SKKN Một số biện pháp phụ đạo HS yếu môn văn 8 ở THCS - Pdf 25

Đề tài: Phụ đạo học sinh yếu kém
Môn: Ngữ văn THCS
I. Lý do chọn đề tài:
Đổi mới giáo dục THCS với trọng tâm là đổi mới phơng pháp dạy học,
lấy học sinh làm trung tâm.
Hiện nay trong quá trình giảng dạy các môn học nói chung môn Ngữ
Văn nói riêng của ngời giáo viên còn gặp rất nhiều khó khăn do trong lớp đảm
nhiệm vẫn còn rất nhiều học sinh yếu kém trong quá trình giảng dạy phụ đạo
học sinh yếu kém, phần lớn là dựa vào kinh nghiệm của ngời giáo viên chứ ch-
a có sự đầu t nghiên cứu tờng tận nên hiệu quả khắc phục cha cao.
Từ thực tế giảng dạy bản thân tôi đang đảm nhận dạy môn Ngữ Văn 8, tôi
thấy tình trạng học sinh yếu kém còn nhiều. Để khắc phục tình trạng học sinh
yếu kém môn Ngữ Văn là một vấn đề rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi ngời
giáo viên phải có sự kiên trì. Sau nhiều năm giảng dạy tôi đã rút ra đợc kinh
nghiệm của mình để khắc phục học sinh yếu, kém môn Ngữ Văn về kiến thức
cũng nh về kỹ năng.
II. Nội dung đề tài:
Đặc trng của môn Ngữ Văn đợc xây dựng theo nguyên tắc tích hợp với 3
phân môn: Văn Tiếng Việt Tập làm văn. Kiến thức của các phần có sự
liên kết chặt chẽ với nhau. Do đó ngời giáo viên phải linh hoạt lựa chọn cho
mình một phơng pháp thích hợp khi dạy trong lớp học đồng loạt có nhiều học
sinh yếu kém. Để khắc phục tình trạng trên tôi xin đa ra một số kinh nghiệm
thực tiễn sau:
1. Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải có sự đánh giá bao quát học
sinh xem các em còn yếu ở những mặt nào? Về kiến thức hay kỹ năng?
2. Giáo viên tìm biện pháp khắc phục, sửa chữa theo dõi sự tiến bộ nhất
là đối với học sinh yếu, kém.
Theo quan điểm tích hợp giáo viên cần phải làm cho học sinh thấy đợc
mối quan hệ chặt chẽ giữa kiến thức của 3 phân môn Văn Tiếng Việt
Tập làm văn. Song đối với mỗi phần giáo viên phải đa ra những tồn tại mà học
sinh yếu kém hay mắc phải để từ đó khắc phục sửa chữa.

trả bài, giáo viên nhận xét u, nhợc điểm của các em về kiến thức, kỹ năng.
Ví dụ 1: Khi dạy bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác của Phan Bội Châu.
2
Giáo viên hớng dẫn học sinh cách đọc bài thơ, gịong điệu: Hào hùng,
đanh thép.
- Hớng dẫn học sinh phần giải nghĩa từ: Phong lu? Hào kiệt? đặc biệt
nghĩa của từ Kinh tế.
- Xác định thể thơ: đếm số câu, số chữ trong bài gồm 8 câu, mỗi câu 7
chữ gọi là thể: Thất ngôn bát cú.
- Dựa vào chú thích nêu hiểu biết về tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
- Hớng dẫn học sinh phân tích bài thơ. Khi phân tích xong bài thơ giáo
viên có thể ra bài tập trắc nghiệm nhằm củng cố kiến thức về nội dung và
nghệ thuật.
Trong mỗi phần giáo viên cũng nên gọi học sinh yếu kém để các em
nhớ đợc những kiến thức trọng tâm của bài, tránh tình trạng trong giờ học
giáo viên chỉ đối thoại với các em khá - giỏi. Đồng thời giúp các em yếu
kém đỡ cảm thấy chán nản.
Ví dụ 2: Hớng dẫn học sinh cảm nhận .
Đề bài: Trình bày cảm nhận của em về 4 câu thơ cuối bài: Vào nhà
ngục Quảng Đông cảm tác của Phan Bội Châu.
Đối với đề bài nh trên thờng học sinh yếu kém không mấy làm đợc,
giáo viên hớng dẫn học sinh.
+ Thuộc toàn bộ bài thơ nắm đợc nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đặc
biệt là 4 câu cuối.
Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế
Mở miệng cời tan cuộc oán thù
Thân ấy vẫn còn còn sự nghiệp
Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu?.
Phan Bội Châu
Khi chấm bài phần lớn học sinh yếu kém các em chỉ gạch đầu dòng

đến bài tập vận dụng kỹ năng dùng từ, đặt câu, viết đoạn văn
Ví dụ: Khi dạy xong bài Từ láy SGK lớp 7 tập I giáo viên hớng dẫn
cho học sinh làm toàn bộ các bài tập trong SGK.
+ Bài tập nhận diện từ láy: Ra bài tập trắc nghiệm cho học sinh làm:
4
Ví dụ: Cho các từ sau: Nhà máy, chùa chiền, lom khom, cây cối, long
lanh, mênh mông thoăn thoắt, mếu máo, thăm thẳm, khuôn khổ, long lanh,
nảy nở.
+ Bài tập giải nghĩa từ
+ Bài tập đặt câu có sử dụng từ.
+ Bài tập Viết đoạn văn có sử dụng từ, chữa lỗi dùng từ.
+ Bài tập su tầm lựa chọn các đoạn văn, đoạn thơ có sử dụng từ láy.
Ví dụ 2: Khi dạy bài ôn tập Tiếng Việt phần I sau khi ôn xong 5 kiểu
câu đã học.Câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán, câu trần thuật, câu phủ
định giáo viên hớng dẫn học sinh làm bài tập 4 SGK/131 .
Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi.
Tôi bật cời bảo lão: (1)
- Sao cụ lo xa quá thế (2)! Cụ còn khoẻ lắm cha biết đâu mà sợ (3)! Cụ cứ
để tiền ấy mà ăn, lúc chết hãy hay (4). Tội gì bây giờ nhịn đói mà tiền để lại
(5)?
- Không, ông giáo ạ (6)! ăn mãi hết đi thì đến lúc chết lấy gì mà lo liệu (7)?
B ớc 1 : Giáo viên gọi học sinh đọc đề bài nêu yêu cầu của đề bài (nên gọi
học sinh yếu kém)
B ớc 2 : Giáo viên tóm tắt đề bài lên bảng.
Câu a: Xác định kiểu câu.
Câu b: Xác định chức năng của câu nghi vấn.
Câu c: Chức năng khác của câu nghi vấn.
B ớc 3 : Giáo viên hớng dẫn học sinh làm.
Giáo viên treo bảng phụ đã chuẩn bị sẵn phần kẻ bảng ở dới các em cũng
kẻ bảng theo sự hớng dẫn của giáo viên. Bảng kẻ nh sau:

An: Câu mua bao nhiêu tiền 1 quyển sách này ? (1)
Hoa: Mình mua quyển sách này giá 20.000đ . (2)
An: Ôi! Quyển sách này mới tuyệt vời làm sao! (3)
- Khi nào đọc xong, cậu hãy cho mình mợn nhé ! (4)
Câu 1: Câu nghi vấn Câu 3: Câu cảm thán.
Câu 2: Câu trần thuật Câu4: Câu cầu khiến.
C- Phần Tập làm văn:
- Đối với phần Tập làm văn: Nhìn chung học sinh yếu kém còn yếu
trong việc xác định thể loại, cách viết bài về cách diễn đạt, dùng từ, viết câu
nên thờng bài của em không đạt yêu cầu.
- Để khắc phục học sinh yếu kém môn Tập làm văn. Sau khi học xong
từng thể loại giáo viên ra đề cho học sinh làm hớng dẫn các em từ khâu tìm
6
hiểu đề, tìm ý, cách sắp xếp các ý, cách trình bày bài Đặc biệt giáo viên
phải chú trọng khâu chấm bài và trả bài.
1. Khi chấm bài:
+ Về nội dung: Giáo viên đọc kỹ đề bài: Xem bài làm có đúng thể loại
không, nôi dung từng phần có đáp ứng yêu cầu của đề ra không ?
+ Về hình thức: Giáo viên chấm bài phải chú ý đến cách trình bày bài,
chữ viết, chính tả, dấu câu, lỗi diễn đạt, còn hiện tợng viết tắt, viết số trong bài
làm không, bố cục bài văn có đủ 3 phần không?
Đối với học sinh yếu kém giáo viên cần chỉ ra những sai sót trầm
trọng tránh gạch nát cả bài gây cho các em tâm lý thất vọng, chán nản. Tất cả
những u khuyết điểm của học sinh giáo viên ghi toàn bộ trong sổ chấm trả.
2. Khi trả bài: Dựa vào sổ chấm trả, giáo viên đa ra nhận xét về thể
loại, nội dung, hình thức trình bày.
Ví dụ: Khi chấm trả bài tập làm văn nghị luận số 6.
Đề bài: Câu nói của Gorơ ki Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ
có kiến thức mới là con đờng sống gợi cho em suy nghĩ gì?
- Khi trả bài giáo viên tiến hành theo các bớc sau:

học sinh yếu kém môn Ngữ Văn khi dạy ở lớp học đồng loạt có học sinh yếu kém.
Tuy nhiên việc giảng dạy trên lớp cũng phải thực hành theo nhịp độ chung của cả
lớp nếu quá chú ý đến đối tợng yếu kém thì các em khá - giỏi sẽ buồn chán không
muốn học và làm ảnh hởng xấu đến kết qủa học tập của các em.
III. Kết quả:
Từ kinh nghiệm thực tế giảng dạy, từ việc áp dụng các viện pháp trên tôi
thấy các em yếu kém có sự tiến bộ rõ rệt. Chẳng hạn trớc đây có những em
rất thụ động, lời học, nhút nhát nhng bây giờ các em tham gia giờ học thật
nhiệt tình, có ý thức hơn trong việc học bài và làm bài. Kết qủa phụ đạo học
sinh yếu kém trong năm 2006 2007 của tôi nh sau:
Môn Ngữ Văn 8: Dựa vào bảng theo dõi phân tích chất lợng.
3Lớp
Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn 3
Kiến
thức
Kỹ năng
Kiến
thức
Kỹ năng
Kiến
thức
Kỹ năng
Lớp 8 A2 7/33em 10/33em 5/33em 6/33em 4/33em 5/33em
Lớp 8A3 4/34 em 5/34 em 3/34 em 4/34 em 2/34 em 4/34 em
Lớp 8A4 5/36em 8/36em 4/36em 5/36em 2/36 em 4/36 em
8
Qua trao đổi thảo luận ở tổ khi áp dụng 1 số biện pháp trên các em yếu
kém đều có sự tiến bộ rõ rệt.
IV. Kết luận và kiến nghị:
Tóm lại để khắc phục học sinh yếu kém môn Ngữ Văn không phải

100% trẻ (bán trú) nên các em đã đợc rèn nói rõ ràng hơn, đọc, viết chữ cái và
chữ số thành thạo hơn. Về năng khiếu các em cũng phát triển hơn: Mạnh dạn,
chăm hát, múa, đọc chuyện, thơ, ca, nếp vệ sinh cũng tiến bộ hơn. Song lỗi nói
ngọng ở địa phơng còn khá phổ biển; nhất là âm l, n: chiếm tới 75 80% học
sinh nói ngọng; 10 15% ngọng từ dấu thanh, ngã, sắc:
Ví dụ: bé ngã -> bé ngá ; tủ cũ -> tủ cú; tập vẽ -> tập bé do vậy càng
đọc viết tốt thì càng cần phải luyện nói nhiều để tạo điều kiện giao tiếp với xã
hội tốt hơn.
2. Nâng cao chất lợng luyện nói trong Tiếng Việt 1:
10
Đối với kỹ năng nói bao gồm nói đọc thoại và nói đối thoại. Làm thế nào
để các em nói đúng, nói to, rõ ràng rành mạch. Từng em trình bày bằng lời
những nhận biết, cảm xúc của mình trớc chủ đề của 1 bài Tiếng Việt . Hoặc
các em có thể trao đổi nhóm để tìm ý khi giáo viên nêu từng câu hỏi; một loạt
câu hỏi, nhóm tìm cách trả lời. Càng ngày câu hỏi cho một chủ đề càng nhiều
thêm để sang kỳ 2 các em từ luyện đó có thể viết 1 đoạn 3 câu, 5 câu có chất
lợng hơn. Nh vậy nâng cao chất lợng luyện nói, tạo tiền đề, kỹ năng viết tốt
hơn.
3. Nhng yêu cầu cụ thể khi luyện nói.
a) Phải tận dụng triệt để phơng tiện trực quan bằng tranh, ảnh để nêu cả
nôi dung tranh.
b) Các em nói đợc theo hệ thống câu hỏi gợi mở, tạo điều kiện thuận lợi
cho từng em. Tuy nhiên câu hỏi đặt ra không mang tình áp đặt, phải trả lời là
đúng hay sai, có hay không?
c) Cần tận dụng vốn hiểu biết của học sinh: Nói thành câu hoàn chỉnh,
giao tiếp với bạn bè, góp phần làm phong phú, đa dạng hơn.
d) Hớng dẫn học sinh chuẩn bị tốt khi nói: Vì vậy ta nên xác định rõ nội
dung, yêu cầu cần nói; cần lựa chọn câu thích hợp, ngoài ra thờng xuyên rèn
kỹ năng nói: nói to, nói rõ ràng, chống nói ngọng, nói lắp.
d) Chú ý đến sắm vai, xây dựng tình huồng trong bài tập luyện nói.

- Lớp, cá nhân hát bài cho con .
Qua bài học này con sẽ cố gắng thế nào đề bố mẹ quý mếm: Con luôn
vâng lời cô dạy. Kỹ năng này nên cho nhiều học sinh đợc nói. Khi nói hay.
Giáo viên luôn động viên, khuyến khích học sinh nói tốt.
Hoặc bài 36 chủ đề : Chạy bay, đi bộ, đi xe
Gọi học sinh đọc chủ đề. Dùng câu hỏi để học sinh trao đổi.
1. Trong tranh vẽ gì?
Em kể tên từng hoạt động trong tranh.
2. Khi nào thì phải đi máy bay ?
3. Hàng ngày em đi xe hay đi bộ đến lớp?
4. Bố mẹ em đi làm bằng gì?
5. Ngoài các cách nh đã vẽ trong tranh, để đi từ chỗ này đến chỗ khác,
ngời ta còn dùng các cách nào nữa? (bơi, bò, nhảy )
12
Trong 5 câu hỏi trên học sinh có thể dễ dàng kể, trả lời đợc câu 1, 3, 4.
Còn câu 2 và câu 5 giáo viên gợi ý nhắc học sinh:
- Con thấy máy bay thờng bay ở đâu?
- Đã con nào trông thấy máy bay cha?
- Máy bay thờng đi những đoạn đờng nào?
- Con cảm nghĩ gì khi đi máy bay?
Và câu 5: Có thể học sinh trả lời đợc một số cách:
Tổng hợp lại các phơng tiện vận chuyển: ở trên bàn: bộ, bò, nhảy, chạy,
đi xe. ở dới nớc: Bơi, đi tàu, thuyền . Còn trên không: máy bay.
Để chủ đề đợc học sinh nắm chắc hơn; giáo viên có thể đặt câu hỏi:
Ước mơ sau này con làm gì ?
Giáo viên nói thêm: Những ngời phi công lái máy bay, những vận động
viên thể dục
Muốn vậy ngay từ bây giờ các con phải chăm chỉ, cố gắng học tập tốt để
sau này lớn lên con thực hiện đợc ớc mơ của mình. Con nào biết đợc bài hát
hay câu chuyện nào nói về phơng tiện đi lại Anh bay trên trời, anh phi

Xuất phát từ lý do trên, yêu cầu mỗi ngời giáo viên không những nâng
cao về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, luôn cải tiến phơng pháp dạy học và
phải đúc rút đợc kinh nghiệm cho bản thân sao cho hiệu quả giáo dục đạt đợc
là cao nhất. Qua quá trình dạy học vừa qua bản thân tôi đã rút ra đợc cho mình
một vài kinh nghiệm về phơng pháp dạy học thảo luận theo nhóm và cũng đã
tạo ra cho giờ học trở nên sôi nổi, học sinh tỏ ra có hứng thú học tập hơn và
đã đạt đợc kết quả đáng kể.
Đây chỉ là bớc đầu về kinh nghiệm giảng dạy của tôi nên còn nhiều hạn
chế nên mong bạn đọc thông cảm.
B. các giải pháp thực hiện:
14
- Không nhất thiết trong mọi phần mục của bài học đều dùng phơng pháp
thảo luận nhóm, mà theo tôi khi nào mà phần mục thuộc kiến thức trọng tâm
của bài ta dùng phơng pháp này.
- Cần đầu t thòi gian cho phần thảo luận một cách hợp lý.
- Chú ý tới việc chuẩn bị phơng tiện cần thiết, dùng cho học sinh thảo
luận.
- Chuẩn bị phiếu học tập phải dựa theo yêu cầu mà mục tiêu bài học cần
đạt tới, nhng phải hớng cho học sinh khai thác triệt để kiến thức có trong sách
giáo khoa, có trên các phơng tiện học tập khác và đồng thời rèn đợc kỹ năng
bộ môn cho học sinh.
- Phân chia học sinh theo nhóm: Nếu lớp học có từ 45 đến 50 học sinh ta
phân 4 nhóm theo đơn vị tổ của lớp, còn nếu lớp trên 50 học sinh ta phân 2
bàn là một nhóm.
- Tiến hành giao phiếu học tập cho từng nhóm, có thông báo thời gian
thảo luận cho học sinh rõ. Trong quá trình thảo luận giáo viên giám sát tinh
thần thảo luận giữa các thành viên trong nhóm và mỗi thành viên của nhóm.
Nếu thấy một học sinh nào không có ý thức làm việc giáo viên nhắc nhở luôn
hoặc cần thiết cho học sinh đó trình bày phần thảo luận của nhóm trớc lớp, tất
nhiên học sinh đó sẽ trình bày ấp úng hoặc không trình bày đợc. Khi đó giáo

dàng hơn, giờ học trở nên thoái mái hơn, hiệu quả hơn.
C.Ví dụ minh hoạ:
- Trong bài 12: Sự phân bố khí áp . Một số loại gió chính.
ở nội dung phần II: Một số loại gió chính.
Tôi chọn phơng pháp dạy là thảo luận nhóm và đợc triển khai thực hiện
dạy ở lớp 10A
9
. Cụ thể tôi đã thực hiện làm nh sau:
- Tôi chia học sinh của lớp ra 4 nhóm. Nhiệm vụ từng nhóm nh sau:
+ Nhóm 1: Nghiên cứu gió Tây ôn đới,
+ Nhóm 2: Nghiên cứu gió Mậu dịch
+ Nhóm 3: Nghiên cứu gió mùa
+ Nhóm 4: Nghiên cứu gió địa phơng
16
* Các em chú ý: Ngoài việc nghiên cứu sâu từng loại gió đợc phân công,
các em đọc sách giáo khoa về tất cả các loại gió khác để đánh giá xem sự
hoàn thành nhiệm vụ của mỗi nhóm nh thế nào?
- Sự thảo luận của mỗi nhóm dựa vào yêu cầu của phiếu học tập nh sau:
+ Cho biết phạm vi hoạt động của từng loại gió?
+ Cho biết nguyên nhân hình thành của từng loại gió đó?
+ Cho biết hớng gió và thời gian hoat động của từng loại gió đó?
+ Giải thích việc đặt tên cho từng loại gió?
+ Liên hiệu thực tế nớc ta có loại gió đó trong đời sống và trong hoạt
động kinh tế của đất nớc không ?
* Nhóm 3 chú ý cho biết thêm những khu vực ở trên thế giới có gió mùa
và giải thích sự hình thành gió mùa ở khu vực Đông Nam á?
- Giáo viên yêu cầu nhóm 1, 2 dựa vào hình 12.1 trong sách giáo khoa để
thảo luận và trình bày. Còn nhóm 3 dựa vào hình 12.2; 12.3 trong SGK trang
46, nhóm 4 dựa vào hình 12.4; 12.5 trong SGK 47 để thảo luận và trình bày.
- Giáo viên thông báo, nếu nhóm nào nghiên cứu thảo luận xong trớc

1)
Phạm vi
hoạt động
Thổi từ
khu vực
áp cận
nhiệt về
khu vực
áp thấp ôn
đới
Thổi từ áp
cao cận
nhiệt về
khu vực
áp thấp
xích đạo
Thờng
hoạt động
ở những
đới khí
hậu nóng
ở những
khu vực
ven biển
ở những
khu vực
ven biển
ở những khu
vực có núi
chắn gió từ

Chênh
lệch khí
áp giữ lục
địa và đại
dơng theo
đêm và
ngày
Do núi chắn
nên không khí
bị đẩy lên cao
gặp nhiệt độ
thấp hơi nớc
ngng tụ gây
ma ở sờn đón
gió khi vợt núi
trở lên khô
nóng gọi là
gió Phơn.
3)
Hớng gió
Chủ yếu
là hớng
Tây ở
BBC: H-
ớng Tây
Nam ở
NBC: H-
ớng Tây
Bắc
ở BBC h-

Quanh năm
18
5)
Tính chất
của gió
ẩm
Khô
ẩm về
mùa hè;
lạnh, khô
về mùa
đông
ẩm
Khô Khô và rất
nóng
6)Liên hệ
Việt Nam
Không Có ở mùa
đông
Mùa hè có
gió Tây
Nam
Đông
Nam
Có ở
vùng ven
biển
Có ở
trong đất
liền

pháp thảo luận nhóm trong quá trình giảng dạy Địa lý ở Trờng PTTH. Tôi rất
mong kinh nghiệm đó có ý nghĩa thiết thực để phục vụ cho quá trình dạy và
học bộ môn mình phụ trách, đem lại hiệu quả cao hơn để đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc trớc xu hớng hội nhập quốc
tế để cùng phát triển.
Cuối cùng tôi rất kính mong các cấp lãnh đạo xem xét đánh giá và bổ
sung cho tôi đợc hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Tác giả sáng kiến
Phạm Thị Hằng
20
A. Đặt vấn đề:
1. Nhận thức:
Sức khoẻ là vốn quý, là tài sản vô giá của mỗi ngời, mỗi quốc gia. Chính
vì thế mà ngay sau khi cách mạng tháng 8 thành công Bác Hồ đã kêu gọi toàn
dân tập thể dục Mỗi ng ời dân yếu ớt tức là làm cho cả nớc yếu ớt một
phần, mỗi ngời dân mạnh khoẻ tức là góp phần làm cho cả nớc mạnh khoẻ.
21
Vậy tập luyện thể dục bổi bổ sức khoẻ là bổn phận của ngời dân yêu nớc. Việc
đó không tốn kém khó khăn gì, gái trai, già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng
làm đợc
Xuất phát từ mục tiêu của giáo dục thể chất trong nhà trờng:
- Góp phần bào vệ và tăng cờng sức khoẻ cho học sinh.
- Truyền thụ cho học sinh một số phẩm chất kỹ năng cơ bản của một số
môn thể thao.
- Bồi dỡng cho học sinh một số phẩm chất đạo đức con ngời mới để làm
chủ đất nớc ( tính tổ chức kỷ luật, tinh thần tự giác, tinh thần đoàn kết, tinh
thần vợt khó, tinh thần tập thể )
- Phát hiện những học sinh có năng khiếu thể dục để bồi dỡng trở thành
vận động viên cho đất nớc sau này.

thành tích, những học sinh cán sự bộ môn.
+ Tiến hành biên chế sơ về vị trí đứng cho từng học sinh trong từng hàng
cụ thể.
+ Chia lớp thành hai hàng nam, hai hàng nữ, nam đứng trớc, nữ đứng
sau, em đầu hàng thờng là em tổ trởng hoặc cán sự, em có uy tín với hàng.
Em này có trách nhiệm điều hành hàng khi chia nhóm ôn và đánh giá ý thức
các bạn trong hàng. Khi biên chế xong nhắc học sinh đứng đúng vị trí ở tất cả
các giờ không tự thay đổi. Học sinh trong hàng nghỉ học để trống để giáo viên
dễ theo dõi
+ Cuối từng tiết, từng tuần hàng chuẩn phản ảnh cho giáo viên những
học sinh cha nghiêm, tập cha nhiệt tình để giáo viên chấn chỉnh kịp thời.
Sơ đồ vị trí tập
Tổ trởng hay cán sự:
1 x x x x x x ( Hai hàng Nam)
2 x x x x x x
3 x x x x x x (Hai hàng Nữ )
4 x x x x x x
Trong giảng dạy tôi luôn suy nghĩ cải tiến, đổi mới phơng pháp cho phù
hợp từng bài.
+ Phơng pháp dùng lời: Ngắn gọn dễ hiểu, chính xác, lời nói to, rõ không
nhất thiết phải phân tích, chứng minh kỹ thuật một cách tỷ mỷ mà phải tích
23
cực hoá ngời học bằng nhiều phơng pháp khác nhau nh đặt vấn đề, gợi mở để
học sinh tự tìm tòi, nghiên cứu để khám ra những kỹ năng cần thiết.
- Phơng pháp trực quan, làm mẫu: Động tác làm mẫu phải chính xác, đẹp,
vị trí làm mẫu phải phù hợp để mọi hoc sinh đều quan sát đợc, đối với động
tác mới phải làm mẫu trớc khi giảng giải, đối với động tác khó, phức tạp có
thể làm mẫu chậm từng phần để học sinh nắm. Sau đó mới tiến hành lại hoàn
chỉnh. Động tác dễ làm mẫu xong tôi cho học sinh tập ngay và sửa sai cho học
sinh để giành nhiều thời gian cho học sinh tập.

- suy nghĩa song tỷ mỷ phân chia từng phần bài học hợp lý khoa học,
Tỏo chức giờ học khéo léo.
c. Kết quả đạt đợc:
- Có biên chế sơ đồ tập ý thức tự giác của học sinh tốt hơn tính tổ chức
kỷ luật giừo học cao hơn học sinh thờng thi đua giữa hàng này với hàng khác
tốt. Thầy phát hiện đợc học sinh h cá biệt uốn nắn kịp thời, ý thức tự giác học
sinh cao hơn.
- Tổ chức giờ học tốt thông qua hình thức thi đấu.
Thầy dễ phát hiện đội tuyển chính xác bồi dỡng kịp thời. Vì vậy trong
suốt từ năm tôi về trờng đến nay năm nào cũng có học sinh tham dự đội
tuyển đi thi tỉnh, năm học này có học sinh thi tỉnh đạt giải khuyến khích tỉnh.
Phong trào thể dục trong trờng sôi nổi.
Đánh giá: Năm học 2006-2007 bản thân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
đội tuyển học sinh giỏi giữ vững có một học sinh đạt giải tỉnh. Nền nếp thể
dục thể thao trong trờng xếp loại tốt.
D. Những kiến nghị và đề xuất:
- Bộ phận thiết bị sách phòng mua thêm sách luật thi đấu các môn thể
thao, tài liệu liên quan đến bộ môn để giáo viên đọc nâng cao tay nghề.
- Đối với những học sinh đạt giải phòng nên có phần thởng khích lệ các
em.
- Trờng tạo đieuè kiện , sân tập đảm bảo đúng quy cách và hỗ trợ tu bổ
thiết bị đồ dùng bộ môn sắm 1 bộ cột nhảy mới.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status