ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ NGỌC ANH
CHỦ NGHĨA THỰC CHỨNG VÀ QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ
NGHĨA THỰC CHỨNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT
HỌC VÀ KHOA HỌC TỰ NHIÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ
Mã số: 5 01 01
Người hướng dẫn: GS.TS. Nguyễn Trọng Chuẩn
HÀ NỘI - 2004
1
MỤC LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong thời kỳ mở cửa để tăng cường sự giao lưu với
các dân tộc trên thế giới, theo phương châm: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là
đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình,
độc lập và phát triển” [3, tr.119]
. Đó là một chủ trương đúng đắn. Bởi vì, lịch
sử nhân loại từ xưa đến nay đã cho thấy, “bất cứ một quốc gia nào, một dân
tộc nào cũng không thể phát triển được, và hơn thế nữa càng không thể phát
triển nhanh được nếu như tự mình đóng cửa, tách khỏi sự giao lưu mọi mặt
với các dân tộc khác” [1, tr.801]. Để có thể chủ động giao lưu và hội nhập
quốc tế, ngoài việc phải phấn đấu xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ, thì
việc mở rộng hiểu biết về văn hoá tinh thần của các dân tộc trên thế giới nhằm
“tiếp thu tinh hoa” để làm giàu thêm vốn văn hoá và các giá trị văn hoá của
dân tộc mình là điều vô cùng cần thiết. Trong quá trình tìm hiểu về văn hoá
tinh thần của nhân loại, chúng ta không thể không chú trọng nghiên cứu
những nền triết học tiên tiến của thế giới. Bởi, những tư tưởng triết học chính
là thành quả của tư duy và văn minh nhân loại, là sự “kết tinh tinh thần của
thời đại”.
Nhưng, trên thực tế, ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu về các
nền triết học tiên tiến của thế giới chưa có nhiều. Trong một thời gian dài,
chúng ta chỉ chủ yếu quan tâm đến việc nghiên cứu và giảng dạy triết học
mácxít, mảng đề tài triết học ngoài mácxít chưa được quan tâm nghiên cứu
đúng mức, nhất là nền triết học phương Tây hiện đại, một nền triết học chứa
đựng không ít giá trị tư tưởng.
Triết học phương Tây hiện đại được hình thành và phát triển trong xã
hội hiện đại của phương Tây. Do những điều kiện lịch sử và sự phát triển của
hội tư bản đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa thực chứng ra đời tuyên bố sẽ thực hiện
“một cuộc cách mạng” trong triết học. Nó phủ nhận vai trò của triết học
truyền thống một cách triệt để, đòi thay thế triết học truyền thống bằng một
thứ triết học mới - triết học thực chứng. Chính vì vậy, các nhà tư tưởng của
3
chủ nghĩa thực chứng muốn xác định lại đối tượng và phương pháp của triết
học, bằng cách xác định lại mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên.
Những quan điểm về mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên của các
nhà triết học thực chứng ở các giai đoạn rất đa dạng, đan xen cả những yếu tố
hợp lý và những yếu tố mâu thuẫn. Vì vậy, việc nghiên cứu những quan điểm
của họ, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa triết học và khoa học
tự nhiên cũng như hiểu rõ hơn về những diễn biến tư tưởng của nền triết học
phương Tây.
Trên tinh thần đó, chúng tôi chọn: “Chủ nghĩa thực chứng và quan
điểm của chủ nghĩa thực chứng về mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự
nhiên” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ở Việt Nam.
Theo sự tìm hiểu của chúng tôi, những công trình nghiên cứu về chủ
nghĩa thực chứng ở Việt Nam chưa nhiều, đa số các công trình chỉ đề cập đến
chủ nghĩa thực chứng ở mức độ khái quát, chưa có tài liệu nào nghiên cứu về
chủ nghĩa thực chứng một cách chuyên sâu.
Trong khi giới thiệu về các trào lưu tư tưởng của triết học phương Tây
hiện đại, cuốn sách Triết học phương Tây hiện đại gồm 4 tập của tác giả Lưu
Phóng Đồng (Lê Quang Lâm dịch từ tiếng Trung Quốc, nhà xuất bản Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1994) đã giới thiệu về chủ nghĩa thực chứng cổ
điển, chủ nghĩa Makhơ, triết học phân tích và một số tư tưởng chủ yếu của
các nhà triết học thực chứng tiêu biểu. Đề cập đến các giai đoạn phát triển của
chủ nghĩa thực chứng, cuốn Triết học và cuộc đấu tranh ý thức hệ (về một số
trào lưu triết học tư sản hiện đại) (Nhà xuất bản Thông tin lý luận năm 1982),
Vlađimia Rum (người dịch Đặng Phùng Quân, tư liệu Viện Triết học, năm
1981), đã khẳng định rằng, trọng tâm vấn đề nhận thức luận của chủ nghĩa
thực chứng lôgíc là nêu lên những vấn đề về quan hệ của bản chất lý luận và
kinh nghiệm. Chủ nghĩa thực chứng mới còn được giới thiệu trong cuốn sách
5
Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại của tác giả Nguyễn Hào Hải
(Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, năm 2001). Trong cuốn sách này, tác giả đã
trình bày một cách khái quát về chủ nghĩa thực chứng mới (Néo-Positivism).
Sau đó, tác giả đi sâu phân tích “thuyết phủ chứng thực” của K.Popper, một
học thuyết gây tiếng vang lớn trong triết học hiện đại ở phương Tây.
Những tư tưởng của từng triết gia thực chứng mới chưa được nghiên cứu
nhiều ở Việt Nam. Trên tạp chí Triết học năm 2001 có hai bài viết về tư tưởng
của Vítgenstêin của tác giả Trần Tuấn Phong là: Quan hệ giữa ngôn ngữ và
thực tại trong “chuyên luận lôgíc-triết học” của Vitgenstêin (số 2/2001) và
Về vai trò của khái niệm “trò chơi ngôn ngữ” trong triết học Vítgenstêin, (số
9/2001). Trong hai bài viết, tác giả đã trình bày một số tư tưởng cơ bản về vai
trò của ngôn ngữ của Vitgenstêin - nhà triết học có những đóng góp to lớn cho
sự hình thành và phát triển của triết học phân tích. Luận văn thạc sĩ “Vấn đề
quyền lực trong triết học xã hội của B.Rátxen”của của tác giả Vũ Mạnh Toàn
cũng có đề cập đến một số tư tưởng triết học của Rátxen với tư cách là một
nhà triết học, người đặt nền móng cho chủ nghĩa thực chứng mới. Ngoài ra,
chúng ta có thể tìm thấy các tưởng chủ yếu của các triết gia thực chứng mới
được giới thiệu tóm tắt trong cuốn Triết học phương Tây hiện đại - Từ điển,
(Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996).
Vấn đề mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên là vấn đề trung
tâm của chủ nghĩa thực chứng. Tuy nhiên, ở Việt Nam chỉ có một số ít tư liệu
nói sơ lược, khái quát về vấn đề này. Chúng ta có thể tìm thấy tư liệu về nói
về mối quan hệ này trong cuốn Vai trò của phương pháp luận triết học Mác-
Lênin đối với sự phát triển của khoa học tự nhiên của Viện Triết học (Nhà
qua 4 giai đoạn phát triển: 1. Chủ nghĩa thực chứng sơ kỳ; 2. Chủ nghĩa phê
phán kinh nghiệm; 3. Chủ nghĩa thực chứng mới (Neo-positivism); 4. Chủ
nghĩa hậu thực chứng (Post-positivism). Ở mỗi giai đoạn phát triển, chủ nghĩa
thực chứng có rất nhiều đại biểu với những quan điểm đa dạng, phức tạp.
7
Tính đa dạng, phức tạp đặc biệt càng tăng lên ở những giai đoạn phát triển sau
của chủ nghĩa thực chứng như chủ nghĩa thực chứng mới và chủ nghĩa hậu
thực chứng phản ánh tính đa dạng, phong phú của nền triết học phương Tây
hiện đại.
Trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, chúng tôi không có điều kiện tìm
hiểu được tất cả các tư tưởng của các nhà thực chứng ở tất cả các giai đoạn
phát triển mà chỉ có thể tìm hiểu một số tư tưởng của các nhà thực chứng tiêu
biểu trong ba giai đoạn đầu, qua đó tìm ra những quan điểm chủ yếu của họ
về mối quan hệ giữa triết học với khoa học tự nhiên. Hình thức phát triển thứ
4 của chủ nghĩa thực chứng là chủ nghĩa hậu thực chứng, chúng tôi xin được
nghiên cứu ở những công trình tiếp theo.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu những tài liệu viết về
chủ nghĩa thực chứng ở các góc độ khác nhau.
Luận văn dựa trên nền tảng quan điểm của triết học duy vật biện chứng
để nghiên cứu lịch sử triết học và tìm hiểu quan điểm của chủ nghĩa thực
chứng về mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là những
phương pháp nghiên cứu của lịch sử triết học. Cụ thể là: Phương pháp lịch sử,
phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp,
phương pháp so sánh, v.v
6. Đóng góp mới của luận văn.
Thông qua việc trình bày một cách có hệ thống ba giai đoạn đầu trong
sự phát triển của chủ nghĩa thực chứng, luận văn bước đầu nêu ra và phân tích
quan trọng trong sự phát triển kinh tế; công nghiệp cơ khí đã chiếm ưu thế rõ
rệt. Ở Anh cũng vậy, lao động chân tay đã được thay thế bằng lao động máy
móc, việc cơ khí hoá sản xuất đã làm cho sản xuất công nghiệp phát triển nhanh
chóng [7, tr.232]. Tiềm lực kinh tế của giai cấp tư sản nắm quyền ở cả hai nước
đều đang rất mạnh. Họ dành sự quan tâm đặc biệt cho sự phát triển khoa học kỹ
thuật để áp dụng những phát minh mới vào sản xuất nhằm hoàn thiện chế độ tư
bản chủ nghĩa, đảm bảo quyền lợi kinh tế và bảo vệ vững chắc địa vị thống trị.
Khi sức mạnh về kinh tế tăng lên thì tư tưởng của giai cấp tư sản cũng
có sự thay đổi. Nếu như trong cách mạng tư sản, những tư tưởng tiến bộ, dân
chủ, cấp tiến là ngọn đuốc soi đường cho giai cấp tư sản chiến thắng thế lực
phong kiến giành thắng lợi, thì khi đã xác lập được vị trí thống trị của mình,
giai cấp tư sản đã quay trở lại bác bỏ và thù địch với lý luận cách mạng xã
hội, bác bỏ và thù địch với chủ nghĩa duy vật và thuyết vô thần. Các nhà tư
tưởng tư sản Anh và Pháp nói chung, thời kỳ này, đã vứt bỏ triết học duy vật
chống phong kiến của các triết gia như Bêcơn, Hốpxơ, Lốccơ và ở mức độ
nào đó đã đi cùng đường với thần học, tôn giáo phong kiến và triết học duy
tâm. Giai cấp tư sản muốn sử dụng những học thuyết của thần học tôn giáo để
dễ bề thống trị dân chúng và che đậy những tham vọng đen tối của mình. Do
đó, nó thù địch với những tư tưởng của chủ nghĩa duy vật, vô thần, lảng tránh
những kết luận duy vật rút ra từ những thành tựu phát triển của khoa học tự
10
nhiên. Nhưng yếu tố cốt lõi có thể làm cho nền sản xuất tư bản phát triển phải
là những thành tựu của khoa học tự nhiên để ứng dụng vào sản xuất chứ
không phải những tư tưởng duy tâm, tôn giáo. Do nhận thức được điều tất yếu
đó nên giai cấp tư sản Anh và Pháp tuy thù địch với chủ nghĩa duy vật vô
thần, nhưng cũng rất thất vọng với chủ nghĩa duy tâm tư biện và với cả những
nhà duy tâm nào công khai kìm hãm sự phát triển của khoa học tự nhiên. Về
mặt tư tưởng, giai cấp tư sản ở trong một mâu thuẫn khó giải quyết, nó đang
rất cần một học thuyết có thể điều hoà được mâu thuẫn này.
học xã hội hướng vào thành tựu của các khoa học chính xác. Nói cách khác,
trong giới khoa học, người ta hướng tới những tri thức cụ thể, dựa trên kinh
nghiệm và các phép tính, các tri thức có thể kiểm chứng được. Uy tín của
khoa học chính xác như toán học, vật lý học, v.v. được đề cao trong xã hội.
Người ta đặt rất nhiều hy vọng vào các khoa học chính xác vì tin tưởng rằng,
sự tiến bộ của chúng sẽ làm cho xã hội có những thay đổi lớn. Trong hệ thống
giáo dục, những tri thức của khoa học chính xác, những tri thức có thể kiểm
chứng đã được đặt lên hàng đầu. Trong các lĩnh vực khác nhau, người ta bắt
đầu đánh giá cao những người có tri thức thật sự thực chứng.
Đây cũng chính là biểu hiện của sự thay đổi định hướng giá trị của xã
hội tư bản. Nếu như trước đây, trong xã hội phong kiến, người ta hướng đến
Chúa với tư cách bản nguyên tinh thần của thế giới, coi linh hồn là yếu tố thần
thánh ở trong mỗi con người, còn mọi cái thế tục đều bị đánh giá là thấp hèn,
thì giờ đây, thể chất của con người, những lợi ích thực tiễn, hoạt động thực
tiễn của con người trong thế giới vật chất đã được đặt lên hàng đầu. Sự thay
đổi định hướng giá trị do nền văn minh công nghiệp phát triển đã làm nổ ra
cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt chống lại những tư tưởng tôn giáo, chống lại
tư duy tư biện, tư duy trừu tượng, không gắn liền với sinh hoạt thực tiễn và lợi
ích thực tiễn của con người.
12
Khuynh hướng thực chứng hoá mọi tri thức của con người ngày càng
nổi lên, các nhà nghiên cứu xã hội cũng cố gắng biến các khoa học xã hội
thành các khoa học thực chứng. Triết học cũng nằm trong sự vận động đó.
Một số triết gia nhận thấy nguyên nhân chủ yếu làm cho triết học bị suy giảm
uy tín cũng chỉ vì thiếu những cơ sở vững chắc, thiếu những căn cứ xác thực.
Họ muốn có một sự thay đổi lớn trong triết học, họ đề xướng một thứ triết học
mới, triết học thực chứng, với hy vọng có thể đưa ra sự luận chứng triết học,
lôgíc học - phương pháp luận cho các khoa học dựa trên nền tảng của tri thức
cụ thể, căn cứ trên kinh nghiệm, kiểm tra được và có hiệu quả thực tiễn. Có
1.2. Các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa thực chứng.
Chủ nghĩa thực chứng, gọi theo tiếng Anh là Positivism. Nó xuất phát
từ từ gốc, theo tiếng Latinh là positiv, có nghĩa là rõ ràng, chính xác, tích cực,
có thể chỉ ra được, có thể chứng minh được.
Theo nghĩa đó, chủ nghĩa thực chứng - positivism - là học thuyết cho
rằng, mọi tri thức của con người đều cần phải được chứng thực, được chứng
minh, được kiểm tra bằng kinh nghiệm. Nói cách khác, theo học thuyết này,
mọi tri thức, nếu được kiểm chứng thì nó mới có ý nghĩa.
Từ khi ra đời, chủ nghĩa thực chứng trải qua nhiều giai đoạn phát triển,
với rất nhiều quan điểm khác nhau. Trong luận văn này, chúng tôi xin được
trình bày khái quát ba giai đoạn phát triển đầu tiên của chủ nghĩa thực chứng.
1.2.1. Chủ nghĩa thực chứng sơ kỳ.
Người sáng lập ra chủ nghĩa thực chứng là Côngtơ (Auguste Comte,
1798 - 1857). Những tư tưởng của ông về chủ nghĩa thực chứng bắt đầu hình
thành vào thời gian từ năm 1817 đến 1824, khi ông làm thư ký cho Xanh
Ximông, người theo thuyết chủ nghĩa xã hội không tưởng. Côngtơ đã tiếp thu
được một số tư tưởng từ Xanh Ximông, nhưng khác với Xanh Ximông, học
thuyết của Côngtơ thể hiện sự thù địch sâu sắc đối với mô hình chủ nghĩa xã
hội, và có thể coi đó là một sự phản ứng của giai cấp tư sản đối với sự phát
14
triển của phong trào giải phóng những người lao động. Côngtơ thừa nhận
rằng, cuộc cách mạng năm 1789 có ý nghĩa lịch sử tiến bộ, nhưng theo ông,
cuộc cách mạng này đã đẩy nước Pháp vào tình trạng “mất trật tự”, do đó
cần phải được khắc phục và thay thế bằng một trật tự mới khoa học hơn để
loại trừ khả năng xảy ra một cuộc cách mạng mới. Côngtơ xác định việc
luận chứng cho “trật tự mới”, luận chứng cho sự tồn tại vững chắc của chủ
nghĩa tư bản là xuất phát điểm, là mục đích chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa
thực chứng của ông.
Côngtơ mong muốn xây dựng một hệ thống chủ nghĩa thực chứng bao
lực siêu tự nhiên để giải thích mọi điều. Ở giai đoạn này, con người muốn
nhận được tri thức tuyệt đối về bản chất sự vật và nhìn nhận một cách võ đoán
các khái niệm trừu tượng về sự vật là những tri thức tuyệt đối. Cho nên các
loại khái niệm trừu tượng này đã làm nên các loại hệ thống triết học và lý luận
được xem là những chân lý tuyệt đối.
Trong giai đoạn thực nghiệm, con người thừa nhận không thể có được
khái niệm tuyệt đối, cho nên không còn tìm tòi cội nguồn và mục đích của vũ
trụ, không còn tìm hiểu nguyên nhân bên trong các các loại hiện tượng mà chỉ
quan sát và suy luận nhằm phát hiện sự tồn tại trước sau và những mối quan
hệ giữa các hiện tượng, sự nghiên cứu và giải thích mọi sự vật chỉ được tiến
hành trong phạm vi thế giới hiện tượng. Cách nghiên cứu mới mẻ này chính
là phương pháp của các khoa học thực nghiệm. Giai đoạn thực nghiệm chính
là giai đoạn khoa học, phương pháp triết học thực chứng là phương pháp
khoa học.
Công tơ cho rằng, giai đoạn thần học là điểm xuất phát tất nhiên của
quá trình phát triển tư tưởng loài người, còn giai đoạn thực nghiệm là giai
đoạn cao nhất của quá trình phát triển đó. Trong giai đoạn siêu hình, tư tưởng,
tri thức của con người là lầm lạc, võ đoán phán nhưng nhìn nhận một cách
16
khách quan, đó cũng là điều kiện để tư tưởng của con người phát triển lên một
trình độ cao hơn, đó là giai đoạn thực nghiệm. Vì vậy, giai đoạn siêu hình là
giai đoạn quá độ từ giai đoạn thần học sang giai đoạn thực nghiệm nên được
gọi là giai đoạn quá độ.
Sự phát triển từ thần học, siêu hình sang khoa học, theo Côngtơ, là quy
luật của toàn bộ sự phát triển tư tưởng loài người và cũng là quy luật phát
triển tư tưởng của mỗi người. Côngtơ đã liên hệ sự phát triển tư tưởng loài
người với sự phát triển chế độ chính trị xã hội và hình thái phát triển tư tưởng
xã hội nhất định. Theo ông, phù hợp với giai đoạn thần học là trật tự xã hội
của chính trị thần quyền và sự thống trị quân sự châu Âu cổ đại và trung cổ;
của Công tơ về “luật ba giai đoạn” chỉ là một giả định vu vơ chứ không thể
gọi là một quy luật của lịch sử” [34, tr.4]
Một trong những mục tiêu mà Côngtơ đặt ra cho triết học thực chứng
là thống nhất lại các ngành khoa học và ông cho rằng, chỉ có xã hội học mới
có thể thực hiện được sự thống nhất ấy. Bởi vì, mọi khoa học đều có quan hệ
với con người, do con người điều khiển, các ngành khoa học đều chịu sự chi
phối của lý trí hành động và tình cảm của con người. Côngtơ thấy cần thiết
phải xây dựng môn xã hội học bởi xã hội học chính là khoa học về con người
sống trong xã hội. Xã hội học, theo Côngtơ, là khoa học thực hiện sự thống
nhất lý trí, tình cảm và hành động của con người; nó liên hệ các ngành khoa
học tự nhiên với con người. Để tổ chức lại xã hội, con người không chỉ cần
đến những tri thức về quy luật tự nhiên, mà còn cần tri thức về quy luật xã
hội. Tri thức về quy luật xã hội do xã hội học cung cấp. Không có xã hội học
thì không thể đổi mới và thúc đẩy tiến bộ xã hội chân chính.
Trên tinh thần “thực chứng hoá” các khoa học xã hội, Côngtơ đặt xã
hội học ngang hàng với vật lý học. Ông chủ trương nghiên cứu xã hội từ góc
độ của môn khoa học thực nghiệm có cơ sở vững chắc là khoa học vật lý. Ông
đưa ra quan điểm cơ học xã hội và chia xã hội thành tĩnh lực học xã hội và
18
động lực học xã hội. Tĩnh lực học xã hội nghiên cứu trạng thái tĩnh của xã
hội, nghiên cứu quan hệ xã hội nói chung, kết cấu và tính chất xã hội cùng
những điều kiện tồn tại của chúng. Còn động lực học xã hội thì nghiên cứu
trạng thái động của xã hội, tìm tòi quy luật vận động và phát triển của xã hội,
nghiên cứu sự tiến bộ của xã hội. Tĩnh lực học xã hội và động lực học xã hội
là một tổng thể hữu cơ phụ thuộc lẫn nhau. Nghiên cứu trật tự tĩnh lực học xã
hội tất nhiên phải thông qua các thành quả của nghiên cứu động lực học xã
hội, bởi vì, theo Côngtơ, tiến bộ chính là sự phát triển từng bước của trật tự.
Trật tự là cái quan trọng nhất đối với bất cứ xã hội nào, nhưng nếu không có
tiến bộ, trật tự sẽ bị xơ cứng, lạc hậu suy thoái. Côngtơ khẳng định rằng, trong
Minlơ đã đi từ chủ nghĩa duy vật của Bêcơn đến thuyết liên tưởng tâm
lý và thuyết bất khả tri của Hium. Đi theo Hium, ông xuất phát từ tính tất yếu
và tính liên tục có tính chất điều chỉnh của các sự kiện. Cũng như Hium,
Minlơ cho rằng, quy luật nhân quả chính là “gốc rễ” của toàn bộ học thuyết về
quy nạp và thừa nhận sự tác động của nó trong giới tự nhiên cũng như trong
tâm lý và đời sống xã hội của con người. Hoà nhịp với sự giải thích có tính
chất hiện tượng luận về tính nhân quả, Minlơ đã hướng đến sự giải thích lôgíc
học như là sự thoát khỏi chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Minlơ
không phân biệt khía cạnh tâm lý học và lôgíc học của tư duy. Lôgíc học của
ông khi thì biểu hiện ở khía cạnh phương pháp luận, khi thì biểu hiện ở khía
cạnh nhận thức luận, khi lại biểu hiện ở khía cạnh ngữ pháp giản đơn của vấn
đề. Bởi vậy, những yếu tố thực chứng ở đó được thể hiện dưới những dạng
khác nhau. Trong lôgíc học của Minlơ có một số tư tưởng có giá trị nhất định
đối với tín hiệu học và ngữ nghĩa lôgíc. Tư tưởng quan trọng nhất là tư tưởng
“ghi nghĩa”. Theo Minlơ, việc giải nghĩa, hay biểu thị đối tượng không quan
trọng bằng việc ghi ký hiệu về sự vật. Ông cho rằng, tên gọi của sự vật, ví dụ:
John, London, nước Anh là từ biểu thị trực tiếp đối tượng, nó không ghi ký
hiệu được, do đó nó không có ý nghĩa. Còn các từ chỉ tính chất như: màu
20
trắng, độ dài, đức hạnh là những từ ghi ký hiệu được, và vì vậy chúng mới
có nghĩa [28, tr.53]. Như vậy, Minlơ đã bước đầu thấy những giới hạn của
ngôn ngữ khi diễn đạt thực tại.
Cũng như Côngtơ và các nhà thực chứng Pháp, Minlơ mong muốn các
lĩnh vực đạo đức, lịch sử, kinh tế chính trị, v.v. trở thành các khoa học chặt
chẽ. Trong học thuyết về đạo đức, Minlơ đã theo quan điểm của chủ nghĩa vị
lợi (Utilitarianism) của Bentham (Jeremy Bentham). Khi viết tác phẩm Chủ
nghĩa vị lợi (1865), Minlơ đã áp dụng phương pháp quy nạp của lôgíc học để
trình bày những vấn đề đạo đức [42, tr.3]. Với tinh thần của chủ nghĩa thực
chứng, khi viết về chủ nghĩa vị lợi, Minlơ khẳng định: Chủ nghĩa vị lợi chỉ
không thể tưởng tượng nổi là có thể chia nhỏ vật chất đến vô tận, cũng như
không thể tưởng tượng nổi sự tồn tại của những phần tử nhỏ nhất, không thể
phân chia được của nó. Từ đó, ông suy ra rằng, vật chất, trong bản tính cuối
cùng của nó, là tuyệt đối không thể nhận thức được; không gian và thời gian,
cũng tương tự như vậy. Có một số vấn đề mà khoa học thời kỳ của Spenxơ
chưa thể giải quyết như vấn đề bản chất của sức hút, vấn đề nguồn gốc của ý
thức, v.v. nhưng Spenxơ coi đó là những vấn đề không bao giờ có thể giải
quyết.
Spenxơ cho rằng, nguyên tắc nền tảng của toàn bộ nhận thức là luận
điểm về tính không thể tiêu diệt được của vật chất (tính không thể tiêu diệt
được của lực). Khái niệm lực lúc đầu được Spenxơ giải thích như một lực
lượng thần thánh. Về sau, khía cạnh vật lý của khái niệm này mới được lưu ý.
Tuy nhiên, Spenxơ đã sai lầm khi cho rằng, tính vĩnh cửu, tính không thể tiêu
diệt được của vật chất và của lực là không thể chứng minh được, mà chỉ được
rút ra từ bản tính của tư duy và chỉ là một định đề (postulate) cần thiết của tư
duy thôi. Thực ra thì luận điểm về tính không thể tiêu diệt được của vật chất
là một kết luận được rút ra từ các dữ liệu thực tế, được thực nghiệm xác nhận.
22
Từ định đề về tính không thể tiêu diệt được của lực, theo Spenxơ, sẽ rút
ra được kết luận về tính không thể tiêu diệt được của vận động. Xuất phát từ
những nguyên tắc này, Spenxơ xây dựng quy luật cơ bản của mình - quy luật
tiến hoá. Tiến hoá, theo Spenxơ - đó chính là yếu tố phổ biến của kinh nghiệm
bảo đảm sự thống nhất của tri thức mà triết học thực chứng mong muốn, nó
đem lại khả năng hiểu được mọi hiện tượng của tự nhiên và xã hội.
Trong tiến hoá Spenxơ phân biệt ba trường hợp: 1/ sự chuyển hoá từ
đơn giản thành phức tạp (liên kết hay tập trung); 2/ sự chuyển hoá từ đơn
dạng thành đa dạng (phân hoá); 3/ sự chuyển hoá từ không xác định thành xác
định (tăng trật tự). Lưu ý đến những thay đổi trong quá trình tiến hoá, Spenxơ
đưa ra quy luật tiến hoá như sau: Tiến hoá là sự liên kết của vật chất xảy ra
đặt vấn đề như vậy của ông cho phép chúng ta hiểu sự phát triển của các hiện
tượng xã hội là một sự phát triển khách quan. Mặc dù vậy, khuynh hướng cơ
bản trong xã hội học của Spenxơ đã đưa đến việc sinh học hoá các hiện tượng
của đời sống xã hội, đến chỗ biện hộ cho sự bóc lột và thống trị. Chẳng hạn,
bằng việc áp dụng nguyên tắc “đấu tranh sinh tồn” vào lĩnh vực xã hội, ông
đã tạo cơ sở cho “Chủ nghĩa Đácuyn xã hội”, một trong những trào lưu xã hội
học tư sản coi sự bóc lột và thống trị như là các hiện tượng tự nhiên.
Nói về phương hướng và những triển vọng của sự tiến hoá xã hội,
Spenxơ phân biệt hai kiểu xã hội: 1/ xã hội quân phiệt là xã hội đặc trưng bởi
chuyên chế và phục tùng của cá nhân đối với tập thể hay chính quyền nhà
nước; 2/ xã hội công nghiệp là xã hội đảm bảo tự do, sáng kiến cho cá nhân,
còn quyền lực của nhà nước thì bị giảm tối đa. Giai đoạn tiếp theo của sự tiến
hoá xã hội, theo Spenxơ, không phải là xã hội xã hội chủ nghĩa, mà là một
kiểu xã hội thứ ba, thực chất là xã hội tư bản chủ nghĩa đã được lý tưởng hoá.
Tóm lại, qua tìm hiểu một số tư tưởng chính của ba triết gia thực
chứng tiêu biểu, chúng ta thấy tư tưởng của chủ nghĩa thực chứng trong giai
đoạn đầu tiên nổi lên một số điểm đáng chú ý: Trước hết, những người theo