thống kê những lỗi cơ bản về viết văn của học sinh, chúng tơi thấy:
khi hành văn, học sinh thường mắc lỗi dùng từ sai chuẩn mực, khơng đúng chính tả, sử
dụng từ khơng đúng nghĩa, khơng hợp phong cách, hiện tượng lặp từ, thừa từ, sử dụng từ
mang màu sắc địa phương nhiều. Chẳng hạn, dẫn chứng một số câu văn tiêu biểu sau:
- Nhà thơ Tố Hữu đã làm nên bài thơ chữ tình Việt Bắc sau khi cuộc kháng chiến
Điện Biên Phủ thắng lợi…( Bài làm của học sinh-Bài viết số 4). (1)
Người thực hiện: Đỗ Thơng
12
Từ tiết trả bài nâng cao chất lượng viết văn cho học sinh
- Sau khi rời chiến trường Hà Nội nhà thơ trở về chiến khu Việt Bắc nhà thơ đã
sáng tác bài thơ Việt Bắc ( Bài làm của học sinh-Bài viết số 4). (2)
- Tình u q hương đất nước của Nguyễn Khoa Điềm được miêu tả ở ~ (những)
phương diện khác nhau: từ cái gốc nhìn địa lí, lịch sử, và chiều sau văn hóa phong tục tập
qng ( Bài làm của học sinh-Bài viết số 3). (3)
- Tơ Hồi đã thành cơng trong viêc xây dựng hình ảnh điển hình ảnh điển hình về
người phụ nữ Việt Nam bị đẩy vào bước đường cùng bởi chế độ phong kiến miền núi…
( Bài làm của học sinh-Bài viết số 3). (4)
- Lời đánh giá, nhận định ấy có đúng khơng ? Đúng q đi chứ! Nào chúng ta hãy
cùng nhau đi phân tích nhé để làm rõ vấn đề ! ( Bài làm của học sinh-Bài viết số 2) (5)

sinh
d, sử dụng từ khơng đúng nghĩa, sai chuẩn mực: học sinh dùng từ làm nên chưa
chính xác thay từ sáng tác (1) cuộc kháng chiến=chiến dịch (1); chiến trường =thủ đơ (2)
trở về thay bằng từ lên (2); ở (3) dùng từ miêu tả chưa chuẩn phải dùng từ thể hiện; ở (4)
sử dụng từ hình ảnh điển hình chưa chuẩn mực nên dùng hình tượng điển hình; học sinh
dùng từ gió bão mưa phùng (6) nên thay bằng từ mưa sa bão táp, ở (7) từ say đắm nên
thay từ tha thiết; từ quảng đại (8) khơng chuẩn, chưa đúng nghĩa, phải là từ vĩ đại…
2.2. Lỗi viết câu khơng đúng ngữ pháp, thiếu các thành phần chính, thiếu vế trong
một câu ghép, viết câu khơng rõ nghĩa. Đây cũng là lỗi phổ biến học sinh thường mắc
phải. Qua thống kê, chúng tơi thấy hiện tượng học sinh viết câu “cụt”, câu “q”, câu
thiếu thành phần, thiếu vế và viết sai quan hệ giữa các bộ phận câu.
a, Lỗi viết câu sai ngữ pháp, viết thiếu cả thành phần chủ ngữ lẫn vị ngữ:
- chẳng hạn: Sau những năm thángchìm nổi khổ đau, bằng sự nổ lực của bản
thân, vượt qua những thủ đoạn ác độc của nhà Thống Lí Pá Tra, với sự đồng cảm và tình
u thương đã đưa Mị thốt khỏi ách thống trị phong kiến miền núi…(Bài làm của học
sinh-Bài viết số 3).
b, Lỗi viết thiếu thành phần chủngữ:
Người thực hiện: Đỗ Thơng
14
Từ tiết trả bài nâng cao chất lượng viết văn cho học sinh
- Là nguồn cảm hứng sáng tác của các nhà văn nhà thơ. Đất nước vẫn là đề tài
qn xuyến của văn học Việt Nam……( Bài làm của học sinh-Bài viết số 3). Cách sữa là
thêm vào đối tượng, chủ thể làm chủ ngữ
- Qua bài thơ Đất nước cho ta thấy cho thấy niềm tự hào của con người Việt
Nam về đất nước. ( Bài làm của học sinh-Bài viết số 3). ( Học sinh nhầm thành phần trạng
ngữ là chủ ngữ - cách sữa bỏ từ qua)
c, Lỗi viết thiếu thành phần vị ngữ
- Hồ Chí Minh, Người cha già của dân tộc, của non sơng đất nước, với một tấm
lòng u nước thiết tha ( Bài làm của học sinh-Bài viết số 2) . Học sinh nhầm các thành
phần chú thích, bổ sung, thành phần định ngữ là vị ngữ. Cách sữa là thêm vào nội dung

học sinh chiếm một tỉ lệ lớn.
2.4. Các lỗi khác trong diễn đạt, hành văn.
Hiện tượng học sinh khi viết văn còn phạm nhiều lỗi cơ bản khác như sử dụng từ
ngữ khn sáo khoa trương vì khơng chịu suy nghĩ để tìm từ thích hợp và chỉ dự vào một
cơng thức kết hợp từ cho sẵn, hoặc viết theo lối bắt chước theo những bài văn mẫu. Nhiều
khi các em sa vào lối viết khoe chữ, dùng chữ sáo mòn bất kể có phù hợp với nội dung
diễn đạt hay khơng. Thậm chí nhiều học sinh khơng hiểu đúng từ mà vẫn dùng bừa, dùng
ẩu. Ngồi ra có học sinh khi viết còn nhận định một cách cực đoan, dùng từ cảm thán tràn
lan.
Có thể thấy một lỗi phổ biến nữa ở bài viết của học sinh là các em chưa biết tách
đoạn. Nhiều em viết bài văn một đoạn, thân bài một đoan, hoặc hai đoạn. Bố cục bài viết
chưa hài hòa cân xứng, phân bố các ý khơng đều, khơng xác định luận điểm chính, luận
điểm phụ…
3- Những u cầu về diễn đạt và một số cách diễn đạt hay trong văn nghị luận.
Văn nghị luận là loại văn của tư duy lơ gíc, mang tính thuyết phục cao. Để diễn
đạt tốt, đạt u cầu một bài văn hay, thuyết phục người đọc, ngồi u cầu xác định và sắp
xếp các ý, diễn đạt ý thành lời bằng những từ ngữ, câu văn đoạn văn chính xác sinh động,
Người thực hiện: Đỗ Thơng
16
Từ tiết trả bài nâng cao chất lượng viết văn cho học sinh
truyền cảm, giáo viên cần cung cấp cho học sinh những u cầu về tính chính xác, chặt
chẽ, tính biểu cảm tránh viết văn với cách dùng từ khn sáo, khoa trương khoe chữ khi
diễn đạt
Thực tiễn từ các tiết chấm -trả bài, chúng tơi đúc rút một số u cầu về diễn đạt
và cách diễn dạt hay khi viết văn nhằm mang lại hiệu quả cao. Qua bài viết kiểm tra, giáo
viên nhận xét tỉ mỉ chu đáo từng vấn đề: về kiến thức, kĩ năng, khuyến khích bằng những
lời nhận xét động viên khích lệ, biểu dương mặt tốt, sáng tạo, độc đáo. Qua chấm bài, giáo
viên phát hiện sở trường, giọng văn, lối văn, sự độc đáo để uốn nắn mặt hạn chế, hướng đi
lệch trong cách triển khai vấn đề của các em.
Từ tiết trả bài chúng tơi rút ra cho học sinh những kĩ năng làm văn như kĩ năng

Để tạo giọng điệu cho bài văn nghị luận, người viết cần biết vận dụng tất cả các
loại câu một cách linh hoạt. Một bài văn hay là bài văn vận dụng linh hoạt tất cả các kiểu
câu-dĩ nhiên trước tiên phải viết câu đúng. Người viết có thể dùng khi là câu cảm thán để
diễn đạt thái độ của mình. Ví dụ “Trời đất ơi! Tú Bà nói khơng đầy nửa phút mà nước bọt
mép của mụ văng ra mãi tới ngàn năm”; Có thể viết câu nghi vấn để gây chú ý người đọc.
Sử dụng câu nghi vấn nhằm đặt ra vấn đề, để rồi tự trả lời, tự làm sáng tỏ. Chẳng hạn:
“Thương thì đã vậy, còn ốn? Thực ra Nguyễn Du khơng biết ốn ai…bởi vì theo Nguyễn
Du thì bao nhiêu đau thương khác đâu có phải đều do những kẻ “bài binh bố trận” mà
ngay cả những kẻ ấy, Nguyễn Du cũng thấy họ đáng thương” ( Hồi Thanh-Văn chiêu
hồn). Học sinh có thể dùng câu đơn, câu đặc biệt, câu tỉnh lượt để làm cho bài văn đa
dạng, khơng nhàm chán người đọc, vừa thể hiện nội dung diễn đạt đầy đủ, hấp dẫn. Trong
nhiều trường hợp để khẳng định vấn đề, học sinh có thể viết câu phủ định của phủ định
nhằm nhấn mạnh vấn đề.
Ví dụ: “ Nguyễn Trung Thành khơng thể khơng phản ánh trong tác phẩm của
mình những sự kiện, những vấn đề nóng bỏng mang tính thời đại” (Bài viết của học sinh-
Bài viết số 5)
Hoặc “ Nói đến miền đất Nam bộ, khơng thể khơng nhắc đến Nguyễn Thi, nhà
văn của người nơng dân Nam bộ thời chống Mỹ .”(Bài viết của học sinh).
Người thực hiện: Đỗ Thơng
18
Từ tiết trả bài nâng cao chất lượng viết văn cho học sinh
Tuy nhiên, trong bài văn nhiều lúc cần tránh sự khẳng định tuyệt đối, tức phải
uyển chuyển và có mức độ trong việc đánh giá. Có học sinh viết: “Chỉ có văn học mới
đem lại niềm vui và hạnh phúc nhất cho con người”. Lẽ ra chỉ nên viết dừng lại ở mức:
“Văn học đã góp phần đem lại niềm vui và hạnh phúc cho con người”
Viết văn có hình ảnh: Văn nghị luận là loại văn của tư duy khái niệm, của suy lí
lơ gíc, ý tứ chặt chẽ, sáng sủa, lập luận phải chắc chắn, bảo đảm độ chính xác cao, giàu
thuyết phục. Tuy nhiên để hấp dẫn người đọc, người viết sử dụng từ ngữ phải có tính hình
tượng, có sức biểu cảm cao. Người viết có thể dùng phép so sánh, liên hệ, đối chiếu tạo
cho câu văn sinh động có hình ảnh. Chẳng hạn: “Nếu chúng ta liệt Tú Xương vào loại đỉnh

chẳng phải thế sẽ tạo được ấn tượng như người viết đang tranh luận và đối thoại trực tiếp
với người đọc.
3.4. Ngồi ra để diễn đạt được lời văn hay, bài văn cần vận dụng các thao tác lập
luận, cách triển khai lập luận, cách sử dụng dẫn chứng.
Người viết cần vận dụng thao tác lập luận so sánh văn học, lối lập luận phải sắc
sảo chặt chẽ, cách dùng dẫn chứng phong phú, tiêu biểu và trình bày dẫn chứng phù hợp
cùng với việc triển khai lập luận chặt chẽ với nhiều phương pháp: diễn dịch, quy nạp,
tương phản, loại suy…
4. Kết quả thực hiện
Với một trường mới thành lập như trường PTTH cấp II-III Võ Thị Sáu, mơi
trường học văn khơng mấy thuận lợi (sách vở, phim ảnh, tác phẩm thiếu thốn, mơi trường
học tập còn hạn chế…) chưa có bề dày thành tích về kết quả học tập, tỉ lệ tốt nghiệp hằng
năm nâng cao song chưa phải là trường có tỉ lệ xếp top đầu so với các trường trong tỉnh.
Đội ngũ giáo viên tuổi đời, tuổi nghề rất trẻ, vì thế kinh nghiệm dạy như thế nào để học
sinh có chất lượng cao nhất có thể được, tỉ lệ tốt nghiệp hàng năm phải được nâng cao đó
là điều mà cả Tổ chun mơn và cả Lãnh đạo nhà trường ln quan tâm. Trong các năm
qua chúng tơi đã rút ra trong nhiều kinh nghiệm trong việc dạy và học sinh bộ mơn nâng
cao chất lượng, hiệu quả viết văn từ tiết trả bài Thực tiễn qua các năm qua, số lượng học
sinh giỏi bộ mơn văn đạt kết quả trong các kì thi cấp huyện, cấp tỉnh (HS Khối 9 - Năm
Người thực hiện: Đỗ Thơng
20
Từ tiết trả bài nâng cao chất lượng viết văn cho học sinh
2008-2009 thi cấp huyện đạt 4/5, có 2HS tham gia thi cấp tỉnh; năm 2009-2010 tham gia
thi cấp huyện 5/5 đều đạt, một HS được chọn vào đội HSG tham gia thi cấp tỉnh, năm
2010-2011 đội tuyển học sinh giỏi tham gia cấp huyện có 6 HS, kết quả các em đều đạt
giải: 1giải nhất, 2 giải nhì, 3giải 3; Ba học sinh được chọn tham gia thi cấp tỉnh, kết quả
1giải nhì, 2 giảiba). Học sinh khối 12 tham dự học sinh giỏi cấp tỉnh kết quả ngày càng
tăng. Năm 2009-2010, đạt giải 3/4 học sinh – 2 giải 3, 1 khuyến khích, năm 2010-2011 đạt
giải 3/5 học sinh- 3giải 3, 2 giải khuyến khích…so với các bộ mơn khác của trường tỉ lệ
học sinh đạt giỏi bộ mơn văn chiếm nhiều …Tỉ lệ học sinh đạt điểm trung bình bộ mơn
C-KẾT LUẬN
1-Kết luận
Có lẽ trong nhà trường khơng có mơn khoa học nào có thể thay thế được mơn văn.
Đó là mơn học vừa hình thành nhân cách vừa hình thành tâm hồn. Trong thời đại hiện nay,
khoa học kĩ thuật phát triển rất nhanh, mơn văn sẽ giữ lại tâm hồn con người, giữ lại
những cảm giác nhân văn để con người tìm đến với con người, trái tim hòa cùng nhịp đập
trái tim. Việc nâng cao chất lượng học tập bộ mơn cho học sinh là một cơng việc rất cần
thiết trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo nhân tài. Cơng việc ấy đòi hỏi sự kiên trì, tâm
huyết và trí tuệ đối với mỗi giáo viên. Thấy được tầm quan trọng của việc đào tạo thế hệ
trẻ đối với đất nước, đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ VIII đã khẳng định “Cùng với khoa
học cơng nghệ, giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Chính vì thế trong những năm qua giáo dục đã có những
bước cải cách , đổi mới liên tục.
Về thực tiễn áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này trong nhà trường đã mang lại một
kết quả khả quan rõ rệt. Phía giáo viên đã có được sự chủ động mạnh dạn ứng dụng vào
nhiều tiết dạy trả bài mang lại hiệu quả rõ rệt, phần lớn khi ứng dụng vào việc giảng dạy,
giáo viên ít gặp những lúng túng và vướng mắc như trước đây khi chưa áp dụng chun
đề. Từ những kinh nghiệm còn ít ỏi, cùng với lòng say mê nghề nghiệp, chúng tơi đã mang
lại một số kết quả nhất định trong việc đổi mới phương pháp dạy học góp phần nâng cao
chất lượng bộ mơn. Với những vấn đề nêu trên, chỉ là kinh nghiệm của cá nhân tích luỹ từ
những năm tháng giảng dạy, chắc còn nhiều vấn đề cần trao đổi. Những kinh nghiệm này
Người thực hiện: Đỗ Thơng
22
Từ tiết trả bài nâng cao chất lượng viết văn cho học sinh
mong đem đến đóng góp nhỏ trong một sự nghiệp đào tạo nhân tài vơ cùng to lớn. Mong
q đồng nghiệp đóng góp để cơng tác giảng dạy bộ mơn nói riêng, cơng tác đào tạo học
sinh tồn diện trong nhà trường nói riêng ngày càng có hiệu quả, đem lại nhiều tài năng
văn chương cho đất nước

………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………….
Người thực hiện: Đỗ Thơng
24
Từ tiết trả bài nâng cao chất lượng viết văn cho học sinh
KẾT QUẢ XẾP LOẠI
TIÊU CHUẨN TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ
ĐIỂM
ĐẠT
1
ĐẶT VẤN
ĐỀ
(Đổi mới)
1
Có đối tượng nghiên cứu mới
2
Có giải pháp mới và sáng tạo để nâng hiệu quả cơng vụ
3
Có đề xuất hướng nghiên cứu mới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status