1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ NƯƠNG CHỦ NGHĨA DUY KINH NGHIỆM VÀ CHỦ NGHĨA
DUY LÝ TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU THẾ KỶ XVII
CHỦ NGHĨA DUY KINH NGHIỆM VÀ CHỦ NGHĨA
DUY LÝ TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU THẾ KỶ XVII Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Quang Hưng
Hà Nội - 2011
4
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhân loại hiện nay đang ở trong thời kỳ có những thay đổi nhanh chóng.
Những thành tựu kì diệu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, của kinh tế
tri thức cùng với quá trình toàn cầu hóa kinh tế xã hội đã hướng con người
đến sự tiến bộ, sự phát triển với tốc độ nhanh chóng. Nhưng bên cạnh đó loài
người cũng chịu sự tác động của mặt trái của các quá trình trên. Loài người
hiện nay đang đứng trước rất nhiều các nguy cơ, các hậu quả đe dọa trực tiếp
đối với sự tồn tại của chính mình. Đó là chủ nghĩa khủng bố, bệnh tật, nguy
cơ chiến tranh và vũ khí hủy diệt, sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn,
các thảm họa thiên nhiên… Sự khác nhau, đối lập về lợi ích kinh tế, về các
giá trị đạo đức, văn hóa, thẩm mỹ của các dân tộc, các quốc gia là một trong
những nguyên nhân của tình trạng trên, làm cho các vấn đề toàn cầu trở nên
khó giải quyết, tạo nên những xung đột công khai, âm ỉ nhưng cũng hết sức
gay gắt. Trước tình hình ấy, yêu cầu nhận thức thế giới như một chỉnh thể
nhằm khẳng định những giá trị chung của loài người trên mọi lĩnh vực cả
trong quá khứ và hiện tại nhằm đem lại bức tranh khoa học về thế giới nói
chung.
Trong bối cảnh ấy, nghiên cứu vấn đề nhận thức luận nói chung, nhận
thức luận trong triết học Tây Âu thế kỉ XVII nói riêng có ý nghĩa quan trọng.
Mặt khác, như Ăngghen đã từng nói, một dân tộc muốn đứng vững trên
đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lí luận nhưng tư duy lí
luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng khả năng của người ta mà thôi.
Năng lực đó cần được phát triển, rèn luyện và muốn rèn luyện nó thì cho đến
nay không có một cách nào khác là nghiên cứu toàn bộ lịch sử triết học thời
trước.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa duy kinh nghiệm và sự đối lập giữa chúng
lần đầu tiên được Mác và Ăngghen đề cập tới trong Gia đình thần thánh (C.
Mác – P. Ăngghen: Tuyển tập gồm 6 tập, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội – 1980),
khi các ông bàn đến siêu hình học và các đối thủ của nó, trong đó có Locke
(tr. 168, 171
Nghiên cứu về triết học Tây Âu thời Cận đại cũng đã được nhiều tác giả
quan tâm chú ý, cả các tác giả nước ngoài và các tác giả trong nước. Về phía
các tác giả nước ngoài luận văn tập trung vào các công trình đã được dịch ra
tiếng Việt. Trong cuốn “Câu chuyện triết học” của Will Durant (Trí Hải và
Bửu Đính dịch, Viện Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn 1971), tác giả đã dành một
phần để tìm hiểu tư tưởng triết học của hai trong số các nhà duy kinh nghiệm
và duy lý trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII là Bacon và Spinoza. Ngoài ra
còn có “Lịch sử triết học và các luận đề” của Samuel Enoch Stumpt và
Donald C. Abel, Nxb Lao Động, Hà Nội, 2004. Trong công trình này, trong
phần 1. Lịch sử triết học phương Tây, chương 3. Thời Cận đại, hai tác giả đã
dành một phần để nói về chủ nghĩa duy lý tại châu Âu lục địa với ba nhà duy
lý điển hình: Descartes, Spinoda, Leibniz và chủ nghĩa duy nghiệm Anh thế
kỷ XVII - XVIII, trong đó có Bacon, Hobbes, Locke. Ở đây, tư tưởng triết
học nói chung, vấn đề nhận thức luận và phương pháp luận nói riêng của các
triết gia được phân tích khá sâu sắc.
Ở Việt Nam, trước ngày Miền Nam được giải phóng (1975), nhà nghiên
cứu Trần Thái Đỉnh có một số công trình dịch và chú giải các tác phẩm của
Descartes như Phương pháp luận (Nam chi tùng thư – 1973), Những suy
niệm siêu hình học (Bộ quốc gia giáo dục xuất bản – 1962). Trong công trình
này, tác giả đã dịch và đưa ra nhiều bình luận, đánh giá, chú giải về triết học
Descartes nói chung và triết học duy lý của ông nói riêng.
7
Năm 2000, trong số các đề tài luận văn được bảo vệ thành công tại viện
Ngoài những công trình nghiên cứu trên còn có một số công trình
nghiên cứu về lịch sử triết học của các tác giả trong nước trong đó có đề cập
đến triết học Tây Âu thời Cận đại với những triết gia tiêu biểu của cả hai
khuynh hướng duy kinh nghiệm và duy lý: “Lịch sử triết học Tây phương”
(Nguyễn Thế Nghĩa, Doãn Chính chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội,
1998) “Lịch sử triết học Tây phương” (Lê Tôn Nghiêm, Nxb Thành phố Hồ
Chí Minh, 2000), “Đại cương lịch sử triết học phương Tây” (Đỗ Minh Hợp,
Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh biên soạn, Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ
Chí Minh 2006)… Nhìn chung những công trình trên mới chỉ nghiên cứu sơ
lược lý luận nhận thức, coi lý luận nhận thức là một bộ phận trong khi tìm
hiểu tư tưởng triết học của một số triết gia tiêu biểu của triết học Tây Âu Cận
đại.
Như vậy, chưa có công trình nghiên cứu nào riêng biệt về vấn đề nhận
thức luận trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII với hai khuynh hướng đối lập
nhau là chủ nghĩa duy kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích: Làm rõ hai khuynh hướng nhận thức duy kinh nghiệm và
duy lý đối lập nhau trong triết học Tây Âu thế kỉ XVII
- Phạm vi: Thông qua phân tích nhận thức luận và phương pháp luận của
một số triết gia tiêu biểu, luận văn muốn làm rõ hai khuynh hướng duy kinh
nghiệm và duy lý trong triết học Tây Âu thế kỉ XVII. Trên cơ sở đó chúng ta
có thể so sánh, đúc kết một số vấn đề phương pháp luận, chỉ ra mối quan hệ
giữa triết học và khoa học tự nhiên thời kỳ này.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
9
- Cơ sở lý luận: Luận văn được triển khai trên lập trường của Chủ nghĩa
Mác – Lênin về lịch sử triết học nói chung, triết học Tây Âu thế kỉ XVII nói
riêng, đồng thời kế thừa, tham khảo có chọn lọc các công trình của các nhà
nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
gốc tri thức duy nhất là kinh nghiệm cảm tính. Đồng thời với việc đề cao giá
trị của cảm giác, chủ nghĩa duy kinh nghiệm lại coi thường vai trò của lý
tính trong quá trình nhận thức.
Các nhà triết học duy kinh nghiệm đầu tiên của triết học phương Tây là
các nhà Ngụy biện (giữa thế kỉ V – đầu thế kỉ IV tr.CN), họ đã phủ nhận các
suy đoán duy lý về bản chất của thế giới để tập trung vào các thực thể tương
đối cụ thể hơn, chẳng hạn như con người và xã hội. Các nhà ngụy biện đã
viện đến các luận cứ hoài nghi ngữ nghĩa, sử dụng các ví dụ mà người khác
có thể dễ dàng thấy được để làm suy yếu các tuyên bố của lý tính thuần túy.
Họ phủ nhận thực tại hoặc nếu có thực tại thì nó chỉ là những gì mà giác quan
ta nhận biết mà thôi. Protagoras (490 – 420 TCN) coi cảm giác là nguồn gốc
của mọi tri thức. Ông cho rằng cảm giác như thế nào thì sự vật tồn tại như thế.
Con người không nên tìm sự thật bên ngoài cái mà mắt ta trông thấy. Ông phủ
nhận vai trò của nhận thức lý tính.
Phản ứng chống lại cách tiếp cận duy lý của Platon, trong những năm
cuối đời Aristote (384 – 322 tr.CN) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của những
gì giác quan thu nhận được, nghĩa là nhấn mạnh vào các quan sát hậu nghiệm.
Aristote dùng thuật ngữ “triết học tự nhiên” để gọi nhiệm vụ tìm hiểu thế giới
tự nhiên, sử dụng cái mà sau này đã được biết với tên lập luận qui nạp để đi
đến các phạm trù và nguyên lý dựa trên cứ liệu giác quan. Cách tiếp cận này
11
đã đối ngược hẳn với lý thuyết hình thức của Platon, lý thuyết phụ thuộc rất
lớn vào các giả thuyết tiên nghiệm. Trong các thời kì giữa và sau của mình,
Aristote ngày càng không đồng ý với các quan niệm của Platon và phát triển
một sự kì vọng ngày càng chặt chẽ về các khẳng định tường minh bằng thực
nghiệm cho tất cả các kết luận từ qui nạp. Aristote còn khẳng định nguyên lý
của chủ nghĩa duy kinh nghiệm rằng tri thức của con người về thực tại được
đặt nền móng bằng trải nghiệm từ các giác quan “không có gì trong trí tuệ mà
nó không đến đầu tiên từ các giác quan”.
có thể hiểu rộng ra là sự nhất trí giữa chủ thể và đối tượng, hay nói như Zenon
(300Tr.CN), sự ôm trọn toàn bộ vũ trụ theo tinh thần hòa điệu tự nhiên – con
người. Katalèpsis chính là cơ sở và chuẩn mực của chân lý. Nhưng duy cảm
luận của Khắc Kỉ không phải là duy cảm luận cực đoan vì nó thừa nhận vai
trò của lý trí. Chính lý trí làm cho tri thức đáng tin cậy ở cấp độ biểu tượng
cảm tính trở thành tri thức tuyệt đối, đưa con người tới nấc thang cao hơn của
sự hòa điệu. Đối với các nhà Khắc Kỉ, nhận thức bao giờ cũng hướng tới sự
hòa điệu thẩm mĩ. Chúng ta nhận thức tự nhiên là để sống cùng tự nhiên.
Chúng ta lấy ý nghĩa cao cả của quá trình khám phá thế giới để khám phá
chính bản thân mình và từ đó vươn lên tầm cao thiêng liêng nhất, thấu hiểu lẽ
nhiệm màu của cuộc sống con người cũng như vũ trụ.
Ph. Epicure (341 – 270TCN) cũng được coi là một trong những nhà duy
kinh nghiệm đầu tiên của triết học Hy Lạp cổ đại, xem cảm giác là nguồn gốc
duy nhất của tri thức chân lý. Trong tuyên bố của Epicure, chẳng hạn, ông
cho rằng, cảm giác là cơ quan đem đến những biểu hiện đáng tin cậy nhất về
thực tại đã cho thấy hình ảnh nhà duy kinh nghiệm tiêu biểu thời kì Hy Lạp
hóa. Trong “qui luật học”, Epicure chỉ ra ba tiêu chuẩn quan trọng nhất của
chân lý bao gồm cảm giác, dự cảm, xúc cảm. Cảm giác là sự liên kết trực tiếp
13
chủ thể và đối tượng. Càng tiếp cận gần với đối tượng thì tri thức về đối
tượng càng chân thực. Các cơ quan cảm giác thường xuyên va chạm với đối
tượng hiện thực, nên đã hàm chứa đối tượng hiện thực rồi, vì thế không thể
xảy ra lầm lẫn. Phủ nhận vai trò của cảm giác trong nhận thức là phủ nhận
chính thực tại hiển nhiên. Dự cảm hay tiền cảm hình thành do những cảm
giác về đối tượng lặp đi lặp lại nhiều lần được lưu giữ nơi chủ thể dần dần
tạo nên đường mòn, sau mỗi lần va chạm với thực tại lại mở rộng thêm.
Chẳng hạn nghe tiếng khóc người ta có thể xác định tiếng khóc của đứa trẻ
hay người lớn, ngửi mùi hoa có thể đoán biết hoa gì…Mỗi sự va chạm đều
gợi lên những kí ức, nhờ đó mà chủ thể lập tức nhận biết và phân biệt các đối
của các đối tượng khả giác, khám phá ra bản chất chung trong các sự vật
riêng.
Như vậy, theo Aquino, nhận thức là quá trình phản ánh các sự vật vào trí
khôn con người. Ông phủ nhận các ý niệm bẩm sinh.
Chủ nghĩa duy kinh nghiệm thời Trung cổ còn được thể hiện ở các nhà
duy danh luận. Theo họ, cái chung tức những khái niệm không phản ánh cái
gì trong hiện thực, chúng chỉ là những tên gọi trống rỗng, không chứa đựng
một nội dung nào cả. Chỉ có những sự vật cụ thể mới tồn tại thực sự và là đối
tượng của nhận thức.
Theo Đon Scott (1265 – 1308), khách thể của nhận thức trực quan là
cái đơn nhất, cái được lĩnh hội như là cái thực tồn. Chỉ có nhận thức trực quan
mới cho phép trực tiếp tiếp xúc được với một cái gì đó đang thực tồn, tức là
với tồn tại. Được con người nắm bắt một cách trực tiếp, một loại tồn tại duy
nhất là tồn tại cảm tính của các vật cá biệt. Không phải là tư duy như ở các
nhà tư tưởng trước đó, mà chính nhận thức cảm tính ở Don Scott trở thành
15
năng lực bảo đảm đạt tới tồn tại. Từ đó ông đánh giá cao vai trò của kinh
nghiệm cảm tính trong nhận thức.
Một nhà duy danh tiêu biểu khác là G.Ockham (khoảng 1300 – 1350).
Đối với ông khái niệm phổ biến chỉ là một thực tại của trí khôn và không có
một độ lớn hữu thể nào cả. Nó chỉ hiện hữu trong linh hồn và do đó không
hiện hữu trong sự vật. Trong tri thức luận của Ockham, sự vật cá biệt là cái gì
có thể tri thức được trước hết và chính xác nhất. Không có những ý tưởng phổ
biến trong Thiên Chúa, trái lại Thiên Chúa chỉ tạo dựng duy những sự vật cá
biệt. Điều này Don Scott đã nói và Ockham nói lại một cách triệt để hơn. Hậu
quả tất nhiên của chủ trương duy danh triệt để này là thái độ hoài nghi đối với
mọi khoa học và tri thức tổng quát nếu chúng chỉ chú trọng những gì phổ biến
và tất yếu, vì theo nguyên tắc cốt yếu nhất của duy danh, một cách tự nhiên,
đối với chúng ta chỉ có sự vật cá biệt và cái ngẫu nhiên mới là thực tại có thể
Từ nửa sau thế kỷ XV, ở Tây Âu đã bắt đầu dấy lên phong trào tự do tư
tưởng, xuất hiện những quan điểm, những tư tưởng dám phủ nhận uy tín và
khẳng định sự khao khát nhận thức thế giới khách quan dựa trên chính thế
giới khách quan. Có được điều này là bởi lẽ, ở châu Âu vào thời điểm đó có
những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội thuận lợi thúc đẩy tự do tư tưởng.
Người đầu tiên đại diện cho tự do tư tưởng thời kỳ này là Nicolaus Cusanus,
(1401-1464). Ông chú ý nhiều tới nhận thức cảm tính và có xu hướng đề cao
nghiên cứu khoa học bằng thực nghiệm. Teledio (1509-1588) là người đã đối
lập phương pháp luận kinh viện trừu tượng bằng phương pháp luận kinh
nghiệm có xu hướng duy cảm, mà theo ông, phương pháp này bảo đảm tối đa
cho nhận thức chân lý. Hơn nữa, ông còn cho rằng, chỉ có kinh nghiệm cảm
tính mới là tiêu chuẩn của chân lý. Giordano Bruno (1548-1600) lại cho rằng,
17
nhận thức bắt nguồn từ cảm giác, thiếu những hình ảnh cảm tính thì con
người không thể nhận thức được sự vật.
Với tư cách là một khuynh hướng nhận thức, chủ nghĩa duy kinh nghiệm
ra đời và tồn tại suốt chiều dài lịch sử triết học. Chủ nghĩa duy kinh nghiệm
trong triết học Tây Âu thời cổ đại, trung đại, đặc biệt là của chủ nghĩa duy
kinh nghiệm Phục hưng là tiền đề tư tưởng trực tiếp cho chủ nghĩa duy kinh
nghiệm trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII.
1.2. Chủ nghĩa duy lý
Chủ nghĩa duy lý là khuynh hướng nhận thức luận cho rằng nguồn gốc
duy nhất của tri thức đúng đắn là lý tính. Tuyệt đối hóa tư duy lôgíc, khuynh
hướng này đề cao tính phổ biến và tính tất yếu của tri thức, đồng thời hạ thấp
giá trị của tri giác cảm tính.
Triết gia được một số nhà nghiên cứu coi là ông tổ của chủ nghĩa duy lý
là Parmenide (khoảng cuối thế kỉ thứ VI, đầu thế kỉ thứ V trước công
nguyên). Parmenide cho rằng tri thức triết học là tri thức mang tính lý luận
sự vật, bản chất của thế giới. Muốn nhận thức được bản chất của thế giới con
người cần nhận thức lý tính.
Học trò của Parmenide là Zenon (khoảng 490 – 430 TCN) mặc dù không
xây dựng hệ thống triết học riêng của mình nhưng đã thấy nhiều vấn đề
nghịch lý trong nhận thức hiện thực.
Zenon tách rời tư duy lý tính với nhận thức cảm tính. Ông cho rằng nhận
thức thế giới muôn hình muôn vẻ bằng tri giác cảm tính chỉ đem lại những ảo
ảnh, chỉ đưa đến phi lý chứ không đưa lại chân lý, chỉ đưa lại tri thức mơ hồ,
không đem lại tri thức chân thực. Chỉ có tư duy lý tính mới đem lại chân lý và
đã là chân lý thì không có mâu thuẫn.
19
Một đại biểu khác của chủ nghĩa duy lý trong triết học Hy Lạp, La Mã cổ
đại là Socrate (469 – 399 tr. CN). Aristote cho rằng Socrate là một nhà triết
học về tri thức luận đầu tiên. Khác hẳn những nhà triết học trước và cùng thời
với ông chỉ chú tâm nghiên cứu tìm hiểu vũ trụ, trái lại ông là người đầu tiên
quay vào trong chính tinh thần mình cùng mọi người tra vấn, rút từ tinh thần
bên trong ra những chân lý. Socrate luôn luôn bắt đầu từ điểm xuất phát
“Người thông minh nhất là người biết mình không biết gì cả”. Ông cũng buộc
mọi người bắt đầu từ điểm ấy và ông quan niệm: “Cái biết thực sự là từ ở bên
trong”. Bởi thế trong tranh luận ông tự thú mình như một người thực hành
nghề hộ sinh. Ông thực hiện đỡ đẻ những ý tưởng của người khác cho đến khi
họ nhận ra vấn đề bằng chính cơn đau đẻ sinh ra ý tưởng của mình. Điều đó
được ông gọi là nghệ thuật“sản ý”. Socrate cho rằng nhiệm vụ đặc biệt của
linh hồn là tri thức như khoa học, tức là, tri thức có tính chất suy lý. Tri thức
đó có tính chất bẩm sinh trong linh hồn. Đó là cách thể hiện chính bản tính
của linh hồn có lý trí. Tri thức không thể đến từ bên ngoài mà trái lại nó phải
được tiềm chứa trong nội tại của linh hồn ngay từ nguyên thủy, như một sản
phẩm của thần thánh. Bất cứ ai muốn trở thành triết gia hay học làm triết gia
thì điều quan trọng bậc nhất là phải huy động lý trí và chỉ có như vậy mới có
người tù trong hang đá. Họ tưởng những hiện tượng trông thấy được là cái có
thực. Song theo Platon, chỉ có thế giới ý niệm là thực, còn thế giới mà chúng
ta thấy được chỉ là cái bóng của thế giới ý niệm mà thôi.
Nhận thức luận của Platon cũng được xây dựng dựa trên nền tảng những
quan niệm của ông về thế giới mà cốt lõi là học thuyết về tồn tại. Với mỗi
dạng hay cấp độ tồn tại đều có một dạng tri thức tương ứng. 1) các ý niệm thì
được nhận thức bởi trực giác trí tuệ. 2) các đối tượng của tri thức toán học
như điểm, đường thẳng, các hình được hiểu như một dạng trung gian gắn
21
liền với các ý niệm và các sự vật cảm tính. Những đối tượng này cũng được
nhận thức bởi trí tuệ nhưng không phải bằng trực giác mà bằng suy diễn. 3 là
các sự vật cảm tính được coi là đối tượng nhận thức của các kiến giải. Cũng
như các sự vật cảm tính, các kiến giải cũng mang tính cá biệt, thay đổi thường
xuyên, do vậy không phải là tri thức thực sự. 4) cấp độ thấp nhất là những
hình ảnh thể hiện các sự vật cảm tính, tức là những sự vật do con người làm ra
từ những vật tự nhiên cũng như những ý tưởng của ta về chúng. Dạng tồn tại
này được nhận thức bởi các tưởng tượng và đối với ông, tưởng tượng không
được coi là tri thức.
Như vậy, tương ứng với bốn cấp độ của tồn tại thì cũng có bốn cấp độ
nhận thức phù hợp với chúng. Không đánh giá đúng mức vai trò của các kiến
giải, tưởng tượng tức nhận thức cảm tính, Platon chỉ thừa nhận những gì mà
trực giác, suy diễn trí tuệ đem lại thì mới là tri thức thực sự. Mọi tri thức, theo
Platon đều phải mang tính khái quát cao. Khoa học là một hệ thống tri thức về
các ý niệm, đối tượng toán học, còn sản phẩm của kinh nghiệm, nhận thức
cảm tính đều chỉ là những kiến giải, tưởng tượng về các sự vật đơn nhất. Các
tri thức đem lại cho chúng ta những chân lý tuyệt đối, là cơ sở của khoa học,
còn các dạng nhận thức cảm tính chỉ thích dụng với ý thức thông thường.
Như vậy, trong lý luận nhận thức của Platon ta thấy đối tượng của nhận
thức không phải là những sự vật cảm tính, là giới tự nhiên mà là thế giới các ý
mình đã từng có trong quá khứ. Quan điểm nhận thức hướng nội là tiền đề của
học thuyết thần khải, một trong những đặc trưng của tư tưởng Augustine. Như
vậy, ở đây ta thấy có sự kết hợp giữa trường phái Platon, chủ nghĩa Platon
mới với thế giới quan Cơ đốc giáo, khoa học với thần học. Con người hướng
23
nội, chú tâm nhận thức thế giới vì bản thân thế giới ấy đã được soi sáng bởi
chân lý tối thượng. Ánh sáng chân lý chính là Thiên Chúa.
Như vậy chịu ảnh hưởng của Platon, Augustine không phủ nhận vai trò
của nhận thức giác quan nhưng ông cho rằng nó không đem lại tri thức theo
đúng nghĩa. Muốn có tri thức thực sự thì con người cần có nhận thức lý tính.
Ở đây nội dung của tri thức không phải là thế giới khách quan mà được rút ra
từ chính linh hồn con người, là sự hồi nhớ về những gì mà con người đã từng
có trong quá khứ.
Triết học Phục hưng đã đi từ chỗ thừa nhận hoàn toàn hay một phần thế
giới quan Trung cổ đến chỗ phủ định một phần hay hoàn toàn thế giới quan ấy
và chứa đựng trong mình xu hướng chuyển từ thần bí học sang chủ nghĩa duy
lý, nhưng đó cũng chỉ là xu hướng, hơn nữa lại là một xu hướng rất không ổn
định. Có thể nói chủ nghĩa duy lý ở đây mới chỉ xuất hiện một cách thất
thường và biến mất giữa vô số sắc thái có ở triết học thời đại Phục hưng và
bao gồm mầm mống của những khuynh hướng tư duy hoàn toàn khác, bất
đồng và xung đột với nhau. Về thực chất thì không thể qui tính đa dạng như
vậy về một kết quả nhất nghĩa nào đó.
Kết luận chương 1
Như vậy, cũng như chủ nghĩa duy kinh nghiệm, chủ nghĩa duy lý trong
triết học Tây Âu trước thế kỉ XVII là một khuynh hướng nhận thức luận hình
thành và phát triển cùng với lịch sử triết học. Hai khuynh hướng nhận thức
này luôn đấu tranh với nhau gay gắt và là nguồn gốc, động lực cho sự phát
triển của lý luận nhận thức.
Các nhà ngụy biện là những nhà duy kinh nghiệm đầu tiên trong triết học
25
Chương 2. CHỦ NGHĨA DUY KINH NGHIỆM TRONG TRIẾT HỌC
TÂY ÂU THẾ KỶ XVII
2.1. Sự phát triển của khoa học tự nhiên thực nghiệm và ảnh hưởng
của nó đến chủ nghĩa duy kinh nghiệm
Trong xu hướng chống lại triết học kinh viện cuối thời Trung cổ đã xuất
hiện việc đề cao vai trò của thực nghiệm trong quá trình nhận thức. Đó là
khuynh hướng xuất hiện trong tư tưởng của các đại biểu của chủ nghĩa duy
danh như U.Ockham, D. Scotte, R. Bacon Khuynh hướng này là sự mở đầu
cho sự phát triển của khoa học tự nhiên thực nghiệm thời kì Phục hưng và
Cận đại.
Nền khoa học trước đây chịu ảnh hưởng của Aristote, xuất phát từ những
giả định siêu hình, từ những định đề do đầu óc con người nghĩ ra. Những giả
định đó xuất phát từ một nguyên lí thiêng liêng mà người ta cho là do Thượng
đế thiết lập nên. Xuất phát từ những giả định đó, con người phân tích, lý giải
và xếp đặt các hiện tượng sao cho chúng có thứ tự hợp lý có thể nắm bắt được
bởi đầu óc con người.
Các nhà khoa học thời kì Phục hưng và Cận đại đã đem đến những thay
đổi nền tảng nhất trong cách tư duy, và họ đã đạt được thành tích này bằng
cách sáng tạo ra một phương pháp để khám phá tri thức. Khác với các nhà tư
duy thời Trung cổ phần lớn bắt đầu bằng việc đọc các tác phẩm cổ điển, các
nhà khoa học Phục hưng và Cận đại lần đầu tiên nhấn mạnh đến sự quan sát
và đặt ra những giả thiết để làm việc. Phương pháp quan sát gồm có hai điều:
đó là những giải thích truyền thống về thiên nhiên phải được chứng minh
bằng thực nghiệm, vì bây giờ người ta cho rằng các giải thích truyền thống rất
có thể là sai, và các nhà khoa học cần phải có các thông tin mới nếu họ muốn
vượt qua các biểu hiện bề ngoài của sự vật. Lúc này khoa học khám phá các
vật thể trên bầu trời với một thái độ mới, với hi vọng không chỉ tìm ra sự xác