ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH
VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ở TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hàm Giá
HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤC
Chƣơng 1. TẦM QUAN TRỌNG VÀ NỘI DUNG, PHƢƠNG PHÁP GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY 9
1.1. Tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học
phổ thông hiện nay 9
1.1.1. Đạo đức và giáo dục đạo đức 9
1.1.2. Vai trò của việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ
thông hiện nay 16
1.2. Về nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trung
học phổ thông hiện nay 26
1.2.1. Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
hiện nay 26
PHỤ LỤC 100
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công cuộc CNH, HĐH ở nước ta hiện nay đang đặt ra những yêu cầu
to lớn về việc giáo dục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ. Tại Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, Đảng ta đã xác định phải coi giáo
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu "phải tăng cường giáo dục công dân,
giáo dục thế giới quan khoa học, ý chí vươn lên vì tương lai của bản thân và
tiền đồ của đất nước” [7, tr.29]. Đến Đại hội X của Đảng, Đảng ta tiếp tục chủ
trương “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ
chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện “chuẩn hoá, hiện
đại hoá, xã hội hoá” chất lượng nền giáo dục Việt Nam” [9, tr.95].
Sau hơn 20 năm đổi mới nước ta đã đạt được những thành tựu hết sức
to lớn và toàn diện. Cơ chế thị trường, nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
đang dần phát huy tác dụng tích cực, tạo nên sự phát triển năng động và thúc
đẩy nhịp độ tăng trưởng nền kinh tế ở nước ta. Song kinh tế thị trường cũng
bộc lộ những mặt hạn chế ảnh hưởng tới đời sống tinh thần, đạo đức của các
giai tầng xã hội, theo đó dẫn đến sự thay đổi các bậc thang giá trị, thay đổi từ
nhận thức, quan điểm đến nội dung và cách thức đánh giá đạo đức trong mỗi
một con người, đặc biệt là học sinh. Nên việc định hướng những giá trị đạo
đức, những lối sống lành mạnh, tốt đẹp cho học sinh ngày càng trở nên cấp
bách và cần thiết.
Trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo ở bậc THPT đã có nhiều đổi mới từ
hơn 10 năm nay. Nội dung, chương trình của các môn học được biên soạn lại
cho phù hợp hơn, hình thức phương pháp tổ chức dạy học từng bước được cải
ngại” [11, tr.24]. Nghiên cứu vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh THPT tại
tỉnh Hải Dương được đặt ra trong khung cảnh và ý nghĩa xã hội đó.
3
Hải Dương là tỉnh gần đây đang có sự phát triển nhanh về kinh tế xã
hội. Bên cạnh hàng triệu thanh niên của tỉnh đang hăng say học tập, lao động
để góp phần phát triển kinh tế xã hội của tỉnh thì vẫn còn một bộ phận nhỏ
học sinh THPT lười học, sa sút về đạo đức như: vô lễ với thày cô giáo, trốn
tiết, bỏ học, lập băng nhóm quậy phá, nói tục, gây gổ đánh nhau. Nạn quay
cóp trong thi cử có nguy cơ trở thành “tệ nạn”. Nạn rượu chè, cờ bạc, ma tuý
đã và đang xâm nhập vào môi trường học đường gây ảnh hưởng xấu tới một
bộ phận học sinh THPT và dẫn đến hậu quả vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
Có trường, học sinh không có tiền tiêu xài đã cướp giật, thậm chí trộm cắp
ngay của cha mẹ mình, đã có hiện tượng học sinh nghiện chơi game bạo lực
nên khi bị kích động về tinh thần đã giết ngay cha đẻ của mình một cách man
rợ. Đó là nỗi nhức nhối đối với những người làm công tác giáo dục nói riêng
và đối với toàn xã hội nói chung hiện nay.
Vậy tại sao lại có sự sa sút về mặt phẩm chất đạo đức như vậy trong
một bộ phận học sinh THPT? Làm thế nào để khắc phục tình trạng trên đây?
Làm thế nào để có được những con người phát triển cao về trí tuệ, trong sáng
về đạo đức, với một nhân cách phát triển toàn diện, làm động lực cho sự phát
triển của đất nước hiện nay?
Đó là những vấn đề lớn, hết sức bức thiết đã và đang đặt ra đòi hỏi thực
tiễn công tác giáo dục, đào tạo ở nước ta nói chung và ở tỉnh Hải Dương nói
riêng phải giải quyết. Đây chính là những lý do thôi thúc tôi chọn đề tài:
“Vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở tỉnh Hải
Dương hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ triết học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm 60, 70 của thế kỷ trước có nhiều công trình nghiên
Đề tài NN7 đã có nhiều nội dung mới về giáo dục đạo đức, chính trị và tư
tưởng trong các trường từ tiểu học đến đại học những năm đầu của thập kỷ 90.
5
Gần đây, trong chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX -
07. "Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã
hội", có một số đề tài nghiên cứu các vến đề có liên quan đến đạo đức và nhân
cách con người Việt Nam nói chung, học sinh, sinh viên nói riêng.
Một số cuốn sách của một số giáo sư, các nhà nghiên cứu cũng đề cập
đến vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước hiện nay.
Năm 1974, Giáo sư Vũ Khiêu chủ biên cuốn "Đạo đức mới". Trong tác
phẩm này vấn đề đạo đức mới đã được làm sáng tỏ trên những nét cơ bản.
Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Phúc (2003) "Mấy vấn đề về đạo
đức trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Hoàng Chí Bảo (1998), "Sự biến đổi mối quan hệ giữa cá nhân và xã
hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường". Những thay đổi về
văn hoá, xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở một số
nước Châu Á, Nxb Khoa học xã hội , Hà Nội.
Mai Văn Bình (1991), "Một số vấn đề thời đại và đạo đức", Trường
Đại học Sư phạm I Hà Nội.
Phạm Khắc Chương (1995), "Một số vấn đề về giáo dục đạo đức và
giảng dạy đạo đức ở trung học phổ thông", Vụ giáo viên.
Trịnh Duy Huy (2009), "Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Huỳnh Khái Vinh (2001), "Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn
giá trị xã hội", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Trong một số tạp chí, có một số bài viết xung quanh vấn đề đạo đức
như: "Đôi điều suy nghĩ về giá trị và biến đổi của các giá trị khi nước ta
chuyển sang nền kinh tế thị trường" của Nguyễn Trọng Chuẩn (Tạp chí Triết
sinh THPT tại tỉnh Hải Dương hiện nay.
* Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm
vụ chủ yếu sau:
7
Phân tích vai trò, ý nghĩa của giáo dục đạo đức cho học sinh THPT,
những nhân tố tác động tới quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
hiện nay.
Đánh giá tình hình giáo dục đạo đức trong các trường THPT ở tỉnh Hải
Dương.
Đề xuất một số giải pháp cơ bản, khả thi nhằm nâng cao chất lượng,
hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông, đặc biệt là học sinh THPT
phù hợp với hoàn cảnh và đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh Hải Dương
trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh
trong trường THPT độ tuổi từ 16 đến 18.
* Phạm vi nghiên cứu:
Để giải quyết những vấn đề nêu trên, luận văn giới hạn vào các trường
THPT trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong khoảng 5 năm gần đây.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn dựa trên quan điểm triết học và đạo đức học Mác-Lênin, tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về đạo
đức, về thanh thiếu niên để làm sáng tỏ thực chất vai trò, ý nghĩa, tầm quan
trọng của việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay.
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận chung
TẦM QUAN TRỌNG VÀ NỘI DUNG, PHƢƠNG PHÁP GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY
1.1. Tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung
học phổ thông hiện nay
1.1.1. Đạo đức và giáo dục đạo đức
1.1.1.1. Khái niệm đạo đức
Là một bộ phận của tri thức triết học - những tư tưởng đạo đức đã xuất
hiện cách đây hơn 2.600 năm trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ và Hi Lạp
cổ đại. Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh là mos (moris) - lề thói -
moralis nghĩa là có liên quan với lề thói, đạo nghĩa). Còn “luân lí” được xem
như đồng nghĩa với “đạo đức” có gốc từ tiếng Hi Lạp là ethicos - lề thói, tập
tục. Khi nói đến đạo đức là nói đến những lề thói và tập tục biểu hiện mối
quan hệ nhất định giữa người với người trong giao tiếp với nhau hàng ngày.
Sau này, người ta thường phân biệt 2 khái niệm: moral là đạo đức còn ethicos
là Đạo đức học.
Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ
đại xuất hiện sớm, trong đó đạo có nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái
niệm này được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên. Đạo
còn có nghĩa là đường sống của con người trong xã hội. Khái niệm đức lần
đầu tiên xuất hiện trong Kim văn đời nhà Chu. Đức để nói đến nhân đức, đức
tính và nhìn chung đức tính là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc,
luân lí. Như vậy, có thể nói đạo đức theo quan niệm của người Trung Quốc cổ
đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người
phải tuân theo.
Quan điểm duy tâm tôn giáo coi đạo đức là những nguyên tắc, những
chuẩn mực được rút ra từ trong đầu óc con người, do vậy thiếu cơ sở thực tiễn
10
lịch sử. Chẳng hạn như: Thượng đế, từ ý niệm tuyệt đối, tự ý thức hoặc một
hội, sự phát sinh và phát triển của đạo đức, xét đến cùng là một quá trình do
sự phát triển của phương thức sản xuất quyết định.
Đạo đức là phương thức điều chỉnh hành vi của con người. Loài người
đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi như phong tục, tập quán,
tôn giáo, pháp luật, đạo đức Đối với đạo đức thì sự đánh giá hành vi con
người theo khuôn phép chuẩn mực và quy tắc đạo đức biểu hiện thành những
khái niệm về thiện hoặc ác, vinh hoặc nhục, chính nghĩa hoặc phi nghĩa.
Trong xã hội có giai cấp thì bao giờ đạo đức cũng biểu hiện lợi ích của một
giai cấp nhất định. Những khuôn phép (chuẩn mực) và quy tắc đạo đức là yêu
cầu của cả xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi của mỗi
cá nhân, bao gồm hành vi của cá nhân đối với xã hội (Tổ quốc, nhà nước, giai
cấp mình và giai cấp đối lập ) và đối với người khác. Những chuẩn mực và
quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay của một giai cấp,
dân tộc thừa nhận. Hành vi cá nhân tuân thủ những ngăn cấm, những khuyến
khích, những chuẩn mực cho phù hợp với những đòi hỏi của xã hội. Do đó, sự
điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện và xét về bản chất, đạo đức là sự tự
do lựa chọn của con người.
Có thể nói, lịch sử tư tưởng nhân loại cũng là lịch sử phát triển của đạo
đức. Đạo đức xã hội nguyên thủy dựa trên những nguyên tắc về sự bình đẳng,
hợp tác nhưng ở trình độ rất thấp. Thời kỳ này tuy những tư tưởng đạo đức
còn mang tính sơ khai song nó có ý nghĩa là tiền đề cho sự hình thành và phát
triển đạo đức sau này. Kế tiếp đạo đức xã hội nguyên thủy là các kiểu đạo đức
của xã hội chiếm hữu nô lệ, đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản và sau nó là
đạo đức mới - đạo đức cộng sản chủ nghĩa. Đây là những nấc thang phát triển
về chất trong lịch sử đạo đức nhân loại. Sự phát triển của các nấc thang đạo
đức đó gắn liền với quá trình phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao.
12
1.1.1.2. Giáo dục đạo đức, bản chất và vai trò
* Khái niệm giáo dục đạo đức:
hệ thống kinh nghiệm xã hội, những lý tưởng những chuẩn mực, đánh giá đạo
đức đã được hình thành trong lịch sử cộng đồng, biến kinh nghiệm xã hội
thành kinh nghiệm bản thân. Đối với cá nhân, đạo đức xã hội tồn tại một cách
khách quan mà trong cuộc sống của mình, cá nhân tất yếu phải nhận thức, tiếp
thu, thực hiện.
Từ quan niệm trên, chúng ta thấy giáo dục đạo đức trước hết là một quá
trình lâu dài, không thể nóng vội và cũng không thể áp đặt. Nó được diễn ra
trong cả quá trình hình thành và phát triển nhân cách của một con người,
không có điểm dừng. Đây là quá trình tự rèn luyện của cá nhân, cũng là quá
trình tác động của gia đình, nhà trường và xã hội.
* Bản chất giáo dục đạo đức
Quá trình giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống
đến sự phát triển về mặt tinh thần và thể chất của con người, làm cho đối
tượng được giáo dục dần hình thành và phát triển hai mặt: Một mặt, là sự tác
động từ bên ngoài vào đối tượng giáo dục. Mặt khác, thông qua sự tác động
đó mà con người tự giáo dục ngay chính bản thân mình. Quá trình tồn tại và
phát triển con người có nhiều giá trị, trong đó giá trị đạo đức được hình thành
chủ yếu thông qua con đường giáo dục. Không có giáo dục thì không thể bảo
tồn và phát triển được những giá trị chung của loài người như giá trị kinh tế,
chính trị, tư tưởng, đạo đức, nhân văn và do đó, không thể sáng tạo ra được
những giá trị mới.
Quá trình giáo dục đạo đức là quá trình tác động đến đối tượng giáo
dục để hình thành trong họ những yếu tố tình cảm, niềm tin, lý tưởng và tất cả
được thể hiện thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Hoạt động đạo đức được điều chỉnh bởi ý thức đạo đức của chủ thể,
hay nói cách khác, là sự thể hiện những năng lực, phẩm chất đạo đức của con
14
người. Do đó, giáo dục đạo đức là quá trình chuyển những yêu cầu đạo đức
của xã hội thành những phẩm chất đạo đức cá nhân, thành sự hiểu biết, thành
cập đến vai trò quan trọng của vấn đề giáo dục đạo đức và là nhiệm vụ trọng
tâm của ngành, nhằm thực hiện mục tiêu cao nhất là “dạy người”. Giáo dục
đạo đức là phải hướng con người tới những giá trị đích thực của đời sống xã
hội, làm cho họ nhận thức và thể hiện được những chuẩn mực đạo đức xã hội
qua hành vi đạo đức của mình.
* Vai trò của giáo dục đạo đức
Vai trò chủ đạo của giáo dục, đặc biệt là giáo dục đạo đức đối với sự
hình thành và phát triển nhân cách thể hiện:
+ Giáo dục đạo đức góp phần to lớn trong việc chuyển các quan niệm
từ tự phát sang tự giác, từ bị động sang chủ động, không ngừng nâng cao trình
độ nhận thức các giá trị đạo đức cho mỗi người. Qua giáo dục đạo đức, nội
dung các phạm trù, các quy tắc, các chuẩn mực đạo đức được nhận thức một
cách đầy đủ, đúng đắn hơn, góp phần điều chỉnh hành vi của con người sao
cho phù hợp với những chuẩn mực đạo đức của xã hội đương thời.
+ Giáo dục đạo đức góp phần hình thành thái độ, niềm tin, tình cảm đạo
đức cho mọi người, có tác dụng hướng dẫn hành vi con người đạt giá trị đạo
đức cao nhất. Đây chính là sức mạnh tinh thần giúp con người vươn tới những
giá trị chân, thiện, mỹ.
+ Giáo dục đạo đức góp phần tích cực trong việc truyền lại cho những
thế hệ đang trưởng thành những giá trị đạo đức mà các thế hệ trước đã tạo ra.
Trên cơ sở đó giúp họ nhận ra giá trị của các giá trị đạo đức, nhận thấy giá trị
và ý nghĩa cuộc sống mang tính người, tính nhân văn sâu sắc. Giáo dục đạo
đức có vai trò to lớn trong việc nhân đạo hoá con người và đời sống xã hội
của con người trong việc hình thành củng cố những giá trị nhân cách tốt đẹp.
16
+ Giáo dục đạo đức còn góp phần tạo ra những giá trị đạo đức mới, xây
dựng những quan điểm, phẩm chất đạo đức mới, quan niệm sống tích cực cho
mỗi đối tượng giáo dục. Đồng thời, giáo dục đạo đức cũng góp phần tích cực
vào việc khắc phục những quan điểm lạc hậu, sự lệch chuẩn các giá trị đạo
triển, đặc biệt là sự phát triển bộ não. Tuổi học sinh THPT là thời kỳ đạt được
sự trưởng thành về mặt thể lực nhưng sự phát triển cơ thể còn non kém so với
sự phát triển cơ thể của người lớn. So với học sinh THCS, thì nhiều mặt ở lứa
tuổi này đã phát triển và trưởng thành hơn nhiều. Tế bào thần kinh của học
sinh THPT có khả năng phân tích, dẫn truyền thông tin tốt hơn. Do vậy, khả
năng hoạt động trí tuệ ở học sinh THPT vượt xa học sinh THCS. Các em có
khả năng tiếp nhận tác động vô cùng phong phú, phức tạp của thế giới xung
quanh. Vì vậy, khả năng nhận thức của các em về những sự vật hiện tượng
thường xuyên xảy ra trong giới tự nhiên và xã hội được nâng lên, nhân sinh
quan và thế giới quan của các em khá rõ nét. Có thể nói, đây là độ tuổi chủ thể
con người đang ở thời kỳ hài hoà, đẹp đẽ với sức lực dồi dào nhất.
Về đời sống tâm lý, xã hội, ở học sinh THPT tồn tại giữa tuổi trẻ em và
tuổi người lớn nhưng mang nhiều nét tâm lý của người lớn mặc dù vẫn còn
một vài đặc điểm của tuổi thiếu niên. Những quá trình nghiên cứu tâm lý đã
chỉ ra rằng ở lứa tuổi này các em có những rung cảm mãnh liệt, đặc biệt là
tính tích cực cao, thể hiện ở sự nhiệt tình, sôi nổi của tuổi trẻ. Song cũng bộc
lộ tâm trạng phong phú, phức tạp nên vai trò xã hội và hứng thú xã hội của
học sinh không chỉ mở rộng về số lượng và phạm vi mà còn biến đổi cả về
chất lượng. Các em ngày càng xuất hiện nhiều vai trò của người lớn và các
em thực hiện vai trò ấy ngày càng có tính độc lập và tinh thần trách nhiệm cao
hơn. Giai đoạn này, các em có tâm lý nhạy cảm, thích cái mới lạ, ưa tìm tòi,
khám phá, sáng tạo. Học sinh THPT là người giàu ước mơ, hoài bão, giàu trí
tưởng tượng, đây cũng là lứa tuổi khao khát muốn thể hiện mình, muốn được
lập công. Một đặc điểm hết sức rõ nét của tuổi học sinh THPT là sự hứng thú
18
nhận thức rộng rãi. Các em khao khát được tìm hiểu, được tiếp nhận những
thông tin mới trên mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội. Nhưng sự nhận thức
của các em là sự nhận thức có phê phán. Do đó, các em thường có những
tranh cãi sôi nổi về thế giới xung quanh. Các em mong muốn không những
thậm chí cả sự liều lĩnh. Ở các em luôn có khao khát ước mơ hoài bão có lý
tưởng sống, có tư tưởng lập thân, lập nghiệp nhưng khi gặp khó khăn trở ngại
thì có biểu hiện hoài nghi, chán nản tự ti, dao động thậm chí là bất cần. Ở các
em đã sớm định hình tính tự lập, tự khẳng định cao nhưng nếu không có sự
uốn nắn và định hướng thì cũng dễ tự cao, tự đại, kiêu ngạo và dễ nhầm lẫn
giữa thật và giả, giữa đúng và sai. Các em muốn trở thành người lớn, muốn
mọi người coi mình như một người lớn đã trưởng thành và chín chắn, không
muốn ai coi mình là trẻ con và bắt đầu biết chú ý đến bản thân, trau chuốt đến
hình thức, đến lời nói, ứng xử và học làm người lớn từ những người thân
xung quanh mình. Các em có khát vọng về tự do, về tính tự lập, tự cường
nhưng cũng rất dễ có hành vi tự do quá trớn dẫn đến hành vi vô kỷ luật, vô
chính phủ. Các em rất nhanh nhạy tiếp thu cái mới, dễ hoà đồng nhưng cũng
dễ bị a dua theo những thói hư tật xấu của môi trường bên ngoài. Ở các em rất
giàu óc tưởng tượng, rất nhạy cảm, tâm hồn dễ xúc động và dễ buồn, dễ vui
nhưng cũng hay thần tượng hoá và đưa ra cho mình những mẫu hình lý tưởng,
song cũng dễ thay đổi nên các em dễ tiếp thu những hệ tư tưởng này hay hệ tư
tưởng khác kể cả mặt tích cực hay tiêu cực. Đặc biệt dễ bị chi phối bởi những
tác động tiêu cực của cơ chế thị trường dẫn đến mất phương hướng về chính
trị, lập trường tư tưởng, sa sút về mặt đạo đức, lối sống. Vì vậy, các em dễ bị
lôi kéo, kích động, bị lợi dụng mua chuộc vào các hoạt động thiếu lành mạnh,
ảnh hưởng xấu đến bản thân, gia đình và xã hội.
Bởi vậy, việc định hướng rèn luyện cho học sinh THPT biết phát huy
thế mạnh của mình trong học tập và khắc phục mặt yếu, đặc biệt là trong rèn
luyện đạo đức là rất cần thiết. Trong cuộc đời mỗi người ở giai đoạn này là
20
thời kỳ đẹp nhất và có ý nghĩa hết sức quan trọng. Do vậy, hiểu rõ đặc điểm
tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT là vấn đề hết sức cần thiết để có phương
pháp giáo dục, hình thức giáo dục các em một cách khoa học, phù hợp thiết
thực và hiệu quả cao.
Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng
không lợi gì cho loài người” [39, tr.172]. Do đó, đức và tài phải gắn bó với
nhau, trong đó đức là gốc, và đức là cái cần phải có trước tiên. Vì khi có đức
thì bao giờ con người ta cũng sẽ cố gắng học tập, hoàn thành nhiệm vụ (đạt
đến tài). Vì lẽ đó, việc giáo dục đạo đức mới cho học sinh THPT có một ý
nghĩa đặc biệt quan trọng. Cơ sở để khẳng định điều đó xuất phát từ những
vấn đề cơ bản sau đây:
Thứ nhất, học sinh THPT là lực lượng kế thừa và tiếp bước các thế hệ
cha anh trong sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Thanh niên luôn là lực lượng nòng cốt trong thực hiện hai nhiệm vụ
chiến lược cách mạng: xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Họ luôn nêu cao truyền
thống yêu nước, tinh thần vượt khó, không ngại gian nan vất vả luôn phát huy
vai trò xung kích, đi đầu trong mọi lĩnh vực. Trong hai cuộc kháng chiến
trường kỳ vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của quân và dân ta đã có
hàng triệu thanh niên tình nguyện lên đường ra trận, dũng cảm, kiên cường,
gan dạ, chiến đấu và hy sinh cuộc đời thanh xuân đẹp nhất của mình cho nền
độc lập của dân tộc, cho sự toàn vẹn lãnh thổ, vì hạnh phúc của nhân dân.
Những tên tuổi như Tô Vĩnh Diện, Lý Tự Trọng, Nguyễn Viết Xuân, Trần
Văn Ơn đã trở thành những tấm gương sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách
mạng của tuổi trẻ Việt Nam.
Hoà bình lập lại, những thế hệ thanh niên sau này cùng với nhân dân cả
nước ra sức khắc phục những tổn thất do chiến tranh để lại, ra sức học tập và
cống hiến sức lực, trí tuệ của mình cho sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ
vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện