1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG MAI
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA
LỄ HỘI ĐỀN HÙNG TRONG ĐIỀU KIỆN
NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2014
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Lễ hội cổ truyền là một trong các loại hình sinh hoạt văn hoá truyền
thống của dân tộc, từng tồn tại hàng ngàn năm trong cộng đồng cư dân trồng
lúa nước. Sự xuất hiện của lễ hội cùng với chiều dài lịch sử dân tộc, đã tạo
nên một diện mạo đặc sắc, độc đáo cho nền văn hóa Việt nam. Đây là hình
thức sinh hoạt vừa linh thiêng vừa mang tính quần chúng, là nơi gửi gắm
những khát vọng của con người. Mỗi khi hoa đào, hoa mai khoe sắc cũng là
lúc lễ hội được tổ chức ở hầu khắp các vùng miền trên cả nước. Từ bắc vào
nam đâu đâu cũng gặp cảnh người dân náo nức đi trẩy hội trong những sắc
màu rực rỡ của những áo những khăn. Không biết từ khi nào lễ hội đã bén rễ
vào đời sống tâm hồn người Việt, chỉ biết rằng ngày hôm nay thì lễ hội đã trở
thành một nhu cầu tất yếu của cộng đồng.
Có thể nói lễ hội là chiếc nôi nuôi dưỡng và phát triển các loại hình văn
hoá của dân tộc. Là nơi mang đậm các giá trị nhân văn như tinh thần yêu
nước, lòng tự hào dân tộc, tinh thần cố kết cộng đồng vv. Và lễ hội đền
Hùng cũng là nơi hội tụ những nét đẹp đó. Nói đến lễ hội đền Hùng là nói đến
một lễ hội hướng về cội nguồn dân tộc, một lễ hội độc đáo nhất trên thế giới.
Không có một nơi nào mà cả cộng đồng đều hướng về một cội nguồn, nơi mà
hai tiếng "đồng bào" được cất lên trong niềm tự hào vô bờ. Và cũng từ đây
hai tiếng "đồng bào" đã trở thành một thứ vũ khí tinh thần, vũ khí của tinh thần
đoàn kêt đã giúp dân tộc Việt nam chiến thắng mọi kẻ thù tàn bạo, hùng mạnh.
Tuy nhiên, cũng giống như các lễ hội truyền thống khác, lễ hội đền
Hùng cũng đang đứng trước những tác động hai mặt của nền kinh tế thị
trường, của xu hướng hội nhập quốc tế. Nhiều lễ hội đã được hiện đại hoá tới
mức mất đi những nét cổ truyền, có những lễ hội lại được dựng lại một cách
khập khiễng giữa các yếu tố quá khứ và yếu tố đương đại. Hơn thế nữa, nền
4
kinh tế thị trường đã và đang làm "lệch chuẩn" các giá trị nhân văn của lễ hội
truyền thống .Không ít những lễ hội đã bị biến tướng về nghi lễ, đã bị thương
mại hóa trong khâu tổ chức. Những giá trị văn hóa đã được kết tinh qua hàng
sưu tầm. Từ năm 1954 đến năm 1975, đất nước tạm thời chia cắt, các công
trình nghiên cứu về lễ hội ở hai miền Nam - Bắc cũng khác nhau. ở miền
Nam có một số công trình như "Lễ tế xuân hay Đám rước thần nông"
(Nguyễn Giỏi Kế), "Nhớ lại hội hè đình đám (Nguyễn Toại), "Mùa xuân với
đời sống tình cảm Việt Nam", "Trẩy hội hành hương" (Nguyễn Đăng Thục), "Nếp
cũ hội hè đình đám quyển thượng" (Toan Ánh). Ở miền Bắc có các công trình
"Một số tục cổ và trò chơi Việt Nam trong tết nguyên đán và mùa xuân"
(Nguyễn Đổng Chi), "Thời Đại Hùng Vương" (Lê Văn Lan), "Hà Nội nghìn
xưa" (Trần Quốc Vượng). Từ 1975 đến nay đã có nhiều học giả quan tâm
nghiên cứu sâu sắc về lễ hội như "Đất lề quê thói" (Nhất Thanh); "lễ hội truyền
thống và hiện đại" (Thu Linh - Đặng Văn Lung). "60 lễ hội truyền thống Việt
Nam" (Thạch Phương - Lê Trung Vũ); "lễ hội Việt Nam" (Lê Trung Vũ - Lê
Hồng Lý); "lễ hội cổ truyền" (Lê Trung Vũ chủ biên); "lễ hội truyền thống
trong đời sống xã hội hiện đại" (Đinh Gia Khánh - Lê Hữu Tầng chủ biên). Các
công trình trên đã giúp cho bạn đọc hiểu sâu sắc, hệ thống và khoa học về lễ
hội truyền thống, đồng thời là nguồn tư liệu quý giá giúp chúng tôi tìm hiểu,
nghiên cứu phục vụ cho luận văn này.
Những năm gần đây cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, kinh tế xã
hội ngày càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần được cải thiện nâng cao,
nhu cầu vui chơi, du lịch ngày càng lớn. Nhiều lễ hội cổ truyền dược phục dựng
và phát huy các giá trị văn hóa nhằm nâng cao đời sống tinh thần của cộng động.
Các công trình nghiên cứu lễ hội gắn với phát triển văn hóa được nhiều học
giả quan tâm, đặc biệt là các lễ hội lớn ở các địa phương trên khắp địa bàn cả
nước, trong đó có lễ hội Đền Hùng và các lễ hội trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Tiêu
biểu cho các công trình nghiên cứu này là các tác giả và các công trình sau:
6
Nguyễn Quang Lê với "Khảo sát thực trạng văn hóa lễ hội truyền
thống của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ trong xã hội hiện nay"; (Viện nghiên
cứu văn hoá dân gian, Hà Nội, 1999). Tác giả đã nêu khái quát chung về thực
hội ở Việt Nam" (Dương Văn Sáu), "Chào năm du lịch trên đất Tổ Vua Hùng"
(Thăng Long)
Các công trình trên đã trình bày, đề cập đến lễ hội và du lịch lễ hội với
nhiều nội dung, nhiều hướng nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên chưa có công
trình nào nghiên cứu sâu về lễ hội đền Hùng ở tỉnh Phú Thọ. Vì vậy, trong luận
văn này tác giả kế thừa, tiếp thu, đúc kết các công trình nghiên cứu của các học
giả đi trước để đánh giá nghiên cứu vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa
của lễ hội đền Hùng trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, để từ đó tìm
ra những giải pháp để phát triển lễ hội đền Hùng một cách hiệu quả và bền vững.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở làm rõ khái niệm lễ hội và lễ hội truyền thống, tác giả đi sâu
nghiên cứu các giá trị văn hóa của lễ hội đền Hùng. Luận văn còn phân tích,
đánh giá thực trạng của việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội
đền Hùng trong điều kiện nền kinh tế thị trường để từ đó đề xuất những giải
pháp nhằm phát huy những giá trị văn hóa đó một cách hiệu quả, bền vững.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về lễ hội và những giá trị văn
hóa của lễ hội đền Hùng trong phát triển văn hóa, xã hội hiện nay.
- Đánh giá thực trạng việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa
của lễ hội đền Hùng trong điều kiện nền kinh tế thị trường trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ vừa qua.
- Đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm phát triển lễ hội đền Hùng
để xứng tầm lễ hội cấp quốc gia.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
8
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là bảo tồn và phát huy các giá trị văn
hóa của lễ hội đền Hùng trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay. Trong
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có 2 chương,8 tiết
10
Chƣơng 1
Lễ là nghi thức được hình thành nhằm đánh dấu một sự kiện, một sự
việc có ý nghĩa trong đời sống cộng đồng.Trong thực tế khái niệm lễ có nhiều
cách tiếp cận phức tạp. Chữ "lễ" được hình thành và biết đến trong thời nhà
Chu (thế kỷ 12TCN). Giai đoạn đầu chữ lễ được hiểu là lễ vật của các gia
đình quý tộc nhà Chu cúng tế thần tổ tông gọi là tế lễ. Dần dần chữ lễ được
mở rộng nghĩa là hình thức, phép tắc để phân biệt trên, dưới, sang, hèn, thứ
bậc lớn nhỏ thân sơ trong xã hội phân chia giai cấp. Cuối cùng khi xã hội đã
phát triển thì ý nghĩa của lễ càng được mở rộng như tế lễ thành Hoàng làng, lễ
gia tiên, lễ cầu an cầu mưa.
Do ngày càng mở rộng phạm vi nên đến ngày nay lễ mang ý nghĩa bao
quát mọi nghi thức, ứng xử của con người với tự nhiên, xã hội. Như vậy ta có
thể đi đến một khái niệm chung : "Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm
biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những mơ
ước chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả
năng thực hiện"[73,tr.124]. Mỗi một hiện tượng xã hội đều có một nguồn gốc
và lịch sử phát triển của nó. Với hiện tượng lễ cũng vậy.
Các nhà nghiên cứu khác như Lê Hồng Lý, Nguyễn Khắc Xương, Đinh
Gia Khánh thì coi đó là hội lễ, coi danh từ hội lễ như một thuật ngữ văn hoá. ý
nghĩa của thuật ngữ này được xác định trên cơ sở ý nghĩa của hai thành tố hội
và lễ. Hội là sự tập hợp đông người trong một sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Lễ
là các tín ngưỡng (các niềm tin thiêng liêng) và các nghi thức đặc thù gắn với
các tín ngưỡng ấy trong sinh hoạt văn hoá cộng đồng [41, tr.7].
Tác giả Lê Trung Vũ trong các bài viết trên Tạp chí văn hoá dân gian
(giai đoạn 1983 đến 1986) thường gọi là "Hội làng", "Hội lễ", "Hội - Lễ" còn
12
các trường hợp khác ông thường gọi là "Lễ hội".
Như vậy, lễ hội có thể có nhiều cách gọi khác nhau nhưng cơ bản thống
nhất và tập trung ở từ "lễ hội". Xét về mặt nghĩa của từ nó bao gồm hai thành tố
"lễ "và "hội". Theo Hán việt từ điển của Đào Duy Anh thì Lễ bao gồm các nghĩa
một nghi lễ để tác động vào thần Mặt Trời để cầu mưa.
Người Việt vốn là cư dân trồng lúa nước vùng nhiệt đới gió mùa, bởi
vậy cho tới nay từ quan niệm, lối nghĩ, đến nếp sống của họ về cơ bản thể
hiện những đặc trưng của người dân trồng lúa nước. Những quan niệm vũ trụ
nguyên sơ của phương Đông cổ đại, cũng như của người Việt cổ là âm dương
tương khắc, tương sinh đã bao trùm lên toàn bộ đời sống tinh thần của nông
dân Việt. Trong tiềm thức, ngoài việc con người tác động tới tự nhiên thì
quan hệ con người với con người còn tôn thờ thần núi, thần đất, thần lửa…
đều đồng nhất với âm và nhân hóa thành nữ tính - mẹ. Ở đây cái chiêm
nghiệm cổ sơ đã kết chặt với thế giới tâm linh của con người. Cùng với sự
nhận thức về thế giới và xã hội của con người, cũng như ảnh hưởng của văn
hóa Trung Hoa, quan niệm vũ trụ luận và tín ngưỡng cổ sơ trên người Việt cổ
đã dần được hệ thống hóa và nâng lên tới mức cao hơn. Đó là quan niệm đồng
nhất Mẫu - Mẹ với vũ trụ người Việt cổ quy tụ muôn vàn hiện tượng tự nhiên
và xã hội. Từ Tứ pháp ( mưa, mấy, sấm,chớp) mang lại Nữ tính mẹ Âu Cơ
sinh bọc trứng nở hàng trăm người con là cội nguồn của dân tộc Việt.
Xét về nguồn gốc thì trong thời nguyên thủy, lễ hội lúc đó chưa có sự
tách biệt khỏi các hoạt động khác của con người như vui chơi, giải trí chúng
còn gắn chặt với nhau đó chính là lễ hội sơ khai hay lễ hội nguyên hợp. Song
với sự phát triển của con người thì lễ hội cũng phát triển theo và dần dần trở
thành một nghi lễ đa dạng. Hoạt động của con người luôn vươn tới sự sáng
tạo và sự hài hòa với môi trường xung quanh. Do vậy mà nghi lễ thờ cúng từ
chỗ nhằm mục đích ích dụng đã dần hướng tới thẩm mỹ, tác động vào cảm
14
xúc của con người làm cho họ ngoài việc cân bằng về tâm lí còn tạo cho họ
nhiều niềm vui, chính điều đó giúp con người được thoải mái.
Nói đến lễ là nói đến những đặc trƣng tiêu biểu như là: tính trật tự,
tính quy củ và tính mực thước. Con người khi đứng trước những đối tượng
được tôn thờ bao giờ cũng với thái độ nghiêm trang thành kính nhất, do vậy
tự nhiên, hư tưởng hay có thật, đã qua hay hiện tại được thực hành theo nghi
điển rộng lớn và theo phương thức thẩm mỹ, nhằm biểu hiện giá trị của đối
tượng được cử lễ và diễn đạt thái độ của công chúng hành lễ. Hội là cuộc vui chơi
bằng vô số các hoạt động giải trí công cộng diễn ra tại một địa điểm nhất định
vào dịp cuộc lễ kỷ niệm một sự kiện xã hội hay tự nhiên, nhằm biểu đạt sự phấn
khích, hoan hỷ của công chứng dự lễ "[12, tr.132].
Vấn đề này, chúng tôi tán thành ý kiến của GS.TS Ngô Đức Thịnh cho
rằng: "lễ hội là một hiện tượng tổng thể, không phải là thực thể chia đôi (phần lễ
phần hội) một cách tách biệt như một số học giả đã quan niệm mà nó hình thành
trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ, tín ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần
linh lịch sử, hay một thần linh nghề nghiệp, thần linh huyền thoại) rồi từ đó nảy
sinh và tích hợp các hiện tượng sinh hoạt văn hoá phái sinh để tạo nên một tổng thể
lễ hội. Cho nên trong lễ hội phần lễ là phân gốc rễ, chủ đạo, phần hội là phần
phái sinh tích hợp" [73, tr.336].
Lễ và hội là một thể thống nhất không thể chia tách. Lễ là phần tín
ngưỡng, là phần thế giới tâm linh sâu lắng nhất của con người, là phần đạo.
Còn hội là phần tập hợp vui chơi giải trí, là đời sống văn hoá thường nhật, phần
đời của mỗi con người, của động đồng. Hội gắn liền với lễ và chịu sự quy định
nhất định của lễ, có lễ mới có hội.
Trong thực tế cuộc sống hàng ngày có khi người ta dùng từ "hội" để chỉ toàn
thể lễ hội nào đó ví dụ: tháng 3 trẩy hội Đền Hùng ( lễ hội Đền Hùng) hay trẩy hội
Chùa Hương nhưng đó chỉ là hình thái tu từ, lấy cái bộ phận để chỉ cái toàn thể.
Vì vậy trong luận văn này chúng tôi không dùng từ hội lễ, hội làng, hay
16
hội mà dùng từ lễ hội để mang tính chính xác và phản ánh hiện tượng lễ hội một
cách tổng thể, khách quan đầy đủ.
Nếu như trật tự là nội dung, hình thức, yêu cầu của lễ, thì tính tự do
phóng thoáng lại là đặc trưng của hội. Hội khác lễ chính là ở điều đó. Đến với
hội con người được phép hỗn độn, cuồng nhiệt, vui chơi hết mình. Hội là
Như vậy trong tiếng việt cổ truyền và truyền thống là 2 từ gần nghĩa
nhau nhưng không hoàn toàn trùng khít nhau. Từ cổ truyền có nghĩa trao lại
cái cũ của người xưa, nó dường như có tính bất biến bảo thủ. Từ truyền thống có
ý nghĩa cởi mở hơn biện chứng hơn, một mặt truyền lại những cái gì gọi là
dường mối, đầu gốc, một mặt nó có sự thích nghi sáng tạo để phù hợp với
thực tại.
Hơn nữa lễ hội lại là hiện tượng tổng thể, đồng thời nó tích hợp các
hiện tượng văn hoá phái sinh trong quá trình lịch sử để tạo nên một tổng thể lễ
hội. Nó vừa có phần gốc rễ làm chủ đạo (phần lễ) vừa có phần phái sinh tích
hợp (phần hội). Trong quá trình truyền lại, lễ hội vẫn giữ được cái dường mối,
căn cốt của lễ hội. Do vậy, đối với hiện tượng lễ hội, một hiện tượng văn hoá
luôn biến đổi vận động thì dùng cụm từ lễ hội truyền thống sẽ phù hợp hơn lễ
hội cổ truyền, mang ý nghĩa biện chứng hơn cụm từ lễ hội cổ truyền. Từ sự
phân tích và cách hiểu trên, trong luận văn này chúng tôi thống nhất dùng cụm
từ lễ hội truyền thống.
Lễ hội truyền thống là một loại hình sinh hoạt cộng đồng được tổ chức
theo phương pháp cảnh diễn hóa (sân khấu hóa) với nhiều nội dung, hình thức
phong phú nhằm vừa tôn vinh những giá trị thiêng liêng, vừa thỏa mãn các
nhu cầu văn hóa tinh thần của con người và góp phần thắt chặt các quan hệ xã
hội. Là một hình thức sinh hoạt văn hóa tổng hợp, lễ hội được cấu thành bởi
hai yếu tố lễ và hội, tương ứng với các mặt: tinh thần, tôn giáo -tín ngưỡng,
linh thiêng là yếu tố lễ; vật chất, văn hóa-nghệ thuật, đời thường là yếu tố hội,
cả hai yếu tố gắn bó, hòa quyện với nhau không thể bỏ đi một yếu tố nào mà
18
không làm mất đi bản thân nó. Lễ và hội hướng con người tới “cái thiêng” và
gắn bó con người lại với nhau, có sức hấp dẫn lôi cuốn các tầng lớp xã hội,
trở thành một nhu cầu, một khát vọng của nhân dân trong nhiều thế kỷ.
Thứ nhất, lễ hội truyền thống thực hiện chức năng liên kết cộng đồng,
dù dưới hình thức nào lễ hội truyền thống vẫn là một kiểu sinh hoạt tập thể
trong đời sống văn hóa của chính bản thân mình.
Hiện nay do phát huy tốt vai trò, chức năng nêu trên, các lễ hội truyền
thống đã tiếp tục thu hút được hàng vạn, thậm chí hàng chục vạn quần chúng
nhân dân tham gia, tạo nên một không khí náo nhiệt, hào hứng giữa đời sống
lao động sản xuất của nhân dân. Chiều sâu của tinh thần lễ hội truyền thống là
bảo lưu cội nguồn, là thứ vũ khí tư tưởng rất sắc bén cho mọi thời đại của mỗi
dân tộc; do đó, thực hiện tốt các chức năng của lễ hội truyền thống là góp
phần giáo dục truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, làm lành mạnh,
phong phú đời sống tinh thần của xã hội và cũng để nhằm góp phần “xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đề ra trong
Nghị quyết lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII).
1.2 Giá trị văn hóa của lễ hội đền Hùng
1.2.1. Giá trị cố kết cộng đồng dân tộc
Tinh thần cố kết cộng đồng là một truyền thống quý báu từ ngàn xưa
của dân tộc Việt Nam. Mỗi khi phải đối mặt với giặc ngoại xâm, thiên nhiên
áp bức. Ở thời kỳ nào cũng vậy, nhờ có tinh thần cố kết cộng đồng từ làng xã
đến cả đất nước mà nhân dân ta đã đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ đất nước.
Nhưng trong điều kiện mới ngày nay với sự phát triển của nền kinh tế thị
trường, tinh thần cố kết cộng động phải chịu sự xâm thực, thể hiện ở sự phát
triển không đều giữa kinh tế với đời sống văn hóa tinh thần. Con người ngày
càng khẳng định cái cá nhân và cá tính của mình nhưng đồng thời cũng dễ rơi
vào trạng thái cô đơn, cô độc, ích kỷ mà trong nghị quyết Hội nghị lần thứ V
ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII khẳng định: Về mặt khách quan
20
mà nói kinh tế thị trường với sức mạnh tự phát ghê gớm của nó đã khuyến
khích tối đa lợi ích cá nhân làm cho người ta có ý nhiều đến lợi ích vật chất
mà coi nhẹ tinh thần, chỉ chú ý tới lợi ích cá nhân mà coi nhẹ lợi ích cộng
đồng , chú ý đến lợi ích trước mắt mà coi nhẹ lợi ích lâu dài.
Lễ hội là một hoạt động tập thể mang tính cộng đồng, lễ hội của người
thì lút cả làng", hay "nước nổi, bèo trôi", "chết một đống còn hơn sống một
mình" đã thể hiện tính cố kết cộng đồng trong một đơn vị làng xã và lớn hơn là
dân tộc. Bất kể một lễ hội nào cho dù là lễ hội nông nghiệp, lễ hội lịch sử, lễ hội
tôn giáo suy tôn các vị thần linh hay anh hùng dân tộc thì các lễ hội ấy bao giờ
cũng là lễ hội của một cộng đồng; biểu dương các giá trị văn hoá và sức mạnh
của cộng đồng trên mọi bình diện. "Mọi hoạt động diễn ra trong các lễ hội ấy
đều thể hiện tính cố kết cộng đồng, mang tính biểu trưng nhằm kêu gọi, tập
hợp quần chúng nhân dân trong một vòng tay lớn" [62, tr.74]. Bởi vậy, tính
cộng đồng và cố kết cộng đồng là nét đặc trưng và là giá trị văn hoá tiêu biểu
nhất của lễ hội truyền thống nói chung và lễ hội đền Hùng nói riêng.
1.2.2. Giá trị giáo dục
Lễ hội truyền thống là biểu hiện của hai quá trình: lịch sử hóa và huyền
thoại hoá những nhân vật được nhân dân thờ phụng. Trong dân gian luôn tồn
tại quan niệm "Có tích mới dịch nên trò". Những nghi thức cúng tế, những tục
hèm, những trò chơi dân gian truyền thống trong các lễ hội thường có nguồn gốc
xuất phát từ một sự thật lịch sử hay hư cấu nào đó. Tất cả những "tích" như vậy
đều có hạt nhân cơ bản là mong ước, sở nguyện của đông đảo các tầng lớp
nhân dân. Thực tế qua khảo sát lễ hội ở vùng trung du bắc bộ nhất là ở khu vực
Phú Thọ, hầu hết các lễ hội truyền thống ở vùng này đều gắn chặt với các sự
kiện mang tính lịch sử thời kỳ Hùng Vương dựng nước. Hệ thống di tích Đình,
Đền đều thờ các vị tướng lĩnh thời kỳ Hùng Vương như Tản viên Sơn Thánh,
Quý Minh Đại Vương và được coi là thành hoàng làng. Điển hình như trò
diễn "Rước Chúa Gái" của huyện Lâm Thao, Phú Thọ thường diễn vào ngày
22
hội chính đã tái hiện truyền thuyết lễ thời Hùng Vương về tích truyện Sơn
Tinh đón Ngọc Hoa công chúa đưa về núi Tản Viên và phản ánh cả các phong
tục tập quán sinh hoạt thời kỳ Hùng Vương dựng nước. Vì vậy có thể nói lễ hội
truyền thống là một "bảo tàng lịch sử sống" một "kho báu sống" về lịch sử
dân tộc.
nước của cả dân tộc. Và ngày nay bài học đó vẫn còn mang tính thời sự cấp
thiết, nó trở thành kim chỉ nam trong xu thế quốc tế hóa của dân tộc Việt nam.
Tuy nhiên để bài học này sống mãi cùng núi sông thì thế hệ hôm nay cần
nhân rộng và có những chiến lược bảo tồn và phát huy một cách sâu rộng đến
thế hệ trẻ-những người chủ tương lai của đất nước. Với những ý nghĩa tốt đẹp
đó, lễ hội đền Hùng hướng con người tới “cái thiêng” và gắn bó con người lại
với nhau, có sức hấp dẫn lôi cuốn các tầng lớp xã hội, trở thành một nhu cầu,
một khát vọng của nhân dân trong nhiều thế kỷ. Chiều sâu của tinh thần lễ hội
truyền thống là bảo lưu cội nguồn, là thứ vũ khí tư tưởng rất sắc bén cho mọi
thời đại của mỗi dân tộc; do đó, thực hiện tốt các chức năng của lễ hội truyền
thống là góp phần giáo dục truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, làm lành
mạnh, phong phú đời sống tinh thần của xã hội và cũng để nhằm góp phần
“xây dựng nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Bên cạnh đó,
lễ hội đền Hùng với những tầm ý nghĩa, giá trị tâm linh, văn hóa sâu sắc cũng
đã góp phần to lớn trong việc quảng bá và phát triển du lịch, quảng bá hình
ảnh VN với bạn bè thế giới.
1.2.3. Giá trị văn hoá tâm linh
Con người luôn có nhu cầu lớn về đời sống vật chất và tinh thần. Bên
cạnh cuộc sống vật chất, cuộc sống hiện thực thì các yếu tố thuộc về lĩnh vực
tinh thần là nhu cầu không thể thiếu, nó giúp con người cân bằng trong đời sống
thực tại. Trong cuộc sống thế tục, con người đôi khi bất lực trước sức mạnh tự
nhiên, có lúc họ bế tắc trong sự giải thoát và phải tìm đến nguồn sức mạnh
tinh thần, tìm đến sự che chở phù hộ của tổ tiên dòng tộc, của thành hoàng,
24
của các vị thần, từ đó giúp họ có niềm tin tạo nên động lực, sức mạnh để vượt
qua khó khăn trong lao động sản xuất và cuộc sống. Đến với lễ hội đền Hùng
họ cầu mong và tin tưởng vào sự che chở của tổ tiên và thần linh cho cuộc
sống bình an, mùa màng bội thu, dân khang vật thịnh. Trong lễ hội này, các
yếu tố tâm linh được ẩn chứa khá sâu sắc từ việc chuẩn bị đồ cúng tế, các nghi
lâu đời nhất, lễ hội có sức lôi cuốn, hấp dẫn và trở thành nhu cầu, khát vọng
của người dân cần được đáp ứng, thoả nguyện qua mọi thời đại "Thông qua
những hình thức biểu hiện của mình, lễ hội không phải là mê tín dị đoan mà là
cách ứng xử thông minh, khôn ngoan của con người đối với sức mạnh vô hình
hay hữu hình mà họ chưa nhận thức được. Lễ hội trở thành một hiện tượng văn
hoá tổng hợp làm thoả mãn nhu cầu văn hoá tâm linh và tâm lý vật chất của con
người. Bản chất của lễ hội là sự tổng hợp và khái quát cao đời sống vật chất, tinh
thần của người dân trong xã hội ở từng giai đoạn lịch sử "[62, tr.89].
1.2.4. Giá trị bảo tồn nền văn hoá dân tộc
Nền văn hoá Việt Nam bắt nguồn từ nền văn minh nông nghiệp, văn
minh lúa nước, cộng đồng làng xã là cái nôi sản sinh ra nền văn hoá phong phú
và độc đáo, đồng thời làng xã cũng là cái nôi bảo tồn nền văn hoá ấy không bị
đồng hoá. Dân tộc ta phải trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc nhưng chúng ta
không bị đồng hoá, nền văn hoá Việt Nam vẫn tồn tại và phát triển nhờ văn hoá
làng xã, với phương thức sinh hoạt cộng đồng. Các phong tục, tập quán, tín
ngưỡng gắn với ngôi đình, mái chùa cùng với lễ hội là cái nôi giữ gìn bảo tồn
văn hoá Việt Nam. Đúng như GS.TSKH Tô Ngọc Thanh nhận xét: "Không có
làng xã Việt Nam thì không có văn hoá Việt Nam" [72, tr.8].
Lễ hội truyền thống là một hình thức tái hiện cuộc sống quá khứ thông
qua các hoạt động tế lễ, các trò diễn. Đó là cuộc sống lao động sáng tạo và khát
vọng chống lại thiên tai địch hoạ. Cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của
nhân dân được thể hiện dưới các hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần vô cùng
sinh động hấp dẫn như các hoạt động tế lễ, rước, các trang phục truyền thống,