Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh các trường trung cấp chuyên nghiệp ở Hà Nội - vấn đề và giải pháp - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ LÊN
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG
CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG CấP
CHUYÊN NGHIỆP Ở HÀ NỘI – VẤN ĐỀ VÀ GIẢI
PHÁP
CHUYÊN NGÀNH : Triết học
Mã số : 60 22 80 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẤN THÀNH
cổ. 57
2.2.2. Giáo dục đạo đức truyền thống chưa đặt trong mối quan hệ giữa truyền
thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế. 62
2.2.3. Sự bất cập giữa lý thuyết với thực tế trong giáo dục giá trị đạo đức
truyền thống. 66
Chương 3 70
NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO HỌC SINH CÁC
TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP Ở HÀ NỘI HIỆN NAY 70
3.1. Đẩy mạnh hơn nữa việc kế thừa và phát triển các giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc cho phù hợp với lứa tuổi học sinh Trung cấp chuyên nghiệp
trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay. 70
3.2. Đa dạng hoá hình thức giáo dục giá trị đạo đức truyền thống trong các
trường Trung cấp chuyên nghiệp trong giai đoạn hiện nay. 77

2
3.3. Tạo dựng môi trường lành mạnh nhằm đưa nội dung các giá trị đạo đức
truyền thống của dân tộc đến với học sinh các trường Trung cấp chuyên
nghiệp 82
3.4. Đẩy mạnh phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh trong các trường Trung cấp chuyên nghiệp ở Hà Nội giai đoạn hiện nay.
91
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

1. Lí do chọn đề tài.
Dân tộc Việt Nam, một dân tộc có bề dày lịch sử. Trải qua mấy nghìn
năm dựng nước và giữ nước, con người Việt Nam đã tạo dựng cho mình
những giá trị truyền thống tốt đẹp mang bản sắc của dân tộc Việt Nam.
Những giá trị truyền thống ấy đã trở thành một “kháng thể”, một sức mạnh
nội sinh để dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách và trường
tồn trong lịch sử.
Trong những năm gần đây, tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến
động. Xu thế toàn cầu hoá và cơ chế thị trường bên cạnh mặt tích cực cũng,
đặt ra hàng loạt những nguy cơ và thách thức đối với mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội nước ta, nhất là lĩnh vực văn hoá, đạo đức xã hội. Đó là chiều
hướng bị nhất thể hoá, phương Tây hoá, hoà tan vào thế giới, đánh mất đi
bản sắc, cốt cách của dân tộc mình; là sự xuống cấp về đạo đức, lối sống
của một bộ phận không nhỏ lớp người trong xã hội, đặc biệt là lối sống thực
dụng, chạy theo đồng tiền, lấy đồng tiền làm thước đo cho mọi giá trị; sẵn
sàng quay lưng với những giá trị văn hoá, đạo đức truyền thống dân tộc.
Điều đáng quan tâm hơn nữa là ngay cả Hà Nội- vùng đất “địa linh nhân
kiệt” với lịch sử ngàn năm văn hiến; nơi hội tụ, giao thoa các giá trị truyền
thống của dân tộc; người Hà Nội vốn có tiếng là tài hoa, thanh lịch…thì giờ
đây một bộ phận không nhỏ, đặc biệt là một bộ phận thanh niên, học sinh Hà
Nội đã quá “nhạy cảm” với cái mới mà khước từ những giá trị truyền thống.
Lối sống ích kỷ, vụ lợi, những thói hư tật xấu, những tệ nạn xã hội đang từng
ngày, từng giờ làm băng hoại những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
của Thủ đô ngàn năm văn hiến.
Từ thực tế đó, Đảng ta đặt ra yêu cầu: “Trong điều kiện kinh tế thị trường
và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản
sắc văn hoá dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt

4
đẹp và lòng tự hào dân tộc. Tiếp thu tinh hoa văn hoá các dân tộc trên thế

thống Việt Nam" do Trần Văn Giàu chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1980; "Về truyền thống dân tộc" của Trần Quốc Vượng, Tạp chí Cộng sản, số
3- 1981. Năm 1982 Viện Mác- Lênin và Tạp chí Cộng sản đã tổ chức hội nghị
khoa học đầu tiên về chủ đề "Giá trị văn hoá tinh thần của Việt Nam "Các
tham luận trình bày tại hội nghị đã được in trong hai tập sách lấy tên "Về giá
trị văn hoá tinh thần Việt Nam" do Nxb Thông tin lý luận ấn hành năm 1983,
trong đó đề cập đến một số vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu về
giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam và khẳng định một số nội
dung cơ bản trong các giá trị truyền thống cần được kế thừa, giáo dục và phát
triển trong quá trình xây dựng đời sống tinh thần ở nước ta. Đặc biệt từ sau
khi nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh tế vận động theo cơ chế thị
trường, nhiều giá trị truyền thống của dân tộc có chiều hướng bị mai một, làm
mất đi bản sắc, cốt cách dân tộc thì vấn đề giáo dục, giữ gìn và phát huy giá
trị đạo đức truyền thống dân tộc càng được nghiên cứu và khai thác nhiều hơn
dưới các khía cạnh khác nhau. Trong đó đặc biệt phải kể đến một số bài viết
và các công trình, đề tài nghiên cứu như : "Cái truyền thống và cái hiện đại
trong sự nghiệp xây dựng con người mới ở nước ta" của Đỗ Huy, Tạp chí
Thông tin Khoa học xã hội, số 5- 1986 ; "Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá
dân tộc, một nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại" của Lương Quỳnh Khuê,
Tạp chí Triết học, số 4-1992 ; "Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên
Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường" do Thái Duy Tuyên chủ biên, Hà
Nội, 1994 ; "Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay",
Chương trình Khoa học công nghệ cấp Nhà nước, mã số KX-07-02 do Phan
Huy Lê chủ biên, 1994 ; "Sự biến đổi định hướng giá trị của thanh niên Việt
Nam trong điều kiện kinh tế thị trường" của Thái Duy Tuyên, Tạp chí Triết
học,số 5-1995 ; "Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát
triển" của Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí Triết học, số 2-1998 ; "Kế thừa và
đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh
tế thị trường ở Việt Nam hiện nay", Luận án Tiến sĩ Triết học của Nguyễn
Văn Lý, 2000 ; "Vấn đề kế thừa giá trị truyền thống của dân tộc ta trong bối

điều kiện hiện nay.
*Nhiệm vụ :
- Làm rõ các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam và sự
cần thiết của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh các
trường TCCN ở Hà Nội hiện nay.

7
- Phân tích thực trạng việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho
học sinh các trường TCCN ở Hà Nội hiện nay và nguyên nhân của nó.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục
đạo đức truyền thống cho học sinh TCCN ở Hà Nội hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giáo dục giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc cho học sinh các trường TCCN.
* Phạm vi nghiên cứu của luận văn là vấn đề giáo dục giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc cho đối tượng học sinh các trường TCCN trên địa bàn
Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
* Cơ sở lý luận : Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác –
Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản
Việt Nam về đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, về đào tạo, bồi
dưỡng thế hệ trẻ
* Phương pháp nghiên cứu : Luận văn được thực hiện chủ yếu bằng
phương pháp lịch sử và logíc, kết hợp với phương pháp phân tích - tổng hợp,
thống kê, so sánh, đối chiếu và điều tra xã hội học
6. Đóng góp của luận văn.
- Góp phần làm rõ sự cần thiết phải giáo dục giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc cho học sinh TCCN nói chung và học sinh các trường TCCN ở
Hà Nội nói riêng.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo

vi các hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực và
phương thức đánh giá ý nghĩa nói trên được biểu hiện trong các nguyên tắc và
chuẩn mực đạo đức, trong lý tưởng tâm thế và mục đích”[70, tr.51-52].
Còn theo các nhà nghiên cứu Viện Lịch sử kinh điển ở Lai-xích (Đức)
thì “Giá trị giống như là điểm tích tụ về tư tưởng của một giai cấp hoặc của
một chế độ xã hội nhất định. Điều đó có nghĩa là giá trị thể hiện một cách lịch
sử cụ thể các mục tiêu, quy tắc, lý tưởng về lợi ích xã hội, các yêu cầu của

9
một chế độ xã hội và của một giai cấp nhất định. Do đó, trong nhiều trường
hợp giá trị là định hướng phát triển cơ bản trong đời sống tinh thần nhân loại
trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định” [29, tr.54].
Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về giá trị và
đã đưa ra những quan điểm, những định nghĩa khác nhau. Song, ở đây chúng
tôi thống nhất với quan điểm: “Giá trị trước hết là một phạm trù triết học
dùng để chỉ sự đánh giá những thành quả lao động sáng tạo vật chất và tinh
thần của con người, nó có tác dụng định hướng, đánh giá và điều chỉnh các
hoạt động của xã hội nhằm vươn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp thúc đẩy sự tiến
bộ xã hội”[60,tr.18].
Như vậy, giá trị là tất cả những gì mang ý nghĩa tích cực, gắn liền với
cái hay, cái đúng, cái đẹp và có khả năng định hướng tích cực cho hành động
của con người theo hướng Chân - Thiện – Mỹ, góp phần vào sự phát triển của
xã hội. GS. Nguyễn Trọng Chuẩn, trong “Vấn đề khai thác các giá trị truyền
thống vì mục tiêu phát triển” khẳng định: “Nói đến giá trị tức là muốn khẳng
định mặt tích cực, mặt chính diện, nghĩa là đã bao hàm quan điểm coi giá trị
gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp; là nói đến cái có khả năng thôi
thúc con người hành động và vươn tới” [9, tr.136].
Giá trị rất phong phú và đa dạng, do vậy trên thực tế cũng có rất nhiều
cách phân loại. Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, có giá trị kinh tế, giá trị khoa
học…; căn cứ vào không gian, có giá trị nội sinh và giá trị ngoại nhập; căn cứ

được truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài”[10, tr.19].
Như vậy, có thể coi truyền thống dân tộc là phức hợp những tư tưởng,
tình cảm, phong tục tập quán, thói quen, lối sống, ý chí… của chính dân tộc
đó. Nó được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, đã trở nên ổn định
mang đặc trưng dân tộc và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Truyền
thống là một bộ phận của ý thức xã hội mà ý thức xã hội lại luôn chịu sự quy
định của tồn tại xã hội. Bởi vậy, truyền thống của một dân tộc không phải tự
nhiên mà có, cũng không phải do con người tự lựa chọn cho mình. Nó được
hình thành, được quy định bởi chính điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội mà dân

11
tộc đó đã trải qua. Song phải thừa nhận rằng, truyền thống là một trong những
yếu tố bền vững nhất, khó thay đổi nhất trong ý thức xã hội, cho dù tồn tại xã
hội đã thay đổi. Chính vì tính bền vững, tính bảo thủ của truyền thống, nên
trong mỗi thời điểm nhất định, bao giờ nó cũng mang tính hai mặt: mặt giá trị
và mặt phản giá trị. Có những truyền thống tích cực tạo ra được sức mạnh cho
dân tộc, lại có những truyền thống tiêu cực cản trở sự phát triển của dân tộc;
có những truyền thống trước đây có giá trị tích cực, nhưng khi điều kiện lịch
sử - xã hội thay đổi, nó không còn giá trị nữa, thậm chí trở thành sức cản rất
lớn. Về vấn đề này, trong tác phẩm “Ngày 18 tháng sương mù của Lui
Bônapáctơ”, C.Mác đã viết: “Truyền thống của tất cả những thế hệ đã chết đè
nặng như quả núi lên đầu óc những người đang sống”. Do vậy, không nên
quan niệm truyền thống nào cũng tốt đẹp, mà từ những điều đã trình bày trên,
ta cần lưu ý, có hai loại truyền thống: cái lạc hậu, lỗi thời - cần khắc phục; cái
tạo nên giá trị và bản sắc - cần kế thừa, phát huy và phát triển. Cái tạo nên giá
trị và bản sắc – đó chính là các giá trị truyền thống.
Vì vậy, “Khi nói đến giá trị truyền thống thì hàm ý đã muốn nói tới
những giá trị tương đối ổn định, tới những giá trị là tốt đẹp, là tích cực, là tiêu
biểu cho bản sắc dân tộc; có khả năng truyền lại qua không gian, thời gian,
những gì cần phải bảo vệ và phát triển”[11, tr.753].

Giá trị đạo đức truyền thống là một bộ phận thiết yếu, nổi lên hàng đầu
trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam. Đó là những chuẩn mực đạo
đức tốt đẹp đã được các thế hệ người Việt Nam tạo dựng và phát triển trong
lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là những giá trị đạo đức mang
đậm bản sắc, cốt cách của đất nước, con người Việt Nam. Các giá trị ấy đã
được thử thách trong lịch sử, được lưu truyền qua các thế hệ. Trong lịch sử,
các giá trị đạo đức truyền thống đã trở thành sức mạnh nội sinh để chiến
thắng mọi thiên tai, địch họa. Ngày nay, các giá trị đạo đức truyền thống của
dân tộc sẽ tiếp tục tạo nên sức mạnh cho công cuộc phát triển đất nước và
giảm bớt, loại trừ hay ít ra là làm hạn chế không ít những tiêu cực phát sinh từ
mặt trái của cơ chế thị trường.

13
1.1.2. Các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam
Những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam được hình
thành trong suốt mấy nghìn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước;
trong sự giao lưu và tiếp biến các giá trị văn hoá của nhân loại. Song, cơ sở
cốt yếu để hình thành nên hệ thống các giá trị đạo đức của dân tộc Việt Nam
hoàn toàn bắt nguồn từ nền tảng dân tộc, từ truyền thống hành nghìn năm kiên
trì chịu đựng gian khổ, khó khăn và vượt qua một cách oanh liệt các tác động
khắc nghiệt khác nhau của tự nhiên và xã hội.
Môi trường tự nhiên, điều kiện địa lý đã chi phối trực tiếp đến đời sống
con người không chỉ ở phương diện vật chất mà còn ở cả phương diện tinh thần.
Với nền nông nghiệp lúa nước, từ cổ xưa, cộng đồng người Việt đã tập
trung sinh sống ở lưu vực các con sông lớn. Sinh sống ở vùng sông nước, phải
chống chọi với lũ lụt, bão tố đã hình thành nên khả năng đối phó linh hoạt
trước mọi tình thế với lối ứng xử mềm dẻo của người Việt trong cuộc sống.
Cuộc vật lộn chống thiên tai đã hình thành nên truyền thống đoàn kết, rèn
luyện đức cần cù, kiên nhẫn, trí thông minh và lòng dũng cảm. Mặt khác,
nước ta ở vào vị trí chiến lược của vùng Đông Nam Á, vừa hướng ra Thái

GS.Vũ Khiêu cho rằng, những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc
Việt Nam bao gồm: Lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, lao động cần cù
và sáng tạo; trong đó yêu nước là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị
đạo đức truyền thống của dân tộc.
GS. Trần Văn Giàu cho rằng, giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam
là “yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa”
[23, tr.108].
Còn GS. Nguyễn Trọng Chuẩn, trong bài “Vấn đề khai thác các giá trị
truyền thống vì mục tiêu phát triển” thì cho rằng: “Trong số những truyền
thống vô cùng quý giá như tinh thần yêu nước, truyền thống cộng đồng;
truyền thống dân chủ làng xã, quý trọng gia đình; truyền thống dung dị, chất
phác, tiết kiệm, ghét thói phù phiếm, xa hoa; truyền thống cần cù chịu đựng
gian khổ, yêu trẻ, kính già, vị tha, bao dung; truyền thống hiếu học, ứng xử linh

15
hoạt, thích nghi nhanh và dễ dàng hội nhập để tồn tại… thì nổi trội hơn cả là
truyền thống yêu nước, tinh thần dân tộc, ý chí tự lập, tự cường” [9, tr.17].
Tác giả Võ Văn Thắng trong “Xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay
(từ góc độ văn hoá truyền thống dân tộc)” cho rằng, các giá trị văn hoá truyền
thống dân tộc cần phải kế thừa để xây dựng lối sống mới ở Việt Nam gồm:
“1. Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc; 2. Ý thức cộng đồng
gắn kết cá nhân – gia đình – làng – nước; 3. Lòng nhân ái, khoan dung; 4. Vì
nghĩa; 5. Cần cù; 6. Lạc quan; 7. Hiếu học”[60, tr.64].
Như vậy, hệ thống giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam là
rất phong phú. Song từ tất cả các quan điểm trên có thể thấy một số giá trị đạo
đức truyền thống cơ bản của dân tộc Việt Nam gồm: Lòng yêu nước nồng
nàn; Truyền thống nhân ái – yêu thương con người; Tinh thần đoàn kết, ý
thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng - nước; Truyền thống cần cù
trong lao động; Truyền thống hiếu học… trong đó, yêu nước là bậc thang cao
nhất, đóng vai trò chủ đạo, là cốt lõi định hướng cho mọi giá trị khác.

thanh “Quyết đánh” với lòng căm thù quân xâm lăng tàn bạo, quyết giữ gìn
non sông gấm vóc. Và ý chí kiên cường “dẫu trăm thân này phơi ngoài nội cỏ,
nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng cam lòng” của Trần Hưng Đạo cũng
như khí phách của người anh hùng áo vải Quang Trung dõng dạc tuyên bố
trước ba quân lòng quyết tâm tử chiến với hàng chục vạn quân Thanh: “Đánh
cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh
cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu
chủ”… đã soi đường cho con cháu kế tiếp cha ông trong cuộc kháng chiến vô
cùng gian khổ, quyết liệt đối đầu với hai tên thực dân, đế quốc sừng sỏ là
Pháp và Mỹ. Những tấm gương “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh!”; khẩu
hiệu “Nhằm thẳng quân thù mà bắn!” của hàng vạn anh hùng, chiến sĩ đã
chứng minh, tô đắp thêm truyền thống yêu nước vô cùng vẻ vang của dân tộc
Việt Nam.
Có thể nói rằng, cội nguồn của lòng yêu nước là sự gắn bó với nơi
“chôn nhau, cắt rốn” của mình, nơi ghi đậm những dấu ấn vui buồn, tươi mát

17
của tuổi ấu thơ, đó chính là quê hương. Mỗi một con người, đều tự hào về quê
hương mình, cho dù cảnh vật ở đó vô cùng bình thường, giản dị với cây đa,
bến nước, con đò. Hay có thể là nơi “nước mặn đồng chua” hay vùng “đất
cày lên sỏi đá”. Cũng có thể là nơi đồng khô cỏ cháy, nắng hạn mưa dầm… Ở
nơi đó có ông bà, cha mẹ, có vợ chồng, con cái, anh em; có mồ mả tổ tiên và
có cả láng giềng, hàng xóm. Nơi con người hàng ngày vất vả chiến đấu với
thiên nhiên để duy trì và xây dựng cuộc sống. Lòng yêu nước, tình yêu Tổ
quốc gắn liền và bao hàm cả tình yêu tổ tiên, gia đình, ông bà, cha mẹ, anh
em, con cái… Chính vì vậy mà trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, ông cha ta
vẫn bám trụ đến cùng, giữ đất giữ làng, giữ vững mồ mả tổ tiên, giữ vững nơi
“chôn nhau, cắt rốn”. Không có tình cảm yêu thương gia đình, quê hương thì
không thể có lòng yêu nhân dân, yêu đất nước. Trong đại dương bao la của
lòng yêu nước, nhiều khía cạnh riêng biệt, độc đáo của tình cảm cá nhân

con người. Bản thân chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là một giá trị, nhưng điều
quan trọng hơn nữa nó còn là cội nguồn, là cơ sở của hàng loạt các giá trị đạo
đức, giá trị văn hóa truyền thống khác.
Cùng với chủ nghĩa yêu nước, truyền thống nhân ái – yêu thương con
người cũng là một trong những giá trị đạo đức truyền thống cao đẹp của dân
tộc Việt Nam. Thương người là một đức tính lớn không phải của riêng dân tộc
nào, song ở mỗi nước, do điều kiện lịch sử khác nhau mà nó được hình thành,
phát triển và có những biểu hiện khác nhau.
Truyền thống nhân ái – yêu thương con người của người Việt Nam có
nguồn gốc sâu xa từ trong xã hội công xã nông thôn thời kỳ nguyên thuỷ, buổi
đầu dựng nước. Nó được củng cố và phát triển qua hàng ngàn năm lịch sử
thông qua quá trình con người đồng cam, cộng khổ khai phá thiên nhiên, bảo
vệ Tổ quốc.
Lòng nhân ái – yêu thương con người được thể hiện trước hết hết ở tình
cảm đối với những người ruột thịt, sau đó mở rộng thành tình cảm đối với làng
xóm, cộng đồng dân tộc và quốc tế. Từ trong gia đình, lòng thương người thể
hiện một cách tự nhiên giữa cha mẹ với con cái, ông bà với các cháu. Ông bà,

19
bố mẹ yêu thương, chăm sóc thế hệ con cháu; bao dung, độ lượng, nuôi dạy
con cháu, mong cho con cháu sớm trưởng thành và thành đạt hơn thế hệ mẹ
cha. Ông bà, cha mẹ luôn tâm niệm “hậu sinh khả uý”, “con hơn cha là nhà có
phúc”… Đồng thời, con cháu luôn ơn kính công cha, nghĩa mẹ, có trách nhiệm
săn sóc, phụng dưỡng ông bà, cha mẹ. Vợ chồng phải hoà thuận, chia ngọt sẻ
bùi, cùng nhau xây dựng cuộc sống hạnh phúc. Anh em trong gia đình phải
đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau: “Chị ngã, em nâng”, “Anh em như thể tay chân.
Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần”…là sự thể hiện sinh động mối quan hệ tình
cảm sâu sắc, bền chặt giữa các thành viên trong gia đình.
Còn đối với người ngoài xã hội, phải giúp đỡ lẫn nhau khi gặp hoạn
nạn, khó khăn, bênh vực kẻ yếu: “Thương người như thể thương thân”. Đó là

những xung đột, tranh chấp. Trong đường lối đối nội, Đảng ta khơi dậy các
phong trào “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, chăm sóc các bà
mẹ Việt Nam anh hùng, các gia đình thương binh liệt sĩ, giúp đỡ những người
già neo đơn, không nơi nương tựa, phát động phong trào xoá đói giảm nghèo,
trợ giúp các dân tộc vùng sâu vùng xa, rút ngắn khoảng cách thành thị - nông
thôn, miền xuôi - miền ngược… Có thể nói, truyền thống nhân ái – yêu
thương con người là truyền thống đáng tự hào của dân tộc ta và từ lâu đã trở
thành nếp nghĩ chi phối mọi quan hệ giữa người với người trong xã hội.
Truyền thống này không ngừng được kế thừa và phát huy trong suốt chiều dài
lịch sử dân tộc, là cơ sở sâu xa và vững bền của chủ nghĩa nhân đạo XHCN
của chúng ta ngày nay.
Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình
– làng - nước cũng là một giá trị đạo đức truyền thống tiêu biểu của dân
tộc Việt Nam. Nếu như việc đề cao quyền và tự do cá nhân được coi là giá trị
tiêu biểu của các nước phương Tây thì ý thức cộng đồng, truyền thống đoàn
kết lại là nét đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng
đồng ấy là sản phẩm của quá trình đấu tranh với điều kiện khí hậu khắc
nghiệt, thiên nhiên luôn đe doạ cuộc sống và những cuộc xâm lăng liên tiếp

21
của các thế lực thù địch. Đoàn kết, gắn bó là một quy luật tất yếu trong cuộc
đấu tranh sống còn của con người Việt Nam. Có đoàn kết, thương yêu gắn bó
với nhau mới phát huy được sức mạnh để chiến thắng thiên tai, địch hoạ.
Tính độc đáo của tinh thần đoàn kết, gắn bó thể hiện trong kết cấu bền
chặt cá nhân – gia đình – làng – nước của xã hội Việt Nam. Trong lịch sử Việt
Nam, cá nhân không giống với xã hội phương Tây. Nếu ở phương Tây, các cá
nhân đều muốn bộc lộ cái riêng, khẳng định tính độc lập của mình thì ở Việt
Nam cá nhân luôn gắn với gia đình, tập thể. Đối với người Việt Nam, gia đình
là nước thu nhỏ, nhưng mở rộng gia đình là làng. Làng trong truyền thống
Việt Nam là một tập thể nhỏ, có tổ chức rất chặt chẽ. Song nó không thể giải

nước. Chính vì vậy mà từ đời này qua đời khác, họ rất tôn trọng lao động,
khinh ghét, lên án gay gắt những kẻ lười nhác một cách không thương tiếc:
“Chết rũ giữa đồng rồi đời thằng nhác”. Miếng ăn, thức mặc, đời sống ấm no
của mỗi con người luôn gắn liền với đức tính chăm chỉ lao động được cha ông
ta coi như là quy luật tồn tại tất yếu và công bằng trong xã hội:
“Có làm thì mới có ăn
Không dưng ai dễ đem phần đến cho”
Hơn nữa ông cha ta cũng thẳng thắn khẳng định:
“Giàu đâu những kẻ ngủ trưa
Sang đâu những kẻ say sưa tối ngày”
Vốn mang sẵn trong mình đức tính cần cù, yêu lao động nên nhân dân
ta luôn tỏ thái độ phê phán, khinh ghét đối với thói lười biếng. Họ cho rằng
lười biếng là nguồn gốc sinh ra mọi tội lỗi: “Nhàn cư vi bất thiện”. Và nếu
công nhận nhàn rỗi là nguồn gốc của điều ác thì cần cù lao động có nghĩa là
sáng tạo ra cái mới làm biến đổi tự nhiên, cải tạo xã hội, làm cho cuộc sống
con người ngày càng đầy đủ và hoàn thiện hơn. Có thể nói, dân tộc Việt Nam
vốn có truyền thống cần cù: cần cù trong lao động chân tay, sản xuất vật chất,
trong lao động trí óc, cần cù trong cả chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Điều

23
này không chỉ được thấy trong những thần thoại, truyền thuyết, trong nhiều
tục ngữ, ca dao mà còn thấy cả ở trong văn chương bác học; không chỉ thể
hiện ở cá nhân mà còn thể hiện ở cả cộng đồng dân tộc.
Có thể khẳng định rằng, đức tính cần cù là một đức tính lớn của dân tộc
Việt Nam. Nó đã làm nên bản sắc của nền văn hóa và được biểu hiện rõ nét
trong đời sống của dân tộc ta. Đức tính này góp phần quan trọng trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc suốt chặng đường mấy nghìn
năm lịch sử. Ngày nay, để tiến tới một xã hội tốt đẹp, đem lại hạnh phúc, ấm
no cho nhân dân thì lao động cần cù là nền tảng, cơ sở của sự sáng tạo, là tiêu
chuẩn để đánh giá phẩm chất con người. Cần cù là “điều kiện, nguồn gốc làm

của người Việt Nam. Tinh thần “Tôn sư trọng đạo” đã trở thành truyền thống
tốt đẹp của dân tộc ta, nó góp phần định hướng giá trị trong quá trình phát
triển xã hội. Cho nên, GS.TS Huỳnh Khái Vinh và TS. Nguyễn Thanh Tuấn
đã nhận định rằng: “Giá trị hiếu học, coi trọng học vấn và tôn sư trọng đạo là
truyền thống lâu bền và là một hàm nghĩa của văn hiến Việt Nam”.
Trong lịch sử dân tộc, vấn đề gắn học vấn với đạo đức, gắn chữ Tài với
chữ Tâm là vấn đề luôn được quan tâm và coi trọng. Người Việt Nam hay nói
“đức tài”, “hiền tài”. Hai phẩm chất đó luôn được đề cập gắn bó với nhau.
Người có tài mà không có đức thì vô dụng, có đức mà không có tài thì làm
việc gì cũng khó; còn đối với đất nước thì hiền tài là nguyên khí quốc gia,
nguyên khí vượng thì thế nước mạnh và thịnh, nguyên khí kém thì thế nước
yếu và suy. Vậy nên các đấng thánh đế minh vương không ai không chăm lo
việc gây dựng nhân tài, bồi đắp nguyên khí quốc gia.
“Hiếu học là truyền thống quý báu tự nghìn xưa của dân tộc ta. Truyền
thống ấy cần được giữ gìn và phát huy trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, bất chấp những “sóng gió” của kinh tế thị trường”[6, tr.4].
Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta luôn xác định: “Giáo
dục là quốc sách hàng đầu”, luôn quan tâm nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài; quan tâm giáo dục lý tưởng, đạo đức và lối sống văn

Trích đoạn Giáo dục đạo đức truyền thống chưa đặt trong mối quan hệ giữa truyền Sự bất cập giữa lý thuyết với thực tế trong giáo dục giá trị đạo đức Đa dạng hoá hình thức giáo dục giá trị đạo đức truyền thống trong các
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status