ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HỌC
TÁC ĐỘNG CỦA CNH, HĐH ĐÔI VỚI sự THAY
ĐỔI CÁC ClA TRỊ TRUYỀN THÔNG CỦA
NCƯỜI VIỆT NAM
Chuyên ngành : CNDVBC và CNDVLS
Mã sô : 5.01.02
LUẬN VÃN THẠC sĩ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học
TS. Dương Văn Thịnh
HÀ NỘI - 2003
NHỮNG CHỮ Vlếr TẮT
- CNTB Chủ nghĩa tư bán
- CNXH
Chủ nghĩa xã hội
- XHCN
Xã hội chủ nghía
- CNH
Công nghiệp hoá
-HĐH
Hiên đai hoá
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
NỘI DƯNG 5
CHƯƠNG 1: GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI
VỆT NAM TRONG SựNGHỆP CNH, HĐH 5
1.1- Một số vấn đề về CNH, HĐH hiện nay của Việt Nam. 5
1.2- Giá trị truyền thống của người Việt Nam. 20
1.3- Quan hệ giữa CNH, HĐH với các giá trị truyền thống 43
lương tri, phẩm giá trà đạp nên những tình cảm tốt đẹp trong quan hệ giữa
người và người.
Về mặt lý luận liệu sự thay đổi trong quá trình lựa chọn giá trị như vậy
có ảnh tới việc xây dựng con người mới hay không ? Mục tiêu xây dựng
CNXH ở Việt Nam có đạt được hay không ? Bời con người Việt Nam chính là
chủ thè’ cúa quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Việc phân tích sự chuyển biến các giá trị truyền thống trứơc tác động của
CNH, HĐH và các yếu tố của thời kỳ hiện đại là một vấn đề hết sức cấp thiết
nhầm phát huy sức mạnh tiềm tàng trong con người Việt Nam, đồng thời giữ
gìn nét đẹp trong bản sắc văn hoá dân tộc, để nâng nó lên một tẩm cao mới
xứng đáng với yêu cẩu của thời kỳ hiện đại. Với những lý do như trên nên tôi
đã chọn vấn đề: “tác động của CNH, HĐH đối với sự thay đổi các giá trị
truyền thống của người Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình nhằm
nhạn thức rõ sự chuyển biến đó góp phần nhỏ bé vào việc phát huy các giá
truyền thống, thông qua sự nghiệp giảng dạy thế hệ trẻ nơi mình côngtác.
II- TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨƯ CỦA ĐỂ t à i
Vấn đề con người từ lâu đã thu hút nhiều lĩnh vực nghiên cứu đặc biệt là
triết học. Trên nền tảng này mối quan hệ giữa con người với sự nghiệp CNH,
HĐH đã được nghiên cứu cả bề rộng, cả bể sâu, con người vừa với tư cách là
chủ thể của CNH, HĐH vừa như là mục tiêu của sự nghiệp ấy.
Liên quan đến hướng để tài này có rất nhiều công trình khoa học đã
nghiên cứu tiêu biểu như: Phạm Minh Hạc chủ biên (cb) "vấn đề con người
trong sự nghiệp CNH, HĐH" chương trình KX07; Phạm Tất Dong (cb) "định
hướng phát triển đội ngũ trí thức’Việt Nam trong CNH, HĐH" chương trình
KX04; Nguyễn Văn Phúc,"về sự khấc phục những tác động tiêu cực của CNH,
HĐH đối với sự phát triển nhân cách" triết học số 1/1998; Nghiên cứu xã hội
học ,"vai trò của con người trong sự nghiệp CNH, HĐH" NXB CTQG Hà Nội
1996; Dương Phú Hiệp, "sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt
Nam trong điều kiện chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị
trường", tạp chí triết học số 4/1992; Đi sâu vào việc nghiên cứu những thay
cạnh triết học. Phân tích nguyên nhân làm biến đổi các giá trị truyền thống
trong con người Việt Nam là do sự thay đổi của sản xuất.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ một Luận văn thạc sỹ tác giả không thể nghiên
cứu khảo sát tất cả những giá trị đã và đang thay đổi. Công trình đó phải được
nghiên cứu ở cấp cao hơn nữa. Trong phạm vi luận văn này tác giả chỉ xem xét
một số giá tiị tiêu biểu. Qua đó nêu ra một số giải pháp mang tính gợi mở để xây
dựng và phát triển con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH.
IV- MỤC ĐÍCH VÀ NHIÊM v u CÚA LUẬN VĂN
Mục đích: Luận vãn làm rõ tác động của CNH, HĐH đến sự biến đổi các
giá trị truyền thống của con người Việt Nam.
Để đạt được mục đích này nhiệm vụ của Luận vãn là:
- Trình bầy đặc điểm của quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam và sự tác
động của CNH, HĐH đối với đời sống kinh tế - xã hội.
- Chỉ ra những thay đổi cúa các giá trị truyền thống và sự lựa chọn
những giá trị mới trong con người Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát triển giá trị ưuyền thống
trong điều kiện hiện nay, nàng cao bán linh của con người Việt Nam hiện đại.
V- C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NHIÊN c ứ u
- Cơ sở lý luận của Luận văn là những quan điểm của chủ nghía Mác-
Lènin, của Đảng cộng sản Việt Nam, của Hồ Chí Minh về CNH, HĐH về
con người phát triển toàn diện và một số công trình nghiên cứu của các nhà
khoa học Việt Nam có liên quan đến nội dung được đề cập trong luận vãn.
- Luận văn sử dụng một số phương pháp cụ thể như: phương pháp logic
kết hợp với phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích kết hợp với tổng hợp
đối chiếu so sánh.
VI- ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VÃN
Góp phần làm rõ sự tác động của CNH, HĐH đến đời sống kinh tế - xã
hội dẫn đến những thay đổi về các giá trị truyền thống trong con người Việt
Nam hiện nay.
Để xuất một số giải pháp có tính định hướng đến việc gìn giữ và nâng
nghiệp vả công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc
hậu thành một nước có công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại" [42,
199, 200J.
CNH XHCN trong đó lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát
tri'ển công nghiệp nặng là chiến lược nhất quán, xác định lâu dài từ đại hội III
và được chỉnh sửa, bổ sung qua đại hội IV (12/1976) đại hội V (1981). Với
chủ trương CNH như trên trong suốt thời gian từ 1960 đến 1981 chúng ta đã
đạ t được nhữniì thành tựu to lớn đánh thắng hai lẩn chiến tranh phá hoại của
Mỹ ở miền Bác, tập trunu sức nu ười sức của tri viện cho miền Nam xứng đáng
là hàu phươnu vữnu chác để thống nhất đất nước. Đồng thời đã xây dựng được
cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH đặc biệt là các ngành thuộc công nghiệp
nặng như: công nghiệp giao thông, xây dựng Từ năm 1975 tình hình xã hội
có nhữnLỊ thay đổi, trong uiai đoạn này đất nước đã hoàn toàn thống nhất, cư
sứ kinh tế - xã hội của 02 miền có những đặc trưng không giống nhau. Đồng
thời chúng ta phải đối mặt với những thách thức mới đó là nguồn viện trợ từ
Liên xỏ và các nước XHCN bị cắt giảm, đế quốc Mỹ thực hiện chính sách
cấm vặn đối với Việt Nam. Trước tình hình đó lẽ ra CNH phải có sự thay đổi
cho phù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu
nâng cao đời sống nhân dàn, theo kịp với quá trình phát triển chung của thế
giới. Nhưng do vẫn duy trì chú trương "lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu
tiên phát triển công nghiệp nặng" quá lâu, hậu quả là làm cho nền kinh tế
chậm phát triển, cơ cấu kinh tế bất hợp lý và mất cân đối nghiêm trọng, nông
nghiẹp yếu kém không đáp ứng được những yêu cầu trong nước. Công nghiệp
nặng đầu tư lớn nhưng không phát huy tác dụng. Đời sống nhân dân vốn đã
nghèo do hậu quả của chiến tranh để lại, cộng với sự "thắt lưng buộc bụng"
để đầu tư vốn cho công nghiệp nặng khiến cho nó càng trở nên nghèo khó
hơn, niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước bị giảm sút.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (6/1986) đã thực hiện một bước ngoặt
lứn cho sự nghiệp CNH. Tuy vẫn xác định CNH là con đường đưa đất nước đi
lèn CNXH nhưng nội dung CNH đã chuyển hướng sang chú trọng vào 3
vãn hoá tinh thần cho nhân dân.
Những thành công của sự nghiệp đổi mới một mặt giúp chúng ta đánh giá
đúng những ưu nhược điểm của CNH thực hiện trong cơ chế quan liêu bao
cấp, mặt khác đó cũng là cơ sở để chúng ta định ra những bước đi cho CNH
trong thời kỳ mới.
CNTÍ giai đoạn từ 1960 - 1986 bên cạnh những thành công đã đạt được
vẫn còn mắc phải những hạn chế, sai lầm trong việc xác định mục tiêu, mô
hình, bước đi, tổ chức thực hiện trong thực tế.
Hạn chế của quá trình CNH ử Việt Nam giai đoạn 1960 - 1986 cụ thể
như s au:
7
Thứ nhất: xác định mỏ hình CNH còn chưa thích hợp, quá cổng kềnh
thiên về công nghiệp nặng, áp dụng một cách máy móc mỏ hình CNH của
Liên Xỏ không tính đến hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam. Lẽ ra
CNH ở nước ta phải coi nông nghiệp là mật trận hàng đầu, kết hợp hài hoà
phát triển nông nghiệp với các ngành kinh tế khác. Bởi Việt Nam có đến
>80% dân số sống bằng nông nghiệp cộng với chiến tranh phá hoại ác liệt,
CNH thời kv này chưa coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu do vậy chưa kết
hợp nguồn lực trong nước với ncuồn lực thế giới, giữa sản xuất cho thị trường
trong nước với sản xuất cho xuất khẩu. Theo thống kê "sản lượng lương thực
binli quản đầu người dưới 300kg; GDP bình quản đầu người khoảng dưới
Ị00USD" [14, 73J.
Thứ hai: do tập trung vào việc đầu tư công nghiệp nặng, ưu tiên phát triển
công nghiệp nặng nên cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ bất
hợp lý. Nông nghiệp chậm phát triển, dịch vụ hầu như không phát triển duy
chí có một số mặt hàng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng thiết yếu được nhà
nước phân phối thông qua hình thức tem phiếu. Hình thức này chỉ phù hợp
trong điều kiện chiến tranh. Khi thống nhất đất nước cơ cấu kinh tế trên phải
chuyển đổi nhưng quá trình chuyển đổi diễn ra còn chậm, chủ yếu vẫn đầu tư
tiếp tục cho công nghiệp nặng.
trong nghị quyết hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương khoá VII là
"CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động
thú công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công
nghệ, phương tiện và phươìig pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển
của công nghiệp và tiến bộ của khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao
động xã hội cao "[16, 65].
Cần khẳng định nội dung, cách thức, con đường, mục tiêu của quá trình CNH
đã được "đổi mới" điều chỉnh cho phù hợp với tình hinh kinh tế - xã hội, điều kiện
cụ thể của Việt Nam, theo kịp với xu thế phát triển chung của nhân loại.
Thực tế cho thấy CNH ở Việt Nam trong những năm qua đã đạt được
những thành tựu rất lớn, song so với thế giới chúng ta còn thua kém một
khoảng cách rất lớn: Nền sản xuất nước ta chủ yếu vẫn là nền sản xuất nông
nghiệp, công nghiệp nhỏ bé, kỹ thuật thủ công lạc hậu. Nước ta vẫn thuộc loại
9
nước nghèo trên thố giới. Cu thể thu nhập quốc dân tính đến nãm 2000 là 400
USD/1 người/1 năm
"trong khi đó ở các nước công nghiệp phút triển tại năm 1988 thì Anh lù
9620 USD/1người/1nám; Pháp là 10.780 USD/1người/1năm; Đức là 11.400
USD/1 người/ ỉ năm; Nhật lả 10.500 USD/ỉ người/1 năm; Mỹ lù 14.010
USD/lnqườHInăm, còn Trung Quốc là 2.500 USD/1 người/1 năm" [21, 29].
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: để thoát khỏi tình trạng nghèo
nàn và lạc hậu, tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, hội nhập vào khu vực
và trên thế giới chúng ta không còn con đường nào khác ngoài coil đuờiig tiếp
tục thực hiện CNH, HĐH đất nước.
Như vậy quan điểm của Đảng về CNH, HĐH trong giai đoạn hiện nay đã
được khẳng định tại văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX
cùng nhiều hội nghị trung ương. Song về cơ bản đặc điểm của CNH, HĐH
trong giai đoạn hiện nay là:
Thứ nhạt: CNH phải đi liền với HĐH:
trương không lặp lại nhữìig mô hình CNH cổ điển, mà tự tìm lấy mội mô hình
pliù hợp với hoàn cảnh đất nước và điều kiện th ế giới ngày nay" [4 /.
Thứ hai: CNH, HĐH được thực hiện trong nền kinh tế hàng hoá vận
động theo cơ c hế thị trường định hướng XHCN
Trong khi nghiên cứu lịch sử xã hội loài người C.Mác đã chỉ ra rằng: ở mỗi
giai đoạn lịch sử cụ thể quan hệ sản xuất phải thích ứng với tính chất và trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, đây được coi như quy luật của sự phát triển xã
hội. Ở nước ta việc thực hiện CNH , HĐH chính là thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển song do tính chất không đồng đều về trình độ giữa các vùng miền nên
việc thiết lập các thành phần kinh tế vận động theo cơ chế thị trường chính là tạo
ra quan hệ sản xuất phù hợp tương ứng với tình trạng đó.
Kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường là mô hình
kinh tế tiến bộ, là nấc thang cao hơn kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc. Trong kinh
tế thị trường định hướng XHCN phải có sự quản lý của nhà nước, đây "là mô
hình kinh tế mà trong đó hầu hết các quan hệ kinh tế được thực hiện trên thị
trường có sự quản lý của nhà nước" (40, 170).
Trước 1986 CNH được thực hiện trong nền kinh tế chỉ huy, do chỉ có
hai thành phần kinh tế là quốc doanh và tập thể, lại cộng với sự bao cấp từ
trên xuống dưới, từ đầu vào đến đẩu ra của sản phẩm, nên đã không kích thích
được việc nâng cao tay nghề, áp dụng khoa học - công nghệ vào trong quá
11
trình sản xuất kinh doanh, khiến cho việc thực hiện CNH chưa đạt hiệu quả
cao. Mật khác CNH thời kỳ này chỉ tập trung ở công nghiệp nặng còn nông
nghiệp dịch vụ không trú trọne do đó không huy động được sức mạnh toàn
dàn trong việc thực hiện CNH.
Thực hiện kinh tế hàng hoá là một tất yếu khách quan để khắc phục
những hạn chế mà hậu quả của nền kinh tế bao cấp để lại và đẩy nhanh quá
trình CNH, HĐH đất nước.
Kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường,
định nướng XHCN trong giai đoạn hiện nay ở nước ta bao gồm 6 thành phần
đáng giữa một bên là giai cấp tư sản sở hữu phần lớn của cải trong xã hội với
một bên là giai cấp vô sản sống trong cảnh nghèo đói bần cùng. Chẳng hạn
hiện nay, theo báo cáo của OECĐ (tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) thì
"tài sản của 3 tỉ phú hàng đầu nhiều hơn tổng GNP của tất cả các nước đang
phát triển với 600 triệu dân của họ" {69,3]-
Rõ ràng vơí phương thức bóc lột, giai cấp tư sản tạo ra sự nghèo khổ
không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn cả thế giới.
Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của
ĐCS Việt Nam trong thời kỳ qúa độ tồn tại là một tất yếu. C.Mác đã từng chỉ
rõ "giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biêh
cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời
kỳ quá độ chính trị, trong đó nhà nước không thể là cái gì khác hơn là chuyên
chính cách mạng của giai cấp vô sản" [ 6,31,32].
Nhận thức vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển lực lượng
sản xuất xã hội, đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước của kinh tế thị
trường Đảng ta đã khẳng định: " Sản xuất hàng hoá không đối lập với CNXH,
mà là thảnh ticii phát triển của nền văn minh nhân loại, tổn tại khách quan
cần thiết cho cô tỉ % cuộc xây dioig CNXtỉ và cả khi CNXH đã được xây dipĩg"
[17, 97]
Với các chủ chương chính sách và hệ thống pháp luật mà nhà nước sử
dụng đã và đang tiếp tục đẩy nhanh quá trình CNH , HĐH đất nước.
Thứ ba: CNH, HĐH dựa trên sức mạnh của nhân tỏ con người.
13
Thông thường đối với mỗi quốc gia, điều kiện để phát triển kinh tế - xã
hội là điều kiện địa lỷ, tài nguyên thiên nhiên và cơ sở vật chất kỹ thuật hiên
đại Nhưng tự bản thân các yếu tố ấy không thể phát huy tác dụng nếu thiếu
sự tác động của con người. Song ở những giai đoạn lịch sử khác nhau vai trò
và vị trí của các yếu tố cũng khác nhau.
Trong khi nghiên cứu lịch sử xã hội loài người AlvinToffer đã chỉ ra rằng
trong nền văn minh nông nghiệp (ở đây AlvinToffer phân chia lịch sử xã hội
Một mặt sự chuyển giao được thực hiện trên nguyên tắc hai bên cùng có
lợi, hay đúng hơn theo những nguyên tắc của CNTB dựa trên cơ sở lợi nhuận.
Mặt khác những nước có công nghệ cao không bao giờ chuyển công
nghệ mới cho các nước đi sau.
Việt Nam là một nước đang tiến hành CNH, HĐH do đó vấn đề công
nghệ cũng là vấn đề trung tâm. Nếu chúng ta tiến hành CNH, HĐH chỉ dựa
vào sự chuyển giao công nghệ thì vinh viễn vẫn chỉ là nước lạc hậu đi sau và
khả năng về vốn cũng có hạn. Nhưng nếu chúng ta tự mình sáng tạo ra công
nghệ mới thì trình độ cơ sở vật chất - kỹ thuật chưa cho phép. Mâu thuẫn đật
ra cần phải giải quyết là làm sao vừa khắc phục sự lạc hậu trước mắt vừa phải
nhanh chóng trở thành nước phát triển dựa trên trình độ công nghệ tiên tiến.
Để giải quyết mâu thuẫn đó Đảng ta đã chỉ rõ "cần khai thác và sử dụng nhiều
nguồn lực khác nhau trong đó nguồn lực con người là quý báu nhất có vai trò
quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật
chất còn hạn hẹp, nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề
thảnh thạo có phẩm chất tốt đẹp" [18, 9].
Trí tuệ là bản chất, là đặc tính chỉ riêng con người mới có. Nhờ có trí tuệ
con ngưừi có khả năng sáng tạo ra thế giới thứ hai, thế giới vật chất và văn hoá
tinh thần của chính mình. Chính trí tuệ là tiêu chí để phân biệt con người và
con vật, khẳng định "con người là thước đo của mọi vật"[67, 151]. Ngày nay
vai trò của trí tuệ có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của mỗi quốc gia.
Trí tuệ giúp cho con người linh hoạt, nhạy bén nhanh chóng nắm bắt tình
huống một cách dẻ dàng, tạo ra tính ổn định và chuyển hướng kịp thời giúp
con người cải biến và thích nghi với hoàn cảnh mới. Chúng ta đều biết rằng sự
nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam không thể thực hiện được nếu không có đội
nu ũ đông đáo những cổng nhân lành nghề, những nhà khoa học kỹ thuật tài
năng, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, những nhà doanh nghiệp tháo vát, những
nhà lãnh đạo quản lý biết nhìn xa trông rộng. Nhưng trong thời kỳ CNH, HĐH
jất nước bản thân người lao động có trình độ trí tuệ cao chưa đủ. Đương nhiên
như Alvin Toítlcr nhận định trong 3 công cụ của quyền lực thì "hữii dụng hmi
lỊÌúp chúng ta thoát khỏi nghèo nàn, rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thực hiện
thành công sự nghiệp CNH, HĐH, thoát khỏi "vòng luân quẩn" mà các nước
nghèo đang gặp phải hiện nay là do thiếu vốn không có điều kiện đầu tư cho
người lao động, không có đủ trình độ khoa học công nghệ nên không thể phát
triển kinh tế xã hội. Viêc đánh giá đúng yếu tố quyết định để thoát "vòng luẩn
quẩn" mà Đáng đã đưa ra giúp chúng ta ưánh xa được nguy cơ của các nước
nghèo, tạo nên sự phát triển nhanh và bền vững. Bởi nếu chúng ta có nhiều
vốn đến đâu, sự đầu tư cho khoa học công nghệ đến nhường nào cũng không
có tác dụng nếu thiếu đi vai trò điều khiển của con người. Cùng với giáo dục -
đào tạo, văn hoá cũng có vai trò quan trọng hình thành nên phẩm chất đạo đức
của con người. Một xã hội văn minh khống chỉ dừng lại ở khả năng công nghệ
hay sức mạnh kinh tế mà chủ yếu là lối sống có văn hoá đặc biệt là chúng ta -
một đất nước nằm trong khu vực Phương Đông. Quan điểm của Đảng về vâih đề
này là xây dựng kinh tế đi đôi với xây dựng văn hoá. Nền văn hoá mới được xây
dựng phải biết kế thừa những giá trị quý báu của dân tộc, đồng thời phù hợp với
thời đại, tiếp thu những tinh hoa của nhân loại. Đó chính là "một nền văn Itoá
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc".
Thứ tư: CNH, HĐH được thực hiện trong xu th ế “mỏ cửa "
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định: “toàn cầu hoá kinh tế là
xu thế khách quan lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc
đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các
nền kinh tế” [Tr 157]
Quan điểm trên của Đảng đã khẳng định một sự thực là toàn cầu hoá đã
trớ thành một tất yếu khác quan phổ biến trong xu thế hiện nay. Các quốc gia
trên thế giới dù muốn hay không đều bị lôi cuốn vào “dòng xoáy” chung đó.
Mặt khác “toàn cầu hoá” không chỉ riêng ở lĩnh vực kinh tế mà nó còn
(diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sốngrẴíLhội. Rõ ràng sự nghiệp CNH,
V - U / 4 C S , 17
HĐH nước ta không nằm ngoài bối cảnh chung đó. Muốn tổn tại để phát triển
chúng ta không còn con đường nào khác phái chủ động hội nhập để tranh thủ
nhiêu công nghệ vá kinh nghiệm quản lý tiên tiến ” [Tr 150 Ị
Tuy nhiên, CNH, HĐH được thực hiện trong xu thế “mở cửa” đòi hỏi
chúng ta phải chủ động, nghĩa là nâng cao khả năng độc lập tự chủ trong quá
trình hội nhập. Bởi “toàn cầu hoá” và hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình
vừa hợp tác để phát triển vừa đấu tranh rất phức tạp giữa các nước nhàm báo
vệ lợi ích của mình. Nếu chúng ta khôns nâng cao khả năne độc lập tự chủ sẽ
bị lôi kéo vào con đường của CNTB hoặc sẽ bị “đánh chìm” trở thành nước lạc
hậu đi sau. Một trons những vẽu tô tạo nôn nền kinh tế độc lập tự chú theo
quan điểm của Đảng phải: đẩy mạnh CNH, HĐH tạo tiềm lực kinh tế, khoa
học và công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật đủ mạnh.
Như vậy, sự nghiệp CNH, HĐH trong bối cảnh toàn cầu hoá được thực
hiện theo xu hướng mở cửa, nhưng phải nâng cao khả năng độc lập tự chủ nhằm
tranh thủ thời cơ để phát triển, đồng thời vẫn giữ vững được nguyên tấc bảo vệ
độc lập dân tộc và CNXH, chủ quyền quốc gia và bản sắc văn hoá dân tộc.
Thứ năm: CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn là mặt trận hàng đẩu.
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trinh xây dựng, phát triển cơ
sở vật chất - kỹ thuật, chuyển từ lao động thủ công là chủ yếu sang lao động
sử dụng máy móc, với kỹ thuật, công nghệ tiến tiến và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế - xã hội nông thôn ngày càng hợp lý theo hướng tiến lên hiện đại, gắn
nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ cho phép khai thác, phát huy có hiệu
quả các nguồn lực và lợi thế so sánh đất nước trong sự mở rộng quan hệ kinh
tế quốc tế.
Việc thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn được coi như mặt
trận hàng đầu có ý nghĩa mang tầm chiến lược, then chốt và cấp bách. Bởi lẽ
nước ta có tới 80% dân số và hơn 70% lao động sống ở nông thôn, song ruộng
đất bình quan theo đầu người còn thấp lại cộng với quá trình đô thị hoá khiến
cho đời sống của họ vẫn còn khó khăn. Nếu thực hiện CNH, HĐH nông
nghiệp nòng thôn sẽ giải quyết việc làm cho lao động dư thừa, tăng thu nhập
cho người lao động. Mặt khác, tình trạng kinh tế nông nghiệp nông thôn còn ở
19
Iượniị của kliáclỉ thể này (
), thứ hai khía cạnh chuẩn mực, mệnh lệnh, đánh
ÍỊÌÚ của cúc hiện tượng V thức xã hội" [57, 7j.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Xô Viết thì "Giá trị lù sự khẳng (lịnh hay
phú định V nghĩa của các đối tiíựìig thuộc thế giới chung quanh đối với con
người, giai cấp, nhỏm hoặc loàn bộ xã hội nói chung. Giá trị được xác định
không phàì bởi bản thân các thuộc tính tự nhiên, mà là bởi tính chất cuốn hút
(lỏi cuốn) của cúc thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của con người,
phạm vi cúc híùig thú và nhu cấu, cúc quan hệ xã hội, các chuẩn mực và phươtig
íliức đanh giá V nghĩa nói trên được biếu hiện trong các nguyên tắc và chuẩn
mực đạo đức, trong lý tưởỉỉg, tâm thế và mục đích" [66, 51, 52J.
Trong tiếng Anh có 2 thuật ngữ dùng để chỉ khái niệm giá trị là Value và
Worth, hai khái niệm này có khác nhau ở chỗ: Value chỉ có nghĩa là giá trị,
giá cả, ý nghĩa, còn Worth ngoài nghía giá trị, giá cả còn có nghĩa là phẩm
chất, phẩm giá.
Trong một số từ điển Viêt Nam và một số từ điển nước ngoài khác khái
niệm giá trị được định nghĩa là "phẩm chất tốt hay xấu, tác dụng lớn hay nhỏ
tính ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của khách thể đối với con người, giai cấp,
nhóm, xã hội nói chung được phản ánh vào cúc nguyên tắc và chuẩn mực đạo
lý, lý tưởĩig, tâm thế, mục đích" [26, 124].
Đối với các công trình nghiên cứu về giá trị ở Việt Nam ví như của Giáo
sư Trần Văn Giàu, Giáo sư Phạm Minh Hạc đều quan niệm "Giá trị là tính
có V nglũa tích cực, tốt đẹp, đáng quỷ, cố ích của các đối tượng VỚI các chủ
thể" [27, 301].
ở đây chúng tôi đổng ý với định nghĩa của từ điển tiếng Việt như đã nêu
trên về giá trị. Do đó, giá trị chính là hiện tượng xã hội đặc thù thể hiện sự
đánh giá của con người về đối tượng có ý nghĩa thoả mãn nhu cầu của con
người. Giá trị bao giờ cũng là một hiện tượng nhận thức nảy sinh trong quan
hệ chủ thể - khách thể.
thuộc tính, tính chất trên cơ sở đó con người nhận thức và cải tạo chúng cho
phù hợp với mục đích của mình. Sự vật càng nhiều thuộc tính càng mang
nhiều giá trị. Tuy nhiên mỗi một đưn vị giá trị có ý nghĩa, vai trò khác nhau
đối với bản thân sự vật do đó có những giá trị cơ bản và không cơ bàn. Những
22