TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA TOÁN KINH TẾ
¬
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Đề tài:
PHÂN TÍCH RỦI RO TỶ GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
AGRIBANK
Giáo viên hướng dẫn: GS.TS NGUYỄN QUANG DONG
Sinh viên thực hiện : PHẠM THÀNH NHÂN
MSSV : CQ501946
Lớp : TOÁN TÀI CHÍNH 50
Hà Nội, 05-2012
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I 4
1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tỷ giá trong hoạt động kinh doanh
ngoại hối của ngân hàng 7
1.2. Ảnh hưởng của rủi ro tỷ giá tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại 9
1.3. Quản trị rủi ro tỷ giá trong ngân hàng thương mại 10
2.1.2. Hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Agribank 18
2.3.1. Bộ số liệu sử dụng 28
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TTNT : Trạng thái ngoại tệ
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHNN : Ngân hàng nhà nước
cầu của người dân cũng như các doanh nghiệp trong nước thì giờ đây, hoạt động đó
không chỉ dừng ở phạm vi trong nước, còn diễn ra đối với các khách hàng là người
dân cũng như các doanh nghiệp nước ngoài, và không chỉ dừng lại ở các hoạt động
Phạm Thành Nhân
Toán Tài chính 50
1
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
mua bán trước mặt. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã
dần xây dựng và phát triển các hình thức kinh doanh mới như các hợp đồng tương
lai Chính bởi sự phát triển của các hình thức kinh doanh, sự biến động bất ổn của
các nền kinh tế trên thế giới, đã kéo theo các hệ lụy trong hoạt động kinh doanh
ngoại tệ, đồng ngoại tệ bất ổn dẫn đến rủi ro với các hoạt động kinh doanh là lớn.
Thách thức đặt ra cho Ngân hàng là làm sao vừa có thể phát triển mở rộng các hoạt
động kinh doanh ngoại hối, vừa có thể giảm thiểu một cách tối đa các rủi ro mà các
hoạt động đó mang lại, chính là nâng cao hiệu quả kinh doanh. Sau một thời gian
thực tập ở phòng thanh toán quốc tế của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Việt Nam, chi nhánh Mỹ Đình, được sự giúp đỡ chỉ bảo của các anh chị trong
phòng, em đã tìm hiểu thêm được một phần về hoạt động kinh doanh ngoại hối,
bước đầu nhận định được những rủi ro tiềm năng của ngân hàng.
Đó cũng chính là lí do em lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Phân tích rủi ro tỷ
giá trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Agribank“
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về rủi ro tỷ giá và một số phương pháp dùng để đo lường rủi ro
tỷ giá. Áp dụng phân tích rủi ro tỷ giá trong hoạt động kinh doanh ngoại hối ở
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Agribank.
3. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng một số mô hình đã được học như mô hình VaR; mô hình hệ số
nhọn, hệ số bất đối xứng; mô hình hồi qui đơn; mô hình ARCH, GARCH để phân
LƯỜNG RỦI RO TỶ GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI
HỐI CỦA NGÂN HÀNG
1.1. Rủi ro tỷ giá trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng
1.1.1. Khái niệm về rủi ro tỷ giá
Khái niệm về rủi ro có thể hiểu một cách giản đơn là những kết cục có thể
xảy ra trong tương lai mà không thể lường trước được, cũng như không mong
muốn. Đối với từng lĩnh vực nghiên cứu, rủi ro được định nghĩa theo từng cách
khác nhau. Trong lĩnh vực quản trị rủi ro, thuật ngữ ‘Hiểm họa – Hazard’ được sử
dụng để phản ánh một sự kiện mà có thể gây ra một thiệt hại và thuật ngữ ‘Rủi ro –
Risk’ được hiểu đơn giản là xác suất để xảy ra một điều gì đó. Theo cách này, rủi ro
chỉ phát sinh khi có sự không chắc chắn về mất mát xảy ra. Điều này có nghĩa là,
đứng trước một quyết định hành động mà kết cục chắc chắn xảy ra mất mát thì
không phải là rủi ro. Một kết cục mất mát không chắc chắn tức là điều này có thể
xảy ra hoặc không, nhưng có tồn tại khả năng mất mát, gây thiệt hại cho người ra
quyết định hành động.
Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến, và nó xảy ra trong hầu hết
các lĩnh vực của xã hội. Tuy nhiên rất nhiều nhận định lại cho rằng “rủi ro là sự bất
chắc có thể đo lường được”. Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa
đặc biệt – hàng hóa tiền tệ, luôn chứa đựng nhiều rủi ro. Đối với ngân hàng, rủi ro
được hiểu là mối đe dọa tổn thất một phần vốn của mình và không đạt được thu
nhập hay đòi hỏi các khoản chi phí bổ sung để thực hiện các nghiệp vụ tài chính
nhất định.
Rủi ro tỷ giá là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu
khi tỷ giá thay đổi trong quá trình hoạt động kinh doanh ngoại tệ của mình. Như vậy
rủi ro tỷ giá là rủi ro xuất hiện khi có sự dịch chuyển tỷ giá của các ngoại tệ mà
ngân hàng NHTM nắm giữ dưới dạng tài sản “Có”, tài sản “Nợ” hoặc cả hai tức là
tạo trạng thái ngoại hối mở (open or unhedged position) để đầu cơ kiếm lời khi tỷ
giá thay đổi.
Phạm Thành Nhân
Toán Tài chính 50
)()()(
00
ttt
F
tSFCtLFC
NEP
FF
−−−=
Trong đó:
●
)(
0
t
tLFC
F
−
: Doanh số phát sinh trạng thái trường ngoại tệ F trong kì.
●
)(
0
t
tSFC
F
−
: Doanh số phát sinh trạng thái đoản ngoại tệ F trong kì.
Phạm Thành Nhân
Toán Tài chính 50
5
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
ngoại tệ cân bằng xảy ra khi doanh số các giao dịch làm tăng quyền sở hữu ngoại tệ
bằng với doanh số các giao dịch làm giảm quyền sở hữu ngoại tệ. Những thay đổi
của tỷ giá đều không ảnh hưởng đến lãi hay lỗ ngoại hối.
Trong thực tế, trạng thái ngoại tệ thường được tính tại thời điểm cuối của
mỗi ngày giao dịch, tức không tính riêng cho từng kì tính toán. Công thức tính trạng
thái ngoại tệ cuối ngày giao dịch (t):
)()()1()( tttt
F
SFCLFCNEP
NEP
FFF
−+−=
Trong đó:
●
)(t
F
NEP
: trạng thái ngoại tệ ròng cuối ngày giao dịch (t)
●
( 1)t
F
NEP
−
: trạng thái ngoại tệ ròng cuối ngày giao dịch (t-1)
●
)(t
LFC
F
: trạng thái dương của ngoại tệ F trong ngày giao dịch (t)
●
nhập của ngân hàng
Không ảnh hưởng tới thu
nhập của ngân hàng
Từ bảng trên có thấy được rằng tổn thất dự kiến của ngân hàng phụ thuộc vào
2 yếu tố: trạng thái ngoại hối và sự biến động của tỷ giá. Với việc ấn định các hạn
mức về trạng thái ngoại hối, ngân hàng đã kiểm soát được một phần rủi ro tỷ giá. Nếu
không duy trì trạng thái ngoại hối mở thì nhà kinh doanh sẽ không chịu rủi ro tỷ giá
hoặc duy trì trạng thái ngoại hối mở nhưng tỷ giá không biến động thì rủi ro tỷ giá
cũng không phát sinh. Tuy nhiên những ngân hàng lớn hoạt động đa dạng, năng động
trên thị trường quốc tế không chỉ kinh doanh ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu của khách
hàng mà còn tự kinh doanh cho bản thân ngân hàng để thu lợi nhuận (được gọi là
hoạt động tự doanh hay còn gọi là “đầu cơ”). Trong trường hợp này, rủi ro mà các
ngân hàng gặp phải là rất lớn. Các ngân hàng có những hoạt động tự doanh như trên
đòi hỏi phải có một cơ chế quản lý rủi ro một cách chi tiết, cụ thể và hợp lý, phù hợp
với mức độ rủi ro của bản thân ngân hàng.
1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tỷ giá trong hoạt động kinh doanh ngoại hối
của ngân hàng.
Hoạt động kinh doanh ngoại hối luôn mang theo rủi ro, và có rất nhiều
nguyên nhân khiến cho bản thân nó có rủi ro, ta có thể thấy được một vài nguyên
nhân chính:
Thứ nhất là: kiến thức được trang bị về nghiệp vụ chuyên môn để tiến hành
giao dịch cũng như đo lường rủi ro tỷ giá còn quá yếu, các kĩ năng về phân tích và
xử lí số liệu chưa phát triển, mới chỉ tập trung vào các hoạt động mua và bán ngoại
Phạm Thành Nhân
Toán Tài chính 50
7
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
hối để đáp ứng cung cầu của khách hàng mà quên rằng chính những hoạt động đó
luôn đi kèm rủi ro. Hiện tại ngân hàng mới chỉ đóng vai trò chủ yếu là trung gian tài
tỷ giá. Mặc dù ngân hàng Nhà nước đã quy định lại phương pháp xác định trạng
thái ngoại tệ theo quyết định 1081/2002/ QD- NHNN cho phù hợp với tình hình
Phạm Thành Nhân
Toán Tài chính 50
8
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
thực tế ở Việt Nam, tuy nhiên việc tính toán trạng thái ngoại tệ cuối tháng được tính
trên cơ sở số dư tại thời điểm cuối ngày làm việc cuối cùng chỉ xét đến trạng thái
ngoại tệ được hình thành do các giao dịch mua bán ngoại tệ của ngân hàng mà chưa
tính đến thu và chi phí trả lãi phát sinh từ các tài sản Có và Nợ sinh lời. Nếu các
khoản thu và chi này cộng dồn sẽ ảnh hưởng đến giá trị giữa trạng thái ngoại tệ thực
tế và trạng thái ngoại tệ báo cáo gây ra rủi ro.
Thứ năm là: cơ chế tỷ giá hiện nay chưa phản ánh đúng qui luật cung cầu
trên thị trường. Mặc dù thời gian qua ngân hàng Nhà nước đã xóa bỏ sự áp đặt chủ
quan trong việc thiết lập tỷ giá, khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá “chợ
đen” dần dần được thu hẹp. Tuy nhiên, diễn biến tỷ giá trong những năm qua còn
nhiều phức tạp. Từ tháng 2/1999, tỷ giá đã được xác định trên cơ sở tỷ giá bình
quân của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, nhưng trong thực tế ngân hàng Nhà
nước vẫn chưa thực hiện triệt để nguyên tắc này. Cơ chế điều hành tỷ giá còn qui
định biên độ mua bán làm cho việc yết giá của các ngân hàng thương mại bị cứng
nhắc, chưa phản ánh đúng cung cầu trên ngoại tệ trên thị trường.
Tóm lại, rủi ro tỷ giá xảy ra do 2 nguyên nhân chủ yếu sau:
- Nguyên nhân chủ quan: do trạng thái ngoại tệ không cân xứng, tức là có sự
chênh lệch giữa số lượng mua vào và bán ra của đồng tiền nước ngoài.
- Nguyên nhân khách quan: do sự biến động tỷ giá theo chiều hướng bất lợi
đối với ngân hàng. Nguyên nhân của sự biến động này là: cung-cầu ngoại tệ trên thị
trường, cán cân thanh toán quốc tế, chính sách thuế quan, tình hình kinh tế chính trị
mỗi nước, chênh lệch lãi suất đồng ngoại tệ và nội tệ.
1.2. Ảnh hưởng của rủi ro tỷ giá tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng
con dao hai lưỡi: chỉ cần một chút thay đổi trong chiến lược, loại hình hoạt động
kinh doanh này có thể đem lại cho nhà kinh doanh một khoản lợi nhuận kếch xù, và
cũng chỉ một chút thiếu chính xác cũng có thể gây ra thiệt hại to lớn, mà bản thân
nhà đầu tư cũng như các ngân hàng chưa thể lường trước được. Bởi chính nguyên
do đó, quản trị rủi ro tỷ giá luôn được các ngân hàng đưa lên mức quan tâm hàng
đầu bên cạnh hoạt động quản trị rủi ro tín dụng.
Quản trị rủi ro tỷ giá hối đoái được hiểu là sử dụng một cách hệ thống các
biện pháp kĩ thuật để đo lường mức độ rủi ro tỷ giá, phòng ngừa rủi ro, bảo hiểm rủi
ro.
Đo lường mức độ rủi ro tỷ giá là gồm những việc từ thu thập thông tin từ
hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng, thông tin sau đó sử dụng các thước
đo tiêu chuẩn để dánh giá mức độ rủi ro, dự báo biến động trong tương lai của tỷ giá
hối đoái cũng như hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đó, từ đó đưa ra kết
luận về mức độ rủi ro tỷ giá hối đoái.
Thông tin sử dụng ở đây bao gồm các thông tin nội bộ ngân hàng, các thông
tin từ thị trường ngoại hối, thị trường tiền tệ, từ các chính sách tiền tệ, chính sách
ngoại hối của ngân hàng Nhà nước, từ thị trường liên ngân hàng.
Phạm Thành Nhân
Toán Tài chính 50
10
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
Sau khi xác định mức độ rủi ro tỷ giá, Ngân hàng tiến hành áp dụng các kĩ
thuật phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng cách sử dụng các giao dịch trên thị trường ngoại
hối. Các giải pháp để kiểm soát rủi ro tỷ giá có thể chia làm 3 nhóm giải pháp sau:
- Giải pháp chiến lược: Giải pháp này phát sinh nghiệp vụ vốn có của hầu hết
các ngân hàng thương mại chính là hoạt động cho vay, hoạt động huy động vốn. Để
có thể áp dụng hiệu quả phương pháp này các nhà quản trị ngân hàng phải tiến hành
điểu chỉnh một cách chính xác các khoản cho vay và huy động vốn bằng ngoại tệ và
kết hợp một cách chính xác với sự biến động của thị trường trong nước cũng như thị
Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp hình thành trên cơ sở tiếp nhận từ Ngân
hàng Nhà nước: tất cả các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước huyện, Phòng Tín dụng
Nông nghiệp, quỹ tiết kiệm tại các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố.
Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp TW được hình thành trên cơ sở tiếp nhận Vụ Tín
dụng Nông nghiệp Ngân hàng Nhà nước và một số cán bộ của Vụ Tín dụng Thương
nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng, Vụ Kế toán và một số đơn vị.
Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính
phủ) ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thay
thế Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam. Ngân hàng Nông nghiệp là Ngân
hàng thương mại đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn,
là một pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt
động của mình trước pháp luật.
Ngày 01/03/1991, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 18/NH-
QĐ thành lập Văn phòng đại diện Ngân hàng Nông nghiệp tại Thành phố Hồ Chí
Minh và ngày 24/6/1994, Thống đốc có văn bản số 439/CV-TCCB chấp thuận cho
Ngân hàng nông nghiệp được thành lập văn phòng miền Trung tại Thành phố Quy
Nhơn - tỉnh Bình Định.
Ngày 22/12/1992, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số
603/NH-QĐ về việc thành lập chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp các tỉnh thành
phố trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp gồm có 3 Sở giao dịch (Sở giao dịch I tại
Hà Nội và Sở giao dịch II tại Văn phòng đại diện khu vực miền Nam và Sở giao
dịch 3 tại Văn phòng miền Trung) và 43 chi nhánh ngân hàng nông nghiệp tỉnh,
Phạm Thành Nhân
Toán Tài chính 50
12
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
thành phố. Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp quận, huyện, thị xã có 475 chi
nhánh.
Năm 1993, Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam ban hành quy chế thi đua
nghiệp Việt Nam tồn tại và phát triển mạnh. Tới tháng 09/2002, dư nợ đã lên tới
Phạm Thành Nhân
Toán Tài chính 50
13
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
6.694 tỷ, có uy tín cả trong và ngoài nước, được các Tổ chức quốc tế đánh giá cao
và đặc biệt được mọi tầng lớn nhân dân ửng hộ, quý trọng. Chính vì những kết quả
như vậy, ngày 04/10/2002, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số
131/2002/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội trên cơ sở Ngân hàng
Phục vụ Người nghèo - Từ 01/01/2003 Ngân hàng Phục vụ Người nghèo đã chuyển
thành ngân hàng Chính sách xã hội. Ngân hàng Nông nghiệp chính là người đề xuất
thành lập, thực hiện và bảo trợ Ngân hàng phục vụ người nghèo tiền thân của Ngân
hàng chính sách xã hội - Đây là một niềm tự hào to lớn của Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xoá đói giảm
nghèo.
Ngày 15/11/1996, được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam ký Quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng
Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt
Nam.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoạt động theo mô hình
Tổng công ty 90, là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, hoạt động theo Luật các
tổ chức tín dụng và chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Với tên gọi mới, ngoài chức năng của một ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn được xác định thêm nhiệm vụ đầu tư phát triển đối
với khu vực nông thôn thông qua việc mở rộng đầu tư vốn trung, dài hạn để xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy hải sản góp phần
thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông
thôn.
Trong năm 1998, NHNo đã tập trung nâng cao chất lượng tín dụng, xử lý nợ
máy rút tiền tự động ATM trong toàn hệ thống. Tiến hành đổi mới toàn diện mô
hình tổ chức, mạng lưới kinh doanh theo hướng tinh giảm trung gian, tăng năng lực
cho các đơn vị trực tiếp kinh doanh., Đổi mới công tác quản trị điều hành, quy trình
nghiệp vụ theo hướng đơn giản hoá các thủ tục tạo điều kiện thuận lợi cho khách
hàng., Tập trung mọi nguồn lực đào tạo cán bộ nhân viên theo hướng chuyên môn
hoá., tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, hiện đại hoá công nghệ.
Năm 2001 là năm đầu tiên NHNo triển khai thực hiện đề án tái cơ cấu với
các nội dung chính sách là cơ cấu lại nợ, lành mạnh hoá tài chính, nâng cao chất
lượng tài sản có, chuyển đổi hệ thống kế toán hiện hành theo chuẩn mực quốc tế,
đổi mới sắp xếp lại bộ máy tổ chức theo mô hình NHTM, hiện đại tăng cường đào
tạo và đào tạo lại cán bộ tập trung đổi mới công nghệ ngân hàng, xây dựng hệ thống
thông tin quản lý hiện đại.
Bên cạnh mở rộng kinh doanh trên thị trường trong nước, năm 2002, NHNo
tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế. Đến cuối năm 2002, NHNo là thành
viên của APRACA, CICA và ABA, trong đó Tổng Giám đốc NHNo là thành viên
chính thức Ban điều hành của APRACA và CICA
Năm 2003 NHNo và PTNTVN đã đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án Tái cơ
cấu nhằm đưa hoạt động của NHNo&PTNT VN phát triển với quy mô lớn chất
Phạm Thành Nhân
Toán Tài chính 50
15
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
lượng hiệu quả cao. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong thời kỳ đổi mới,
đóng góp tích cực và rất có hiệu quả vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất
nước, sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn, Chủ tịch
nước CHXHCNVN đã ký quyết định số 226/2003/QD/CTN ngày 07/05/2003 phong
tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới cho Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Việt Nam.
Tính đến năm 2004, sau 4 năm triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu giai
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
là người bạn đồng hành thủy chung tin cậy của 10 triệu hộ gia đình; đẩy mạnh tái cơ
cấu ngân hàng, giải quyết triệt để vấn đề nợ xấu, đạt hệ số an toàn vốn theo tiêu
chuẩn quốc tế, phát triển hệ thống công nghệ thông tin, đa dạng hóa sản phẩm, nâng
cao chất lượng dịch vụ, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, đảm bảo các lợi
ích của người lao động và phát triển thương hiệu- văn hóa Agribank. Trên nền tảng
công nghệ thông tin hiện đại và nhận thức rõ vai trò của các sản phẩm dịch vụ ngoài
tín dụng truyền thống, năm 2009 Agribank chú trọng giới thiệu và phát triển các sản
phẩm, dịch vụ ngân hàng tiện ích tiên tiến, điển hình là các dịch vụ Mobile Banking
như: SMS Banking, VnTopup, ATransfer, Apaybill, VnMart; kết nối thanh toán với
Kho bạc, Hải quan trong việc phối hợp thu ngân sách; phát hành được trên 4 triệu
thẻ các loại.
2009 cũng là năm Agribank ưu tiên và chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của cạnh tranh và hội nhập, triển khai thành công
mô hình đào tạo trực tuyến; tuyển thêm trên 2000 cán bộ trẻ, được đào tạo căn bản,
có ngoại ngữ và tin học nhằm chuẩn bị nguồn lực cho các năm tiếp theo.
Đến cuối năm 2009, tổng tài sản của Agribank đạt xấp xỉ 470.000 tỷ đồng, tăng
22% so với năm 2008; tổng nguồn vốn đạt 434.331 tỷ đồng, tổng dư nợ nền kinh tế
đạt 354.112 tỷ đồng, trong đó cho vay nông nghiệp nông thôn đạt 242.062 tỷ đồng.
Năm 2009, Agribank vinh dự được đón Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tới
thăm và làm việc vào đúng dịp kỷ niệm 21 năm ngày thành lập (26/3/1988 -
26/3/2009); vinh dự được Đảng, Nhà nước, Chính phủ, ngành ngân hàng, nhiều tổ
chức uy tín trên thế giới trao tặng các bằng khen cùng nhiều phần thưởng cao quý:
TOP 10 giải SAO VÀNG ĐẤT VIỆT, TOP 10 Thương hiệu Việt Nam uy tín nhất,
danh hiệu “DOANH NGHIỆP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG” do Bộ Công thương
công nhận, TOP 10 Doanh nghiệp Việt Nam theo xếp hạng của VNR500.
Năm 2010, Agribank là Top 10 trong 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam.
Thực thi Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và triển khai Nghị định số
59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng thương mại,
định chế tài chính được phép hoạt động kinh doanh ngoại hối.
b) Giao dịch ngoại tệ kì hạn:
Giao dịch ngoại tệ kỳ hạn là thỏa thuận giữa Agribank với định chế tài
chính về việc trao đổi một số lượng xác định một đồng tiền để lấy một đồng
tiền khác tại một tỷ giá xác định tại ngày giao dịch và ngày giá trị là một
ngày xác định trong tương lai với các nội dung: đối tác giao dịch, loại ngoại
tệ, số lượng, tỷ giá, ngày giao dịch kì hạn, ngày hiệu lực, chỉ dẫn thanh toán.
c) Hoán đổi ngoại tệ:
Hoán đổi ngoại tệ bao gồm 2 giao dịch ngoại hối được thực hiện đồng
thời. Trong đó, một giao dịch mua/bán 01 cặp ngoại hối cho một kỳ hạn nhất
định, một giao dịch bán/mua cặp ngoại hối đó cho một kỳ hạn khác. Hai bên
xác nhận đầy đủ các yếu tố: đối tượng giao dịch, loại ngoại tệ giao dịch, số
lượng, tỷ giá, ngày hiệu lực, chỉ dẫn thanh toán. Dịch vụ áp dụng đối với quý
khách hàng định chế tài chính được phép hoạt động ngoại hối.
Phạm Thành Nhân
Toán Tài chính 50
18
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
Ứng dụng
- Tạo nguồn vốn, tăng tính thanh khoản cho hệ thống của ngân hàng.
- Cân bằng trạng thái ngoại hối kỳ hạn.
- Kéo dài thời hạn hợp đồng kỳ hạn.
- Đầu cơ chênh lệch lãi suất.
2.2. Một số mô hình lí thuyết dùng để phân tích rủi ro tỷ giá trong hoạt động
kinh doanh ngoại hối
Ngân hàng thương mại tham gia thị trường ngoại hối với hai mục đích chính:
Thứ nhất là cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Thứ hai là tạo trạng thái mở để đầu
cơ kiếm lãi hay còn gọi là tự doanh cho ngân hàng. Rủi ro tỷ giá là một trong những
rủi ro thị trường chính trong hoạt động của ngân hàng. Tùy thuộc vào qui mô hoạt
tF )(
là tỷ giá giao ngay của ngoại tệ F so với đồng nội tệ (VND) tại thời
điểm t
- Lợi suất của tỷ giá ngoại tệ F so với VND được tính theo công thức:
)ln(
)1(
)(
)(
S
S
X
tF
tF
tF
−
=
2.2.1 Mô hình dựa vào hệ số nhọn và hệ số bất đối xứng
2.2.1.1 Xây dựng mô hình
Ta có chuỗi lợi suất tỷ giá là
x
tF )(
với t = 1 đến 36. Khi đó giá trị trung bình,
phương sai, tính lệch và độ nhọn được xác định như sau:
)(xE=
µ
).(
2
XVar=
σ
2
−−=
−=
Xh
Xh
Cả h
1
và h
2
là không trực giao với nhau. Chúng ta tuân theo một trình tự trực
giao hoá của Doob (1953) để xác định hàm ước lượng trực giao với h
1
)()(
1
22
3
µσγσµ
−−−−=
XXh
Sau đó chúng ta cần tìm một tổ hợp tuyến tính tối ưu của hàm ước lượng h
1
và h
3
như sau:
31
hhl
βα
µ
+=
Godambe và Thomson (1989) đã chỉ ra rằng các hệ số tối ưu α và β dựa trên
lý thuyết của những hàm ước lượng nhất định được trình bày dưới đây:
.
)(
2
11
4
1
2
3
3
*
γγσ
σλ
µ
β
−+
=
∂
∂
=
hE
h
E
là giá trị tới hạn tương ứng với độ tin cậy mức ý nghĩa α.
Ví dụ: Nếu α = 0,05; C
α
= 1,96. Từ bất đẳng thức (1.2), nếu tất cả mômen là
đã biết (X
L
< X < X
U
), chúng ta có thể tính khoảng tin cậy đối với X. Với phép đạo
hàm toán học nhiều lần, ta có kết quả sau đây:
( )
( )
σ
γ
γγγ
γ
γ
γ
γ
µ
α
2
1
22
4
22
1
2
122
2
(1.3)
( )
( )
σ
γ
γγγ
γ
γ
γ
γ
µ
α
2
1
22
4
22
1
2
122
2
1
2
1
2
2
*
σ
µ
µ
−
−=
X
l
Và:
( )
σ
µ
µ
µ
−
=
X
lVar
l
*
*
Trong trường hợp cách tiếp cận gần đúng dẫn đến một khoảng tin cậy tương
tự được xây dựng dưới giả định của phân phối chuẩn.
Phạm Thành Nhân
Toán Tài chính 50
21