Phát triển chính sách sản phẩm tại thị trường nội địa của công ty cổ phần may xuất khẩu Việt Thái - Pdf 25

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Hồng Vân
TÓM LƯỢC
Sản phẩm là yếu tố đầu tiên và quan trọng của hệ thống Marketing-mix. Do đó,
nghiên cứu và hiểu biết sản phẩm là một việc không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp.
Đề tài "Phát triển chính sách sản phẩm tại thị trường nội địa của công ty cổ phần may
xuất khẩu Việt Thái " được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết về chính sách sản phẩm
theo quan điểm của Philip Kotler. Đề tài khóa luận trên nghiên cứu các vấn đề sau:
 Phân tích chính sách sản phẩm của công ty CP may XK Việt Thái :
Chính sách cơ cấu và chủng loại và chất lượng sản phẩm .
Chính sách về bao bì và nhãn hiệu sản phẩm.
Chính sách về sản phẩm mới .
Chính sách về dịch vụ khách hàng.
 Từ đó đưa ra các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu chính sách sản phẩm của công
ty CP may XK Việt Thái. Đề xuất các giải pháp và kiến nghị để phát triển chính sách sản
phẩm tại thị trường nội địa của công ty.
Có thể thấy đây là một trong đề tài tương đối rộng và có nhiều mối quan hệ kinh tế
đan xen, vậy nên trong quá trình nghiên cứu em đã cố gắng vận dụng, kết hợp chặt chẽ
giữa lý luận và thực tiễn để tiến hành nghiên cứu. Tuy nhiên do trình độ nhận thức và thời
gian thực tập hạn chế, vậy nên trong đề tài em chỉ xin đưa ra một số giải pháp và kiến
nghị mang tính định hướng để có thể phát triển chinh sach sản phẩm của công ty tại thị
trường nội địa.
SV: Phạm Thu Phượng Lớp: K44C2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Hồng Vân
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn đến các anh, chị, cô, chú, bác cán bộ tại công ty cổ phần
May xuất khẩu Việt Thái , tỉnh Thái Bình đã chỉ bảo giúp đỡ em trong thời gian thực
tập tại công ty cũng như các kinh nghiệm quý báu mọi người đã chia sẻ cho em để em
có thêm nhiều kiến thức tốt hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Và em cũng em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô Khoa Marketing
Thương Mại, trường Đại học Thương mại đã giúp em trong quá trình học tập và
nghiên cứu.

 VCSH: vốn chủ sở hữu
 DN: doanh nghiệp
 CP : Cổ phần
 XK : xuất khẩu
 XNK : xuất nhập khẩu
 KD : kinh doanh
 TCHC : tổ chức hành chính
 TT : thị trường
 SP : sản phẩm
 LN : lợi nhuận
 BP : bình quân
 VN : Việt Nam
 VITEXCO : tên giao dịch của công ty cổ phần May xuất khẩu Việt Thái.
SV: Phạm Thu Phượng Lớp: K44C2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Hồng Vân
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI " PHÁT TRIỂN CHÍNH SÁCH
SẢN PHẨM TẠI THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY XUẤT
KHẨU VIỆT THÁI ".
1.1. Tính cấp thiết của đề tài.
Xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới.
Hòa cùng xu thế ấy, Việt Nam đang chuyển mình tiến tới để bắt nhịp với đà phát triển
chung của thế giới, giành hết nỗ lực cho việc sản xuất và xuất khẩu mặt hàng chủ lực của
nhà nước, khẳng định vị thế của thị trường nước ngoài. Đặc biệt là ngành may mặc Việt
Nam – là mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam và có tộc độ tăng trưởng cao qua
các năm. Sản phẩm may mặc của Việt Nam đã thiết lập được vị thế trên thị trường khó
tính như Mỹ, EU, Nhật Bản.Tuy nhiên, hình thức sản xuất của các doanh nghiệp Việt
Nam vẫn theo hợp đồng gia công, nguồn nguyên liệu tuân theo chỉ định của chủ hàng.
Trong khi đó, thị trường trong nước bị bỏ trống trong một thời gian dài, hầu hết các doanh
nghiệp dệt may Việt Nam chưa có chiến lược bài bản trong nước mà chủ yếu tập trung
vào gia công hàng xuất khẩu. Chỉ khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và suy giảm kinh

“Phát triển chính sách sản phẩm bánh kẹo tại thị trường miền Bắc của công ty cổ
phần chế biến thực phẩm Kinh Đô miền Bắc” - sinh viên Phạm Thị Hà Thu lớp K41C5
Ngoài ra còn có một số luận văn nghiên cứu về công ty nhưng thuộc lĩnh vực quản
trị nhân lực và quản tri chiến lược tại công ty :
" Nâng cao năng lực canh tranh của công ty cổ phần may xuất khẩu Việt Thái " thuộc
khoa Quản trị thương mại quốc tế của đại học kinh tế quốc dân.
" Giải pháp phát triển nguồn nhân lực công ty cổ phần may xuất khâu Việt Thái "
thuộc khoa Quản trị nhân lực
Nhận xét về những công trình nghiên cứu của những năm trước :
 Phần lý thuyết được trình bày rõ ràng, các khái niệm và nội dung đưa ra đều bám sát
nội dung nghiên cứu của từng đề tài.
 Thực trạng hoạt động kinh doanh của các đơn vị thực tập được phân tích chi tiết, cụ
thể, đã nêu lên được nhưng tác động của môi trường vĩ mô như: kinh tế, chính trị, văn hóa
xã hội và môi trường vi mô: nội lực bên trong doanh nghiệp, nhà cung ứng, khách hàng,
đối thủ cạnh tranh.
 Các giải pháp đưa ra đều theo sát các mục tiêu nghiên cứu, những vấn đề lý luận đã
đưa ra và phù hợp thực trang hoạt động kinh doanh của các đơn vị thực tập.
Những điểm trên đã giúp em trong việc định hướng những vấn đề lý thuyết và thực
tế sẽ đưa ra, giải quyết trong khóa luận của mình. Trên thực tế hiện nay, công ty cổ phần
may xuất khẩu Việt Thái chưa có đề tài nghiên cứu về chính sách sản phẩm của công ty .
Vì vậy trước thực trạng hoạt động kinh doanh hiện nay, triển vọng phát triển sản phẩm
may mặc và mục tiêu của công ty là phát triển sản phẩm của công ty tại thị trường nội địa,
SV: Phạm Thu Phượng Lớp: K44C2
2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Hồng Vân
đề tài khóa luận mà em chọn : ” Phát triển chính sách sản phẩm công ty cổ phần may xuất
khẩu Việt Thái tại thị trường nội địa” là một đề tài không mới nhưng gắn với một công ty
cụ thể thì chưa có một đề tài nào nghiên cứu và đây là một trong những vấn đề công ty
cần phải giải quyết hiện nay.
1.4. Mục tiêu nghiên cứu:

doanh.
 Thông tin bên ngoài : Thu nhập dữ liệu thống kê của các bộ, ban ngành liên quan
như : tổng cục thuế, sở tài chính….được công bố và dựa vào các lý luận trong Marketing
của Philip Kotler. Bên cạnh đó thu thập một số thông tin của báo chí, qua Internet.
Phương pháp thu thập :
 Các thông tin thứ cấp được thu thập chủ yếu dựa vào tính tin cậy của các nguồn thông
tin.
 Các báo cáo tài chính, báo cáo kinh doanh của công ty đều có dấu xác nhận, các nguồn
thông tin bên ngoài đều được lấy từ các thông cáo của những cơ quan có thẩm quyền nên
tính tin cậy khá cao.
 Phương pháp phân tích :
 Tập hợp theo bảng biểu, tính tỷ lệ phần trăm, tỉ lệ tăng trưởng, vẽ biểu đồ, sơ đồ và so
sánh giữa các năm với nhau.
 Thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp nhằm tìm kiếm những thông tin chi tiết, chính xác để
có thể đánh giá tổng quan về tình hình hoạt động kinh doanh của đơn vị thực tập trong thời
gian gần đây, đồng thời xác định được các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh và
giải pháp.
1.6.2. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu sơ cấp.
 Các dữ liệu cần thu thập : nhận xét, đánh giá của khách hàng về sản phẩm của công ty
( mẫu mã, chất lượng, kiểu dáng ) và so sánh với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh trong
ngành. Từ đó phát hiện ra nhu cầu và mong muốn của họ về các sản phẩm của công ty trong
tương lai.
 Phương pháp tiến hành thu thập :
Dữ liệu sơ cấp thu thập từ 2 nguồn chính là: Phiếu điều tra khách hàng và phiếu phỏng
vấn bộ phận kinh doanh của công ty với mục đích nghiên cứu đánh giá khách hàng về sản
phẩm hiện tại của công ty và nhu cầu, mong muốn của khách hàng về các sản phẩm đó.
Mẫu nghiên cứu : Mẫu khách hàng điều tra được lấy theo phương pháp ngẫu nhiên, phát
phiếu điều tra cho các khách hàng đến mua hàng tại cửa hàng của công ty. Mẫu phỏng vấn
được đưa cho các trưởng , phó phòng ban và nhân viên bán hàng tại công ty.
Thời gian thực hiện : 2 tuần

5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Hồng Vân
CHƯƠNG II : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM CỦA
CÔNG TY
2.1. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản về chính sách sản phẩm
2.1.1. Khái niệm sản phẩm
Sản phẩm là yếu tố đầu tiên và quan trọng của hệ thống Marketing-mix. Do đó,
nghiên cứu và hiểu biết sản phẩm là một việc không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp.
Khi nói về sản phẩm, người ta thường quy nó về một hình thái tồn tại vật chất cụ thể và nó
chỉ bao hàm những thành phần hoặc yếu tố có thể quan sát được. Đối với các chuyên gia
Marketing, họ hiểu hàng hóa ở một phạm vi rộng hơn nhiều. Cụ thể là :
" Sản phẩm là tất cả những cái,những yếu tố có thể thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn được
đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu
dùng ".
( Marketing căn bản - đại học kinh tế quốc dân )
Theo quan điểm này sản phẩm hàng hóa bao hàm cả những vật thể hữu hình và vô
hình ( dịch vụ ), bao hàm cả yếu tố vật chất và phi vật chất. Ngay cả trong những sản phẩm
hữu hình thì cũng bao hàm cả các yếu tố vô hình. Do vậy Philip Kotler đã đưa ra quan điểm
về sản phẩm:
" Sản phẩm là những hàng hóa và dịch vụ với những thuộc tính nhất định, với những ích
dụng cụ thể nhăm thỏa mãn nhu cầu đòi hỏi của khách hàng. Sản phẩm có giá trị sử dụng
và giá trị,nó có thể là hữu hình hoặc vô hình "
( Marketing căn bản - Philip Kotler )
Như vậy sản phẩm ở đây có thể bao gồm những vật phẩm, dịch vụ, địa điểm, tổ chức, tư
tưởng.
 Phân loại sản phẩm :
 Phân loại theo thời gian sử dụng và hình thái tồn tại :
 Hàng hóa lâu bền : là những vật phẩm thường được sử dụng nhiều lần
 Hàng hóa sử dụng ngắn ngày : là những vật phẩm được sử dụng một lần hoặc vài lần.
 Dịch vụ là những đối tượng được bán dưới dạng hoạt động,ích lợi hay sự thỏa mãn.

cơ bản mà khách hàng thực sự mua. Những lợi ích cơ bản tiềm ẩn và có thể thay đổi tùy
theo những yếu tố hoàn cảnh của môi trường và mục tiêu cá nhân của khách hàng, nhóm
khách hàng trong bối cảnh nhất định. Điều quan trọng đối với các doanh nghiệp là nhà
quản trị Marketing phải nghiên cứu tìm hiểu khách hàng để phát hiện ra những đòi hỏi về
các khía cạnh lợi ích khác nhau tiềm ẩn trong nhu cầu của họ. Chỉ có như vậy họ mới tạo
ra những sản phẩm có khả năng thỏa mãn đúng và tốt những lợi ích mà khách hàng mong
đợi.
 Lớp sản phẩm hiện hữu : đó là những yếu tố phản ánh sự có mặt trên thực tế của sản
phẩm. Những yếu tố đó bao gồm : bao gói, đặc tính nổi trội, phong cách mẫu mã, dịch vụ
SV: Phạm Thu Phượng Lớp: K44C2
7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Hồng Vân
trước bán, chất lượng cảm nhận được, tên nhãn hiệu. Đây là những yếu tố quan trọng giúp
người mua có thể nhận biết và phân biệt được giữa 2 sản phẩm có cùng lợi ích cốt lõi. Và
cũng nhờ hàng loạt yếu tố này giúp doanh nghiêp phân biệt hàng hóa của doanh nghiệp này
với doanh nghiệp khác.
 Lớp sản phẩm gia tăng : bao gồm các yếu tố như điều kiện giao hàng và thanh toán, bảo
hành, dịch vụ trong bán, lắp đặt sử dụng. Những yếu tố này đã tạo ra sự đánh giá mức độ
hoàn chỉnh khác nhau trong nhận thức của người tiêu dùng về mặt hàng hay nhãn hiệu cụ
thể. Dưới góc độ nhà kinh doanh, các yếu tố gia tăng trở thành một trong những vũ khí cạnh
tranh của nhãn hiệu sản phẩm trên thị trường.
2.1.2. Khái niệm về chính sách sản phẩm .
Chính sách sản phẩm là những nguyên tắc chỉ đạo, quy tắc, phương pháp được
thiết lập gắn với việc phát triển và đổi mới sản phẩm nhằm hỗ trợ và thức đẩy việc thực
hiện mục tiêu đã xác định. Chính sách sản phẩm bao gồm toàn bộ các giải pháp định
hướng cho việc phát triển sản phẩm, làm cho sản phẩm luôn thích ứng với thị trường, đáp
ứng yêu cầu thị trường trong thời kì chiến lược xác định.
Mối quan hệ chính sách sản phẩm với các chính sách khác của công ty :
Marketing - mix bao gồm 4 yếu tố : sản phẩm - giá cả - phân phối - xúc tiến. Chính
sách sản phẩm là chính sách đầu tiên quan trọng nhất trong chiến lược marketing- mix của

nghiệp, có rất nhiều quan điểm khác nhau đề cập đến chính sách sản phẩm.
Theo quan điểm của Philip Kotler, nội dung chính sách sản phẩm bao gồm :
1. Quản lý chủng loại sản phẩm, nhãn hiệu và bao gói
2. Quản lý dịch vụ hỗ trợ sản phẩm
3. Quản trị chu kỳ sống của sản phẩm và các chiến lược
4. Phát triển, thử nghiệm và tung ra thị trường sản phẩm và dịch vụ mới
Nhân xét : nội dung này được tác giả nghiên cứu với phạm vụ rộng và mỗi phần trong nội
dung chính sách sản phảm được phân tích cụ thể,đưa ra nhiều ví dụ thực tế với vấn đề nghiên
cứu
Theo PGS.TS Lê Thế Giới , nội dung của chính sách sản phẩm bao gồm :
1. Quyết định về danh mục sản phẩm ,loại sản phẩm
2. Quyết định về nhãn hiệu sản phẩm
3. Quyết định về bao bì và gắn nhãn hiệu
4. Quyết định về dịch vụ khách hàng
5. Nghiên cứu,phát triển sản phẩm mới
6. Chu kỳ sống của sản phẩm.
Theo GS.TS Trần Minh Đạo, nội dung của chính sách sản phâm bao gồm :
1. Các quyết định có liên quan đến nhãn hiệu
2. Quyết định về bao gói và dịch vụ sản phẩm
SV: Phạm Thu Phượng Lớp: K44C2
9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Hồng Vân
3. Quyết định về chủng loại và danh mục sản phẩm
4. Quyết định liên quan đến Thiết kế và marketing sản phẩm mới
5. Các quyết định liên quan đến Chu kỳ sống của sản phẩm
Nhận xét : Tác giả tập trung nghiên cứu những nội dung chính sách sản phẩm và phân
định rõ ràng các nội dung, đặc biệt quyết định về dịch vụ khách hàng là nội dung cần
được quan tâm và chú ý đối với chính sách sản phẩm của công ty hiện nay.
Cả ba tác giả đều đưa ra đầy đủ các nội dung của chính sách sản phẩm. Tuy nhiên các
nội dụng nay có những điểm khác nhau. Các lý thuyết theo quan điểm của Philip Kotler

1. Hạn chế chủng loại sản phẩm : loại bỏ những sản phẩm không hiệu quả, tập trung bán
những sản phẩm có sức cạnh tranh lớn, sức mua và tần số mua lớn, tập trung vào uy tín
sản phẩm và chuyên môn hóa theo chiều sâu.
 Biến thể chủng loại sản phẩm :
Bằng thủ pháp trong sản xuất và thương mại để hướng đầu tư nhỏ, vận hành nhanh mà
vẫn đáp ứng mục tiêu đa dạng hóa sản phẩm, thỏa mãn nhu cầu và nâng số lượng người
tiêu thụ.
 Sử dụng và tăng cường đặc tính nào đó.
 Điều chỉnh phụ liệu cấu tạo sản phẩm.
 Nâng cao chiều sâu mặt hàng kinh doanh.
Tùy theo mục tiêu của công ty trong từng giai đoạn mà đưa ra các quyết định phù
hợp. Có một số động lực thúc đẩy việc đa dạng hóa sản phẩm như : tìm kiếm lợi nhuận tăng
thêm, cố gắng sử dụng năng lực dư thừa, cố gắng trở thành công ty dẫn đầu hay cố gắng để
lấp kín những lỗ hỏng để ngăn ngừa các đối thủ cạnh tranh.
2.3.2. Chính sách chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm là tập hợp các thuộc tính của sản phẩm đáp ứng những nhu
cầu xác định phù hợp với tên gọi của sản phẩm
Chất lượng sản phẩm có thể bao gồm các chỉ tiêu sau :
Chỉ tiêu vật lý : như độ bền, chắc, kiểu dáng, mẫu mã
Chỉ tiêu hóa học : không có những chất có hại cho sức khỏe.
Chỉ tiêu hóa lý : không ha gỉ, chống được ẩm,nóng
Chỉ tiêu sinh hóa : đảm bảo vệ sinh,không ảnh hưởng đến sức khỏe.
Chỉ tiêu cảm quan : đẹp mắt, thơm tho, mềm mại.
Những chỉ tiêu trên có thể khác nhau ở mỗi loại sản phẩm và không phải bất kì sản
phẩm nào cũng phải có hoặc đạt được tất cả các yêu cầu chất lượng như vậy. Vấn đề chính là
sản phẩm của công ty đạt tới mức độ nào so với các sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh
tranh.
Thực chất của chính sách sản phẩm là biến đổi các đặc tính chất lượng sản phẩm
theo hướng tiếp cận và thích ứng với nhu cầu thị trường, tạo ra những ưu thế đặc trưng và
SV: Phạm Thu Phượng Lớp: K44C2

 Tung sản phẩm của mình ra thị trường dưới nhãn hiệu của chính nhà sản xuất.
 Nhà sản xuất bán sản phẩm cho một nhà trung gian rồi người này gắn cho nó nhãn hiệu
riêng
 Nhà sản xuất có thể bán một phần hàng háo dưới nhãn hiệu của chính mình,số còn lại
SV: Phạm Thu Phượng Lớp: K44C2
12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Hồng Vân
thì dưới các nhãn hiệu riêng
 Quyết định về thiết kế nhãn hiệu : Thiết kế nhãn hiệu bao gồm các công việc cụ thể
như đặt tên nhãn hiệu, tạo biểu trưng và biểu tượng, thiết kế khẩu hiệu, thiết kế bao bì sản
phẩm. Thiết kế sản phẩm là kết quả tổng hợp của cấc ý tưởng,các nguồn sáng tạo.
 Quyết định chiến lược nhãn hiệu :
 Mở rộng chủng loại : việc mở rộng chủng loại xảy ra khi công ty bổ sung thêm những
mặt hàng vào cùng một loại sản phẩm dưới cùng một tên nhãn,như mặt hàng có hương vị
mới, hình thức mới, màu sắc mới, thành phần mới
 Mở rộng nhãn hiệu : một công ty có thể quyết định sử dụng tên nhãn hiệu hiện có để
tung ra một sản phẩm thuộc loại mới.
 Sử dụng nhiều nhãn hiệu : công ty cũng thường hay bổ sung thêm nhiều nhãn hiệu
cho cùng một sản phẩm.
 Sử dụng nhãn hiệu mới : khi tung ra những sản phẩm mới, công ty có thể thấy rằng trong
số các nhãn hiệu hiện có không có cái nào phù hợp, rồi đưa ra quyết định sử dụng một nhãn
hiệu mới
2.3.4. Chính sách về bao bì sản phẩm :
Bao bì có vai trò quan trọng.Một số nhà marketing đã coi bao bì là chữ P thứ năm
cùng với 4 chữ P trong marketing mix ( packeage). Tuy nhiên hầu hết giới marketing đều
cho rằng bao bì là một yếu tố trong chiến lược sản phẩm bởi vì bao bì thu hút khách hàng,
mô tả được ích dụng của sản phẩm, tạo niềm tin và ấn tượng tốt đẹp về sản phẩm. Người
tiêu dùng sẵn sàng mua sự tiện lợi, kiểu dáng đẹp, mức đáng tin cậy và uy tín của một bao
bì tốt. Bao bì giúp khách hàng phân biệt sản phẩm của các công ty khác.
Việc tạo bao bì là những hoạt động nhằm vẽ kiểu túi đựng sản phẩm và đồ bao gói

công ty đều phải quan tâm đến chương trình phát triển sản phẩm mới nếu muốn tồn tại và
phát triển với uy tín ngày càng tăng.
Sản phẩm mới là những sản phẩm phải có những đặc tính, tính năng hơn hẳn so với
sản phẩm hiện hữu và đem lại hiệu quả kinh tế hơn so với sản phẩm cũ dựa vào sự đánh giá
của khách hàng.
 Các dạng sản phẩm mới :
 Sản phẩm mới nguyên tắc : là sản phẩm lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường.
 Sản phẩm mới nguyên mẫu : là sản phẩm bắt chước sản phẩm của đối thủ hoặc của thị
trường nước ngoài
 Sản phẩm cải tiến : phát triển các thông số từ sản phẩm hiện có.
 Quá trình hình thành sản phẩm mới :
Bước 1 : Hình thành ý tưởng sản phẩm mới.
Hình thành ý tưởng sản phẩm mới là bước đi đầu tiên, quan trọng nhất trong quá
trình thiết kế sản phẩm mới. Ý tưởng về sản phẩm mới phải dựa trên cơ sở những cái đích
SV: Phạm Thu Phượng Lớp: K44C2
14
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Hồng Vân
mà công ty muốn đạt tới ( tăng doanh số hay thị phần )
Hình thành ý tưởng sản phẩm mới dựa trên cơ sở :
 Chỉ bán những gì khách hàng cần
 Căn cứ vào việc nghiên cứu sản phẩm của đối thủ cạnh tranh
 Căn cứ vào những sản phẩm tương tự
 Công ty tự thiết kế sản phẩm mới hoàn toàn
Bước 2: Lựa chọn ý tưởng sản phẩm mới.
Là quá trình sàng lọc, đào thải những ý tưởng không phù hợp, kém hấp dẫn để
chọn ra những ý tưởng tốt nhất, hình thành luận chứng kinh tế cho sản phẩm mới.
Bước 3 : Soạn thảo và kiểm tra dự án.
Sau khi đã lựa chọn được những ý tưởng phù hợp cho sản phẩm mới, công ty tiến hành
xây dựng dự án mới cho mỗi ý tưởng. Dự án là sự thể hiện tư tưởng khái quát về sản phẩm
sản phẩm mới với các tham số về đặc tính hay công dụng hoặc đối tượng sử dụng khác nhau

Khi tung sân phẩm mới ra thị trường công ty phải quyết định chào hàng khi nào, ở đâu, cho ai
và như thế nào ?
2.3.6. Chính sách về dịch vụ khách hàng :
Một yếu tố khác cấu thành sản phẩm hoàn chỉnh là dịch vụ khách hàng. Tùy vào từng
loại sản phẩm mà tầm quan trọng của dịch vụ khách hàng sẽ khác nhau. Có 4 vấn đề liên quan
đến việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng :
 Các yếu tố dịch vụ mà khách hàng đòi hỏi và khả năng công ty có thể cung cấp là gì ?
Tầm quan trọng tương đối từng yếu tố dịch vụ đó ?
 Chất lượng dịch vụ và công ty phải đảm bảo chất lượng dịch vụ cho khách hàng đến
mức độ nào so với đối thủ cạnh tranh
 Chi phí dịch vụ mà khách hàng phải trả.
 Lựa chọn hình thức cung cấp dịch vụ : công ty tự cung cấp dịch vụ hay qua tổ chức
trung gian
Khi quyết định về dịch vụ, công ty phải căn cứ vào 3 yếu tố chính là nhu cầu của
khách hàng, đối thủ cạnh tranh và khả năng của công ty để đưa ra mức dịch vụ phù hợp,
giúp làm tăng giá trị sản phẩm.
SV: Phạm Thu Phượng Lớp: K44C2
16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Hồng Vân
CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM TẠI THỊ
TRƯỜNG NỘI ĐỊA CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY XUẤT KHẨU VIỆT THÁI.
3.1. Đánh giá tổng quan tình hình kinh doanh của công ty.
3.1.1. Giới thiệu tổng quan về công ty cổ phần May xuất khẩu Việt Thái.
Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN MAY XUẤT KHẨU VIỆT THÁI.
Tên tiếng Anh: VIET THAI EXPORT GARMENT JOINT STOCK COMPANY.
Tên giao dịch: VITEXCO
Trụ sở giao dịch: Số 100 - Đường Quang Trung - Phường Quang Trung- Thành Phố Thái
Bình - Tỉnh Thái Bình.
Mã số thuế: 1000360205
Công ty cổ phần may xuất khẩu Việt Thái chuyên sản xuất, kinh doanh, gia công hàng

Xem PHỤ LỤC 4
Cơ cấu lao động của công ty : Tính đến năm 2012 tổng sô lao động của Việt Thái là 1250
lao động. Trong đó :
Biểu đồ 1: Cơ cấu lao động của công ty CP may XK Việt Thái
3.1.2. Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty.
Trong những năm gần đây, ngành May Mặc Việt Nam có những bước phát triển đáng
kể với tốc độ trên dưới 20%/ năm, kim ngạch xuất khẩu chiếm 15% kim ngạch xuất khẩu cả
nước.Tuy nhiên doanh nghiệp May Mặc của Việt Nam hiện nay chủ yếu vẫn là thực hiện các
đơn hàng gia công xuất khẩu cho phía nước ngoài và phụ thuộc khá nhiều vào nguyên liệu
nhập khẩu từ nước ngoài. Trong khi đó, thị trường trong nước bị bỏ trống trong một thời gian
dài. Chỉ khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và suy giảm kinh tế xảy ra đã làm thị trường
xuất khẩu bị co hẹp, những doanh nghiệp May mặc Việt Nam mới nhận ra vai trò của thị
trường nội địa và tập trung phát triển thị trường nội địa.Việt Thái là một trong nhiều doanh
nghiệp nhỏ trong ngành dệt may Việt Nam thực hiện hoạt động xuất khẩu hàng may mặc sang
thị trường nước ngoài. Hiện nay thị trường xuất khẩu của công ty chủ yếu là Mỹ, các nước
trong khối liên minh Châu Âu EU và một số nước khác. Tuy nhiên từ năm 2008 công ty cũng
tập trung phát triển thị trường nội địa. Do vậy doanh thu của thị trường nội địa từ năm 2009
cũng tăng so với những năm trước. Đi đôi với đa dạng hóa mặt hàng, để đảm bảo đứng vững
trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, doanh nghiệp thực hiện trọng tâm hoá vào một số loại hàng
SV: Phạm Thu Phượng Lớp: K44C2
18
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Hồng Vân
hoá và một số thị trường nhất định. Trước đây công ty chỉ gia công một số loại mặt hàng
chính: quần áo đua mô tô, quần áo trượt tuyết, quần áo đi săn. Từ năm 2004, ngoài các mặt
hàng truyền thống công ty đã bổ sung thêm mặt hàng áo Jacket, quần áo công sở, áo khoác,
quần áo khoác trẻ em. Đặc biệt từ năm 2009, khi công ty bắt đầu tập trung phát triển ở thị
trường nội địa thì danh mục mặt hàng của công ty cũng tăng lên, phù hợp với nhu cầu của
người dân.
Bảng 1 : Doanh thu của công ty tại các thị trường 2009 -2011
Đơn vị : nghìn đồng

LN trước thuế 3.841.000 3.981.000 5.957.000 140.000 103 1.976.000 149
LN sau thuế 2.881.000 2.986.000 4.437.750 105.000 103 1.451.750 148.
Lương BP 1.410.000 1.511.000 2.015.000 101.000 107 504.000 133
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status