1 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN HÀ NỘI
KHOA TOÁN KINH TẾ-CHUYÊN NGÀNH TOÁN TÀI CHÍNH
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ
CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU
Giảng Viên Hướng Dẫn: PGS.TS: NGÔ VĂN THỨ
GV: ĐINH HỒNG THÊU
Sinh Viên Thực Hiện: PHẠM ĐÌNH THẾ MSSV: CQ502460
HÀ NỘI 03/2012
Sinh viên: Phạm Đình Thế Lớp: Toán Tài
Chính_K50
2 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế Việt nam ngày càng hội nhập sâu và dần trở thành một bộ phận quan
trọng của nền kinh tế thế giới được đánh dấu bằng việc gia nhập tổ chức thương mại
thế giới WTO năm 2006. Việc trở thành thành viên của tổ chức WTO mở ra nhiều
cơ hội nhưng đồng thời cũng tạo ra những thách thức lớn đối với doanh nghiệp nội
địa. Khi đó những công ty Việt nam sẽ phải cạnh tranh với những tập đoàn kinh tế
lớn mạnh của thế giới. Do đó để giúp các doanh nghiệp trong nước nói chung có thể
cạnh tranh tốt nhà nước cần có những chính sách, chiến lược lâu dài để phát triển
hệ thống các doanh nghiệp nội địa bền vững. Một trong những chính sách đó là ưu
tiên phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ có thể cạnh tranh tốt trên thị trường nội
địa, điều này đặc biệt có ý nghĩa khi mà các doanh nghiệp ngoại không thể lấp đầy
được các kẽ hở của nền kinh tế. Thật tế là, trong những năm vừa qua bộ phận doanh
nghiệp vừa nhỏ đã đóng góp một phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của Việt
ngân hàng có thêm thông tin trong quá trình ra quyết định cho vay, quản lý khoản
tiền cho vay và có các kế hoạch thu hồi nợ kịp thời.
Sinh viên: Phạm Đình Thế Lớp: Toán Tài
Chính_K50
4 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I
ĐẶC ĐIỂM CHUNG VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG THANH
TOÁN NGHĨA VỤ NỢ CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1. ĐỊNH NGHĨA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
Có nhiều quan niệm khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa, tuy nhiên, đa phần các
định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa đều sử dụng số lượng lao động thường
xuyên như là một tiêu chí ưu tiên, ngoài ra còn sử dụng quy mô vốn, quy mô doanh
thu v.v… Đối với đa phần các quốc gia phát triển (Mỹ, Pháp, Nhật), những doanh
nghiệp có số lao động từ 500 trở xuống thì được coi là có quy mô vừa và nhỏ, trong
số đó những doanh nghiệp có số lao động 200 trở xuống được coi là doanh nghiệp
nhỏ. Ở Việt Nam hiện nay, theo quy định tại Nghị định 91/2001/CP-NĐ của Thủ
tướng Chính phủ ban hành năm 2001 thì những doanh nghiệp có số lao động nhỏ
hơn 300 và có số vốn pháp định nhỏ hơn 10 tỷ đồng được coi là doanh nghiệp nhỏ
và vừa.
Các cách định nghĩa này cũng chỉ mang tính chất tương đối, bởi một doanh nghiệp
có thật sự nhỏ khi có số lao động nhỏ hơn 500 hay không thì còn tuỳ thuộc vào lĩnh
vực hoạt động. Do vậy, chúng ta có thể hiểu doanh nghiệp nhỏ là một doanh nghiệp
hoạt động độc lập trong một lĩnh vực kinh doanh nhưng không thống trị trong lĩnh
vực kinh doanh của mình.
Tuy nhiên hiện nay theo nghị định mới nhất số 56/2009/NĐCP ngày 30/06/2009
của chính phủ quy định doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau: “ là cơ sở kinh doanh đã
đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia làm ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ,
và có quy mô nguồn vốn (hay tổng tài sản) nhỏ hơn 100 tỷ. Một lưu ý nữa là kể từ
giờ đến hết nội dung của đề tài khi ta nói đến doanh nghiệp tức là đang đề cập đến
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
II. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU
1. THỰC TRẠNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ VIỆC HOÀN THÀNH
NGHĨA VỤ TRẢ NỢ TÍN DỤNG VỚI NGÂN HÀNG CÁC NĂM VỪA
QUA
Thời gian qua trên địa bàn cả nước đã có tới hơn 48.000 doanh nghiệp tuyên bố phá
sản ( chỉ tính riêng 9 tháng đầu năm 2011). Con số đã phần nào thể hiện sự khó
khăn của các doanh nghiệp các năm vừa qua nói chung, và Lai châu có lẽ cũng
không là một ngoại lệ. Thực tế cho thấy thời gian qua trên địa bàn tỉnh các doanh
nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều doanh nghiệp trong ngành Nông- Lâm nghiệp
sau khi ký kết hợp đồng với người dân cho các dự án trồng rừng đã không có đủ
tiềm lực tài chính để tiếp tục dẫn đến những hệ lụy cho cả người dân và doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp và xây dựng cũng có những khó
Sinh viên: Phạm Đình Thế Lớp: Toán Tài
Chính_K50
6 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khăn tương tự , nguyên nhân chủ yếu là do hiện nay các ngân hàng đang thắt chặt
tín dụng với mục đích kìm chế lạm phát của chính phủ.
Mặc dù đã có rất nhiều doanh nghiệp bị phá sản trong thời gian qua, song bất chất
tất cả các khó khăn loại hình doanh nghiệp vừa nhỏ vẫn đạt được những kết quả
đáng kể cả về “chất” và “lượng”.
Cụ thể theo số liệu thống kê thì số lượng các doanh nghiệp đăng ký hoạt động kinh
doanh vẫn tăng mạnh trong các năm qua. Kể từ năm 2004 trên địa bàn tỉnh chỉ có
143 doanh nghiệp thì đến năm 2009 con số này là 611 doanh nghiệp.
Năm 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Số doanh nghiệp 143 193 251 333 439 611
Tốc độ tăng trưởng(%) (-) 34.96 30.05 32.67 31.83 39.17
tăng trưởng của tổng số lao động ta thấy rằng năng suất lao động cũng đã được cải
thiện. Thực tế là các doanh nghiệp ngày các có xu hướng sử dụng ít lao động đi
trong khi giá trị sản xuất lại vẫn tăng nhanh hơn tốc độ tăng của số doanh nghiệp.
Điều này có thể được suy ra khi ra so sánh tốc độ tăng trưởng trung bình của số
lượng các doanh nghiệp với tổng số lao động được sử dụng ( Tương ứng 34% và
23%). Có thể thấy rõ điều này hơn qua bảng số lượng lao động trung bình ngày
càng giảm sau đây:
Năm 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Số lao động TB(Người) 30.27 28.84 23.85 21.4 24.62 19.79
Bảng số lao động trung bình của doanh nghiệp qua các năm(người)
Như vậy có thể thấy rằng bất chấp sự khó khăn của kinh tế nói chung, các doanh
nghiệp trên địa bàn Lai châu vẫn đạt được các kết quả rất đáng kể. Tuy chưa thể tìm
được nguyên nhân của sự tăng trưởng này nhưng ta vẫn có thể đưa ra một số giả
thuyết, ví dụ do sự phát triển của khoa học kỹ thuật tác động đến các doanh nghiệp
ở đây mạnh hơn ở các địa phương khác; cũng có thể do các doanh nghiệp ở đây có
tiềm lực tài chính mạnh mẽ nên không bị tác động nhiều bởi các chính sách thắt
chặt tiền tệ, kìm chế lạm phát của chính phủ; hay cũng có thể do tại đây có nhiều tài
nguyên thiên nhiên hơn nơi khác… Tất cả chỉ là phỏng đoán, chúng ta sẽ có nhận
định chính xác hơn sau khi có những phân tích sâu hơn.
2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TRÚC NGUỒN VỐN CỦA DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ LAI CHÂU
Quy mô nguồn vốn(tài sản)
Đặc trưng của DNVVN nói chung là có quy mô nguồn vốn nhỏ, theo quy định là
dưới 100 tỷ. Tùy theo từng ngành, từng địa phương mà quy mô vốn cũng có những
sự khác nhau nhất định. Bảng dưới đây chỉ ra các đặc điểm đặc trưng về quy mô
nguồn vốn của DNVVN thuộc Lai châu. Thống kê được thực hiện dựa trên quan sát
220 DNVVN thuộc mọi ngành sản xuất kinh doanh chính:
Sinh viên: Phạm Đình Thế Lớp: Toán Tài
Chính_K50
8 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dạng phân phối là lệch phải. Ngành khai thác tài nguyên không chỉ có quy mô
nguồn vốn trung bình nhỏ nhất mà còn có dạng phân phối “nhọn” hơn so với phân
phối chuẩn trong khi các ngành khác thì “bẹt” hơn dạng phân phối chuẩn có cùng
độ lệch.
Các đặc điểm về cấu trúc nguồn vốn
Bảng dưới đây chỉ ra một số đặc điểm về tỉ trọng nợ vay của doanh nghiệp trong
tổng nguồn vốn:
Thoạt đầu nếu chỉ nhìn vào con số tỉ trọng nợ vay trung bình ta có thể sẽ có thể có
kết luận sai lầm rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở đây vay nợ ít (khoảng 38%).
Thực tế đó chỉ là con số trung bình, một số doanh nghiệp vay nợ với trọng rất cao
đã làm tăng tỉ lệ trunng bình này. Ở đây một người làm phân tích sẽ quan tâm nhiều
hơn đến giá trị Mode (= 0.5) bởi đây mới thật sự là cơ cấu vốn của đại đa số các
doanh nghiệp. Mặc dù con số 0.5 (50% nợ vay trong tổng nguồn vốn) cao hơn khá
nhiều so với mức trung bình chung, nhưng nếu đem so sánh với những doanh
nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn cả nước thì 50% lại là thấp. Thực tế các doanh
nghiệp vừa và nhỏ thường có tỉ trọng nợ vay cao hơn khá nhiều.
Đặc điểm cơ cấu nguồn vốn vay
Statistics
Short_loan_on_debt
N Valid
220
Missing
0
Sinh viên: Phạm Đình Thế Lớp: Toán Tài
Chính_K50
10 Chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
Mean
0.641871199
vào khoảng 210 người.
Đặc điểm về doanh thu
Sinh viên: Phạm Đình Thế Lớp: Toán Tài
Chính_K50
11 Chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
Trung bình doanh thu của các doanh nghiệp trong một năm khoảng 4,6 triệu USD
nhưng Mode kại chỉ là 200 ngàn USD cho thấy rằng một số doanh nghiệp đã có
doanh thu cao hơn hẳn một số doanh nghiệp khác. Sự mất cân đối này được củng cố
bởi gái trị của phương sai rất lớn. Đây cũng là điều thường thấy ở tất cả các ngành
kinh tế. Hay dễ thấy nhất là sự bất cân đối trong thu nhập.
Một số chỉ tiêu khác
Các chỉ tiêu này bao gồm tài sản ngắn hạn, hàng tồn kho, khấu hao, khoản phải thu,
lãi vay. Nhìn chung tất cả các chỉ tiêu này đều khác nhau ở mỗi ngành sản xuất kinh
doanh. Đặc điểm chi tiết có thể xem trong bảng thống kê dưới đây.
Statistics
TS_NH Ton_kho Khau_hao Phai_thu Lai_vay
N Valid 220 220 220 220 220
Missing 0 0 0 0 0
Mean 923.90 194.44 68.14 230.92 66.95
Std. Error of Mean 65.973 23.697 4.800 26.509 4.993
Mode 300 50 10 0 30
Std. Deviation 978.541 351.481 71.190 393.187 74.065
Variance 9.575E5 1.235E5 5068.073 1.546E5 5.486E3
Skewness 1.629 3.778 2.152 3.076 1.843
Std. Error of Skewness .164 .164 .164 .164 .164
Kurtosis 2.080 18.385 6.012 11.067 3.331
Std. Error of Kurtosis .327 .327 .327 .327 .327
Minimum 7 1 0 0 0
Maximum 4287 2754 431 2398 353
Các tỉ số này thể hiện mức độ hiệu quả của công ty trong việc quản lý tài sản. Mục
đích của việc phân tích nhóm chỉ số này nhằm tìm ra câu trả lời cho câu hỏi số tài
sản của công ty đang có đã hợp lý chưa, là quá cao hay quá thấp so với mức doanh
thu đạt được. Việc phân tích thường tập trung vào các tỉ số chính sau:
Tỉ số vòng quay hàng tồn kho
Tỉ số vòng quay tài sản cố định
Tỉ số vòng quay tổng tài sản
Ngày thu tiền bình quân.
1.3. Nhóm tỉ số quản trị nợ
Sinh viên: Phạm Đình Thế Lớp: Toán Tài
Chính_K50
13 Chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
Các công ty huy động vốn qua hai nguồn chính là nợ vay và vốn chủ sở hữu. Việc
sử dụng nợ vay sẽ có ba ý nghĩa chính: Thứ nhất là thông qua nợ vay các cổ đông
(hay chủ sở hữu) có thể kiểm soát toàn bộ công ty chỉ với vốn chủ sở hữu giới hạn;
thứ hai các chủ nợ sẽ nhìn vào vốn chủ sở hữu để đưa ra một tỉ lệ an toàn cho mình,
nói chung tỉ lệ vốn chủ sở hữu càng cao thì công ty càng an toàn do đó nguy cơ các
chủ nợ phải đối mặt càng thấp; thứ ba suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu sẽ tăng lên
nếu công ty kiếm được thu nhập nhiều hơn lãi vay từ chính khoản vay của mình.
Thông thường có ba tỉ số nợ chính sau hay được đưa vào phân tích:
Tổng nợ trên tổng tài sản
Tỉ số thanh toán lãi vay
Tỉ số khả năng trả nợ
1.4. Nhóm tỉ số sinh lời
Ba nhóm tỉ số trên cho chúng ta biết về chính sách và hoạt động của công ty. Tuy
nhiên chúng chưa thể hiện một thước đo cụ thể cho mục đích kinh doanh của doanh
nghiệp. Để biết tính hiệu quả người ta quan tâm tới nhóm các tỉ số sinh lời, bao
gồm:
Tỉ số lợi nhuận trên doanh thu
1. PHÂN TÍCH HỒI QUY VÀ TƯƠNG QUAN
Trong khi phân tích hồi quy được dùng với mục đích trước tiên để dự đoán thì phân
tích tương quan được dùng để đo lường độ lớn trong mối liên hệ giữa các biến định
lượng.
Ta có thể định nghĩa một mô hình hồi quy là một mô hình thống kê được sử dụng
để dự báo giá trị của các biên phụ thuộc hoặc biến kết quả dựa trên giá trị của ít
nhất một hay nhiều biến giải thích (hay biến độc lập).
Hay dưới dạng mô hình:
E(Y/(X
1
,X
2
…X
k
)) = f(X
1
,X
2
,…X
k
)
Ta gọi f là hàm hồi quy của Y theo (X
1
,X
2
,…X
k
).
Phân loại các hàm hồi quy
Thông thường người ta thường phân loại hàm hồi quy theo một trong hai cách sau :
Nội dung chính yếu của phương pháp này là tìm ra vecto các hệ số hồi quy sao cho
tổng bình phương sai số là nhỏ nhất. Ở đây cần lưu ý đến cácgiả thiết (hay điều
kiện) để phương pháp bình phương nhỏ nhất có thể được áp dụng :
i) E(U
i
) = 0 với mọi i
ii) E(U
i
,U
j
) = 0 với mọi i ≠j
iii) E(U
i
,U
i
) = σ
2
iv) Các biến độc lập không phụ thuộc, tương quan tuyến tính lẫn nhau
v) E(U
i
,X
i
) = 0.
Kiểm định và ước lượng đối với các tham số
Ước lượng khoảng tin cậy cho các tham số hồi quy riêng β
i
:
β
^
i
= β
j
*
tương đối với giả thiết đối H
1
như sau:
H
1
: β
i
> β
j
w
α
= {T
qs
> T
α
(n-k)
}
H
1
: β
i
< β
j
w
α
= {T
Khái niệm phân tích phân tố
Phân tích nhân tố là tên chung của một nhóm các thủ tục được sử dụng chủ yếu để
thu nhỏ và tóm tắc các dữ liệu.
Sinh viên: Phạm Đình Thế Lớp: Toán Tài
Chính_K50
16 Chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
Trong nghiên cứu nói chung và nghiên cứu kinh tế nói riêng ta có thể thu được một
số lượng biến khá lớn và hầu hết các biến này có liên hệ với nhau và số lượng của
chúng phải được giảm bớt xuống đến một số lượng mà ta có thể sử dụng được.
Các nhân tố chung có thể được biểu diễn như những kết hợp tuyến tính của các biến
quan sát:
F
i
= w
i1
X
1
+ w
i2
X
2
+ w
i3
X
3
+…+ w
ik
X
k
Sinh viên: Phạm Đình Thế Lớp: Toán Tài
Chính_K50
17 Chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
Việc giải thích các nhân tố được thực hiện trên cơ sở nhận ra các biến có hệ số
(Factor loading) lớn ở cùng một nhân tố.
3. MÔ HÌNH HỒI QUY LOGISTIC
Trong nhiều vấn đề của kinh tế học có mục tiêu chính là nghiên cứu mối tương
quan giữa một (hay nhiều) biến nguyên nhân và biến kết quả. Chẳng hạn như
nghiên cứu mối tương quan của tỷ lệ nợ vay trên tổng tài sản đến khả năng doanh
nghiệp bị phá sản. Trong những nghiên cứu như thế này, đối tượng phân tích
thường được thể hiện qua các biến nhị phân như phá sản/không phá sản, trả được
nợ/không trả được nợ, xảy ra/không xảy ra…Yếu tố nguyên nhân có thể là các biến
liên tục(lãi suất, tỉ lệ nợ vay, tỉ lệ hàng tồn kho…) hay cũng có thể là biến nhị phân
(giới tính) hay các biến mang đặc tính thứ bậc (mức độ từ thấp đến cao).
Vấn đề đặt ra cho những nghiên cứu này là làm sao đo độ tương quan giữa biến
nguyên nhân và biến kết quả. Các phương pháp nghiên cứu như mô hình hồi quy
tuyến tính (Linear regression model) không thể áp dụng được bởi vì biến phụ thuộc
không phải là một biến liên tục mà là biến nhị phân. Vào những năm 1970 nhà
thống kê học David R.Cox phát triển một mô hình có tên gọi là “Logistic regression
model” hay mô hình hồi quy Logistic.
Mô hình hồi quy Logistic tổng quát
Gọi p là xác suất một sự kiện xảy ra ta định nghĩa tỷ số odd như sau:
Gọi x là biến nguyên nhân (hay biên giải thích) mô hình hồi quy logistic phát biểu
rằng log(odd) phụ thuộc vào giá trị của x thông qua hai thông số biểu diễn bởi một
hàm tuyến tính:
Log(odd) = α + βx + �
Hay:
Trong đó:α,β là các tham số cần ước lượng từ dữ liệu, � là phần dư.
nghiệp
III. XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ
CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1. CÁC YẾU TỐ ĐỊNH LƯỢNG
Trong chương trước chúng ta đã xác định các yếu tố định lượng chính là các chỉ số
tài chính thu được từ trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp làm các yếu tố định
lượng. Trong phần này ta sẽ đi phân tích cụ thể từng yếu tố.
1.1. Tỉ số thanh khoản hiện hành (Current ratio- CR)
Đây là tỉ số chính, quan trọng nhất trong việc phân tích tính thanh khoản của một
công ty. Nó được tính bằng cách chia các khoản tài sản lưu động của doanh nghiệp
(Tài sản ngắn hạn có thời gian đáo hạn bé hơn 1 năm) cho các khoản nợ ngắn hạn
(nợ phải trả trong thời gian một năm tới).
Tỷ số thanh khoản hiện hành =
Tỷ số này cho thấy nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng tài sản ngắn hạn như thế nào.
Trong đó tài sản lưu động bao bao gồm tiền mặt, chứng khoán thị trường, hàng tồn
kho và các khoản phải thu. Nếu một công ty gặp khó khăn về tài chính, khi đó công
ty thường sẽ tìm cách vay tiền từ ngân hàng hoặc chi trả cho các hóa đơn chậm
hơn… Tất cả các hoạt động này sẽ làm cho các khoản nợ ngắn hạn tăng lên. Trong
trường hợp tài sản ngắn hạn của công ty tăng chậm hơn các khoản nợ ngắn hạn sẽ là
Sinh viên: Phạm Đình Thế Lớp: Toán Tài
Chính_K50
20 Chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
cho tỷ số thanh khoản hiện hành giảm xuống và đó chính là các chỉ bào cho những
khó khăn tài chính có thể phát sinh. Việc định ra một con số cụ thể cho tỷ số này là
bao nhiêu thì tốt cho doanh nghiệp là không thể. Đơn gian vì mỗi doanh nghiệp
thuộc các ngành khác nhau có đặc điểm khác nhau do đó tỷ số này cũng khác nhau.
Sẽ là hợp lý nếu đem tỷ số này so sánh với trung bình ngành sản xuất kinh doanh
mà công ty hoạt động.
1.2. Tỷ số thanh khoản nhanh (Quick test hay Acid test- QT)
Tỷ số vòng quay tài sản cố định =
Nếu một công ty có tỷ số vòng quay tài sản cố định tương ứng với mức trung bình
của ngành có ý nghĩa rằng cônng ty cũng đang sử dụng tài sản của mình hiệu quả
như các công ty khác trong ngành và mức doanh thu đạt được có thể được xem là
tương ứng với tài sản cố định hiện có.
Khi nghiên cứu tỷ số này cần phải chú ý rằng tài sản cố định thể hiện trong bảng
cân đối kế toán là giá trị sổ sách trừ cho khấu hao. Lạm phát làm cho tài sản của
công ty đã mua trong quá khứ bị giảm giá mạnh, do đó nếu ta so sánh một công ty
cũ đã mua sắm nhiều tài sản trong quá khứ với một công ty mới với các hoạt động
tương tự và mua sắm tài sản cố định với giá cao hơn, ta sẽ thấy công ty cũ có tỷ số
vòng quay tài sảm cao hơn.
1.5. Tỷ số vòng quay tổng tài sản (Assets Turnover Ratio- ATR)
Tỷ số này đo lường doanh thu trên tổng tài sản:
Tỷ số vòng quay tổng tài sản =
Nếu một công ty có tỷ số này thấp hơn trung bình ngành cho thấy rằng công ty chưa
tạo đủ doanh thu so với tổng tài sản. Doanh thu cần phải tăng thêm hay sẽ cần phải
thanh lý bớt một số lượng tài sản nhất định. Tỷ số này chính là cơ sở cho việc điều
chỉnh để quản lý hiệu quả hơn.
Sinh viên: Phạm Đình Thế Lớp: Toán Tài
Chính_K50
22 Chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
1.6. Ngày thu tiền bình quân (Days Sales Outstanding- DSO)
Ngày thu tiền bình quân hay kỳ thu tiền bình quân là tỷ số được dùng để thẩm định
khoản phải thu và được tính bằng cách chia khoản phải th cho doanh thu bình quân
ngày để tính được xem doanh thu bao nhiêu ngày liên quan đến khoản phải thu.
Ngày thu tiền bình quân =
Tỷ số này cho thấy trung bình công ty mất bao nhiêu ngày để thu được tiền tính từ
lúc bán hàng. Tỷ số này càng nhỏ càng tốt cho công ty.
1.7. Tỷ số nợ (Debt ratio- DR)
chi phí khấu hao cao. Để khắc phục nhược điểm này các nhược điểm này ta xem xét
tỷ số khả năng trả nợ, trong đó cho thấy toàn bộ các dòng tiền khả dụng có thể dùng
cho việc trả nợ trên tử số và toàn bộ các khoản chi trả tài chính dưới mẫu số. Tỷ số
này được xác định như sau:
Tỷ số khả năng trả nợ =
Lý do trên tử số vẫn còn xuất hiện khoản Thanh toán tiền thuê là vì khi tính
EBITDA thì khoản này đã được trừ ra do vậy khoản này đã khả dụng để đáp ứng
các chi phí tài chính của doanh nghiệp nên ta cần cộng ngược khoản thanh toán tiền
thuê này vào EBITDA.
Tỷ số này rất hữu ích cho các chủ nợ ngắn hạn như các ngân hàng ít khi cho vay
( ngoại trừ các khoản vay thế chấp bất động sản) dài hơn năm năm. Trong một
khoảng thời gian ngắn, nguồn khấu hao có thể được sử dụng để thanh toán nợ vay.
Trong thời gian dài hơn các khoản này được dùng tái đầu tư để duy trì nhà xưởng,
máy móc nếu không công ty sẽ không thể hoạt động tiếp tục trong ngành. Đó là lý
do tại sao các ngân hàng, các chủ nợ ngắn hạn thường quan tâm đến tỷ số khả năng
trả nợ còn các chủ nợ dài hạn thì quan tâm đến tỷ số khả năng thanh toán lãi vay.
1.10. Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu ( Profit margin on sales- PMOS)
Sinh viên: Phạm Đình Thế Lớp: Toán Tài
Chính_K50
24 Chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
Tỷ số này được tính bằng cách chia lãi ròng cho doanh thu, nó thể hiện có bao nhiêu
đồng lợi nhuận trên mỗi đồng doanh thu.
Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu =
Khi tỷ số này thấp hơn mức trung bình ngành có nhiều khả năng là do chi phí quá
cao, chi phí cao thường là do quản lý không hiệu quả. Bên cạnh đó tỷ số lợi nhuận
trên doanh thu thấp cũng có thể là do sử dụng quá nhiều nợ vay. Nhớ lại rằng lãi
ròng là lợi nhuận sau thuế. Do đó hai công ty cùng ngành, có cùng doanh thu, cùng
chi phí, cùng EBIT nhưng công ty nào sử dụng nhiều nợ vay hơn thì công ty đó sẽ
phải trả tiền lãi vay nhiều hơn, những khoản chi trả lãi vay làm giảm lãi ròng, và khi
hiện trình độ chuyên môn, kinh nghiệm của người lao động trong doanh nghiệp. Rõ
ràng một doanh nghiệp có tỷ số doanh thu trên lao động cao cho thấp doanh nghiệp
sử dụng lao động hiệu quả cao hơn và nó cũng cho ta thấy trình độ lao động của
doanh nghiệp này tốt hơn các doanh nghiệp khác cùng ngành.
Tỷ số doanh thu trên lao động =
2. CÁC YẾU TỐ ĐỊNH TÍNH
2.1. Ngành sản xuất kinh doanh(NKD)
Để có thể đưa các biến định tính cần phải lượng hóa được các biến này. Đối với
biến ngành sản xuất kinh doanh ta sẽ sử dụng thang đo Likert 5 mức độ tương ứng
với 5 ngành sản xuất kinh doanh chính mà theo đó khả năng trả nợ ngày càng tăng.
Theo đó:
Mức 1: Khả năng trả được nợ rất cao ứng với ngành Bán buôn- bán lẻ.
Mức 2: Khả năng trả được nợ cao ứng với ngành khai thác tài nguyên
Mức 3: Khả năng trả được nợ trung bình ứng với ngành sản xuất chế biến .
Sinh viên: Phạm Đình Thế Lớp: Toán Tài
Chính_K50