Thực trạng và giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Yên Bái giai đoạn 2006-2010 - Pdf 25

Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
MỤC LỤC
Hoàng Thị Thanh Huyền Lớp: Kế hoạch 49A
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
FDI: Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
ĐTNN: Đầu tư nước ngoài
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
Hoàng Thị Thanh Huyền Lớp: Kế hoạch 49A
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
LỜI MỞ ĐẦU
Cho đến nay, Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được nhìn nhận như là một
trọng những “trụ cột” tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Vai trò của FDI được thể
hiện rất rõ qua việc đóng góp vào các yếu tố quan trọng của tăng trưởng như bổ
sung nguồn vốn đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, chuyển giao công nghệ, phát triển
nguồn nhân lực và tạo việc làm,…Ngoài ra, FDI cũng đóng góp tích cực vào tạo
nguồn thu ngân sách và thúc đẩy Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế
giới. Nhờ có sự đóng góp quan trọng của FDI mà Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao trong nhiều năm qua và được biết đến là quốc gia phát triển năng
động, đổi mới, thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế.
Yên Bái là một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản và tiềm năng về du lịch
phong phú, nhưng sự khai thác và đầu tư trên địa bàn thực sự chưa tương xứng. Do
đó, em lựa chọn đề tài :”Thực trạng và giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào tỉnh Yên Bái giai đoạn 2006-2010” để làm rõ hơn thực trạng
nguồn vốn FDI tại tỉnh giai đoạn 2006-2010 và đưa ra định hướng thu hút FDI cho
những năm tiếp sau.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của TS Vũ Thị Tuyết Mai – Giảng viên
Khoa Kế hoạch và Phát triển đã tận tình chỉ bảo giúp em hoàn thành đề tài này.
Hoàng Thị Thanh Huyền Lớp: Kế hoạch 49A
3
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai

với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh
hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: Thành lập hoặc mở
Hoàng Thị Thanh Huyền Lớp: Kế hoạch 49A
4
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu
tư; Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; Tham gia vào một doanh nghiệp mới; Cấp
tín dụng dài hạn (trên 5 năm); Quyền kiểm soát, nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc
quyền biểu quyết trở lên.
Theo Luật đầu tư nước ngoài năm 2005: FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư
nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc
nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước
ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Tóm lại có thể hiểu Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign Direct
Investment) là một khoản đầu tư đòi hỏi một mối quan tâm lâu dài và phản ánh lợi
ích dài hạn và quyền kiểm soát (control) của một chủ thể cư trú ở một nền kinh tế
(được gọi là chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) trong một
doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác nền kinh tế của chủ đầu tư nước ngoài
(được gọi là doanh nghiệp FDI hay doanh nghiệp chi nhánh hay chi nhánh nước
ngoài). FDI chỉ ra rằng chủ đầu tư phải có một mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với
việc quản lý doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác. Tiếng nói hiệu quả trong
quản lý phải đi kèm với một mức sở hữu cổ phần nhất định thì mới được coi là FDI.
1.1.2 Bản chất của FDI
Bất cứ hoạt động nào của nền kinh tế thế giới nói riêng, và của tất cả các sự
vật hiện tượng trên trái đất nói chung đều có bản chất riêng của nó. Bản chất là
thuộc tính căn bản, ổn định vốn có bên trong của sự vật hiện tượng. Qua quá trình
hình thành và nghiên cứu, chúng ta đều có thể thấy được bản chất của sự vật hiện
tượng. Hoạt động FDI cũng vậy, qua nghiên cứu chúng ta rút ra : Bản chất của FDI
là sự lan tỏa tư bản hậu công nghiệp vượt qua giới hạn không gian và thời gian và tư
bản hậu công nghiệp chèn ép các tư bản cũ, buộc chúng phải tìm không gian mới để

của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia dựa vào tỷ lệ này.
- Thu nhập của chủ đầu tư được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp mà họ bỏ ra vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không
phải lợi tức.
- Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu
trách nhiệm về lỗ lãi. Nhà đầu tư nước ngoài được quyền lựa chọn lĩnh vực đầu tư,
hình thức đầu tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư cũng như công nghệ cho mình,
do đó sẽ tự đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ.
- FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư.
Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận công nghệ, kĩ thuật tiên
tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý.
1.3 Phân loại FDI
Hoạt động FDI diễn ra với nhiều hình thức đa dạng, mỗi hình thức có một ưu
thế và đặc điểm riêng. Mỗi một hình thức của hoạt động FDI lại khiến cho nhà đầu
tư và nước nhận được FDI những lợi ích và những thiệt hại riêng tùy theo đặc điểm
Hoàng Thị Thanh Huyền Lớp: Kế hoạch 49A
6
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
cụ thể của hình thức đầu tư. Chính vì vậy chúng ta cần phân loại hoạt động FDI để
hiểu rõ những tác động của nó đối với nền kinh tế, dựa vào đó để nâng cao lợi ích
và kiềm chế sự thiệt hại của các nguồn tài nguyên. Theo xu thế trên thế giới hiện
nay, hoạt động FDI được phân chia như sau:
• Phân loại theo dạng:
- Đầu tư mới ( Greenfield Investment )
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài được sử dụng để xây dựng các doanh
nghiệp mới hoặc phát triển thêm các doanh nghiệp có sẵn trong nước. Đây là
phương thức các quốc gia nhận FDI thích nhất vì tạo được thêm công ăn việc làm
cho người trong nước, nâng cao sản lượng, chuyển giao kỹ thuật cao cấp, đồng thời
tạo ra được mối liên hệ trao đổi với thị trường thế giới.
Những mặt yếu của đầu tư mới là có thể “bóp nghẹt” sản xuất trong nước vì

nước làm ra ( forward vertical FDI ).
• Phân loại theo mục đích
- Tìm tài nguyên và lao động rẻ tiền
Đây là dạng FDI tiêu biểu nhất nhằm vào các quốc gia đang phát triển như
Trung Đông, Châu Phi, Đông Âu và các nước Đông Nam Á mà Việt Nam là một
trong những mục tiêu quan trọng.
Tài nguyên thiên nhiên và lao động rẻ tiền là những “mặt hàng” các công ty
nước ngoài rất “mê” ở các quốc gia đang phát triển với mức sinh hoạt còn thấp.
- Tìm thị trường tiêu thụ
Là những đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm vào việc mở rộng thị trường tiêu
thụ sản phẩm của công ty chủ quản. Điển hình nhất là đầu tư FDI của công ty Coca-
Cola và Pepsi-Cola vào Trung Quốc, Ấn Độ hay Việt Nam.
- Tìm hiệu quả kinh doanh
Đây là một dạng FDI thường thấy ở các quốc gia đã phát triển, chẳng hạn như
trong cộng đồng các quốc gia Châu Âu. Lúc này, nguồn đầu tư FDI nhằm nâng cao
hiệu quả kinh tế và trao đổi khoa học kỹ thuật lẫn nhau.
2. Hình thức FDI ở Việt Nam
- Hình thức doanh nghiệp liên doanh: Doanh nghiệp liên doanh là doanh
nghiệp được thành lập giữa một bên là một thành viên của nước nhận đầu tư với
một bên là các chủ đầu tư ở nước khác tham gia. Một doanh nghiệp liên doanh có
thể gồm hai hoặc nhiều bên tham gia liên doanh.
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: là doanh nghiệp thuộc sở hữu
của Nhà đầu tư nước ngoài do Nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự
quản lí và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp 100%vốn đầu
tư nước ngoài đã được thành lập tại Việt Nam được hợp tác với nhau và/hoặc với
nhà đầu tư nước ngoài để thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài mới
Hoàng Thị Thanh Huyền Lớp: Kế hoạch 49A
8
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
tại Việt Nam. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình

Các hình thức thu hút FDI tốt nhất bao gồm những chính sách khung, giúp
tăng cường khả năng sản xuất của nền kinh tế quốc gia hay địa phương, cải thiện
Hoàng Thị Thanh Huyền Lớp: Kế hoạch 49A
9
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
hiệu quả làm việc của chính quyền, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, cũng như tăng
cường khả năng sáng tạo.
Chính sách công khuyến khích tăng năng suất và tăng trưởng kinh tế thực có
sức thu hút đối với đầu tư nước ngoài. Các chính sách này bao gồm một chế độ
pháp lý và quy định minh bạch, đáng tin cậy; lực lượng lao động chuyên môn, lành
nghề; cơ sở hạ tầng giao thông và viễn thông tốt và một môi trường khuyến khích
sáng tạo. Việc nâng cấp đường sá và các cảng biển kể cả các cửa khẩu biên giới trên
bộ cùng với việc nhấn mạnh hơn nữa vào giáo dục khoa học và kỹ thuật tại các
trường phổ thông công lập có thể cải thiện sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước
ngoài. Cụ thể những chính sách ưu tiên để thu hút FDI đuợc thể hiện khá cụ thể qua
phần “Nhân tố tác động đến thu hút FDI vào Việt Nam” dưới đây.
3.2 Nhân tố tác động đến thu hút FDI vào Việt Nam
3.2.1 Sự ổn định về kinh tế và chính trị - xã hội và luật pháp đầu tư
Một đất nước hay chế độ xã hội nào mà nền kinh tế không ổn định sẽ không
là miền đất hứa cho các nhà đầu tư, vì do không ổn định nên vốn đầu tư sẽ không
được sử dụng như đúng mục đích của nhà đầu tư, lợi ích thu về có thể ít hoặc dẫn
đến thua lỗ. Nếu chính trị và xã hội không ổn định, điều này dẫn đến sự e ngại của
các nhà đầu tư khi quyết định cấp vốn đầu tư. Vì bất ổn chính trị xã hội có thể dẫn
đến sự thay đổi về bộ máy cầm quyền, lúc đấy nguồn vốn của các nhà đầu tư sẽ ra
sao, liệu chính phủ mới hay chế độ cầm quyền mới có tạo những điều kiện tốt cho
nhà đầu tư hay ngược lại. Sự mất ổn định như vậy là điều không một nhà đầu tư nào
mong đợi. Còn về luật pháp, nếu luật pháp của nước nhận đầu tư minh bạch, rõ rang
và quan trọng là có những điều kiện thuận lợi ủng hộ và khuyến khích FDI, thì sẽ
thu hút được các nhà đầu tư. Vì vậy sự ổn định về kinh tế và chính trị - xã hội và
luật pháp đầu tư là điều kiện tiên quyết nhằm giảm thiểu những rủi ro kinh tế chính

các chính sách thích hợp nhất, thông thoáng nhất mức có thể nhưng vẫn bảo vệ
được tối đa các nguồn lực của đất nước.
Chính sách thương mại cần thông thoáng theo hướng tự do hóa để bảo đảm
khả năng xuất - nhập khẩu các máy móc thiết bị, nguyên liệu sản xuất, cũng như sản
phẩm, tức bảo đảm sự thuận lợi, kết nối liên tục các công đoạn hoạt động đầu tư của
các nhà ĐTNN.
Chính sách tiền tệ phải giải quyết được các vấn đề chống lạm phát và ổn định
tiền tệ. Chính sách lãi suất và tỷ giá tác động trực tiếp đến dòng chảy của FDI với tư
cách là những yếu tố quyết định giá trị đầu tư và mức lợi nhuận thu được tại một thị
trường xác định. Việc xem xét sự vận động của vốn nước ngoài ở các nước trên thế
giới cho thấy, dòng vốn đầu tư dài hạn, nhất là FDI đổ vào một nước thường tỷ lệ
thuận với sự gia tăng lòng tin của các chủ đầu tư, đồng thời lại tỷ lệ nghịch với độ
chênh lệch lãi suất trong - ngoài nước, trong - ngoài khu vực. Nếu độ chênh lệch lãi
suất đó càng cao, tư bản nước ngoài càng ưa đầu tư theo kiểu cho vay ngắn hạn, ít
chịu rủi ro và hưởng lãi ngay trên chỉ số chênh lệch lãi đó. Hơn nữa, khi mức lãi
suất trong nước cao hơn mức lãi suất quốc tế, thì sức hút với dòng vốn chảy vào
Hoàng Thị Thanh Huyền Lớp: Kế hoạch 49A
11
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
càng mạnh. Tuy nhiên, đồng nghĩa với lãi suất cao là chi phí trong đầu tư cao, làm
giảm đi lợi nhuận của các nhà đầu tư. Một tỷ giá hối đoái linh hoạt, phù hợp với
tình hình phát triển kinh tế ở từng giai đoạn thì khả năng thu lợi nhuận từ xuất khẩu
càng lớn, sức hấp dẫn với vốn nước ngoài càng lớn. Một nước có mức tăng trưởng
xuất khẩu cao sẽ làm yên lòng các nhà đầu tư vì khả năng trả nợ của nước đó được
bảo đảm hơn, độ mạo hiểm trong đầu tư sẽ giảm xuống. Các mức ưu đãi tài chính -
tiền tệ dành cho vốn ĐTNN trước hết phải bảo đảm cho các chủ đầu tư tìm kiếm
được lợi nhuận cao nhất trong điều kiện kinh doanh chung của khu vực, của mỗi
nước để khuyến khích họ đầu tư vào trong nước và vào những nơi mà Chính phủ
muốn khuyến khích đầu tư. Những ưu đãi về thuế chiếm vị trí quan trọng hàng đầu
trong số các ưu đãi tài chính giành cho ĐTNN. Mức ưu đãi thuế cao hơn luôn được

các quyết định và triển khai trên thực tế các dự án đầu tư đã cam kết. Một tổng thể
hạ tầng phát triển phải bao gồm một hệ thống giao thông vận tải đồng bộ và hiện đại
với các cầu, cảng, đường sá, kho bãi và các phương tiện vận tải đủ sức bao phủ
quốc gia và đủ tầm hoạt động quốc tế; một hệ thống bưu điện thông tin liên lạc viễn
thông với các phương tiện nghe - nhìn hiện đại, có thể nối mạng thống nhất toàn
quốc và liên thông với toàn cầu; hệ thống điện nước dồi dào và phân bổ tiện lợi cho
các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đời sống và một hệ thống mạng lưới
cung cấp các loại dịch vụ khác (y tế, giáo dục, giải trí, các dịch vụ hải quan, tài
chính, thương mại, quảng cáo, kỹ thuật, v.v ) phát triển rộng khắp, đa dạng và có
chất lượng cao. Tóm lại, hệ thống kết cấu hạ tầng đó phải giúp cho các chủ ĐTNN
tiện nghi và sự thoải mái dễ chịu như ở nhà họ, và giúp họ giảm được chi phí sản
xuất về giao thông vận tải, trong khi không hề bị cản trở trong việc duy trì và phát
triển các quan hệ làm ăn bình thường với các đối tác của họ trong cả nước, cũng
như khắp toàn cầu. Trong các điều kiện và chính sách hạ tầng phục vụ FDI, chính
sách đất đai và bất động sản có sức chi phối mạnh mẽ đến luồng FDI đổ vào một
nước. Càng tạo cho các chủ ĐTNN sự an tâm về sở hữu và quyền chủ động định
đoạt sử dụng mua bán đất đai, bất động sản mà họ có được bằng nguồn vốn đầu tư
của mình như một đối tượng kinh doanh thì họ càng mở rộng hầu bao đầu tư lớn và
lâu dài hơn vào các dự án trên lãnh thổ nước và địa phương tiếp nhận đầu tư. Dịch
vụ thông tin và tư vấn đầu tư đóng vai trò rất quan trọng đối với cả những nước thu
hút vốn nước ngoài lẫn đối với các chủ ĐTNN. Nội dung hoạt động dịch vụ này rất
phong phú và ngày càng mở rộng, bao gồm từ việc cung cấp thông tin cập nhật, có
hệ thống, đáng tin cậy về môi trường đầu tư của cả nước và địa phương tiếp nhận
đầu tư cũng như về các chủ ĐTNN cho các đối tác tiềm năng rộng rãi trong nước và
trên toàn thế giới (trong đó các chủ đầu tư lớn luôn được chú ý săn sóc đặc biệt); hỗ
trợ các đối tác đầu tư trong và ngoài nước tiếp xúc và lựa chọn các đối tác thích
hợp, tin cậy; đến giúp đỡ các bên làm thủ tục ký kết các hợp đồng kinh doanh,
thành lập các liên doanh, cả các dịch vụ tư vấn kỹ thuật và thông tin cần thiết khác
liên quan đến đánh giá các quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh. Việc phát
triển hệ thống cơ sở hạ tầng không chỉ là điều kiện cần để khai tăng sự hấp dẫn của

hành chính hiệu quả quyết định sự thành công không chỉ thu hút vốn nước ngoài mà
còn của toàn bộ quá trình huy động, sử dụng vốn cho đầu tư phát triển của mỗi quốc
gia cũng như mỗi địa phương. Bộ máy đó phải thống nhất, gọn nhẹ, sáng suốt và
nhạy bén về chính sách, với những thủ tục hành chính, những qui định pháp lý có
tính chất tối thiểu, đơn giản, công khai và nhất quán, được thực hiện bởi những con
người có trình độ chuyên môn cao, được giáo dục tốt và có kỷ luật, tôn trọng pháp
luật. Vì mục tiêu của FDI là nhằm thu lợi nhuận cao, do vậy, nếu các dự án FDI đã
Hoàng Thị Thanh Huyền Lớp: Kế hoạch 49A
14
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
được triển khai đạt kết quả tỷ suất lợi nhuận cao sẽ khuyến khích và củng cố niềm
tin cho các nhà ĐTNN tiếp tục đầu tư để tái sản xuất mở rộng, đồng thời nêu gương
có sức thuyết phục các nhà ĐTNN khác yên tâm bỏ vốn. Điều này sẽ giúp cho
nguồn vốn FDI tiếp tục tăng. Ngược lại lỗ sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư.
Tóm lại FDI đã, đang và sẽ tìm đến quốc gia và địa phương nào có được 5 yếu
tố nêu trên. Đặc biệt, việc quốc gia đó tham gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và
quốc tế, cũng như tuân thủ nghiêm túc các công ước, qui định về luật pháp đầu tư
và thông lệ đối xử quốc tế sẽ là những yếu tố đảm bảo lòng tin và hấp dẫn các
dòng FDI thậm chí còn mạnh hơn việc đưa ra các ưu đãi tài chính cao nghĩa là
dòng FDI chỉ ưa tìm đến những nơi đầu tư an toàn, đồng vốn được sử dụng có hiệu
quả, quay vòng nhanh và ít rủi ro.
4. Vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế
xã hội và sự cần thiết khách quan phải thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào tỉnh Yên Bái
4.1 Vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng kinh
tế xã hội nước ta
4.1.1 Những mặt tích cực
• Về kinh tế:
- Bổ sung cho nguồn vốn trong nước: một nền kinh tế tăng trưởng nhanh thì
phải cần nhiều vốn, nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ thu hút vốn từ

đẩy chủ động hội nhập kinh tế thế giới, đẩy nhanh tiến trình tự do hóa
thương mại và đầu tư.
• Về mặt môi trường
Tại Việt Nam, nhìn chung các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tuân thủ các tiêu
chuẩn môi trường Việt Nam và có kết quả môi trường tốt hơn so với số đông các
doanh nghiệp trong nước, vì họ có khả năng tài chính và khả năng tiếp cận với các
kỹ năng quản lý môi trường. ĐTNN đã tác động tích cực tới kêt quả môi trường của
bạn hàng cung cấp đầu vào và các công ty vệ tinh thông qua việc hỗ trợ, tư vấn về
hệ thống quản lý môi trường hoặc các giải pháp xử lý môi trường. thông qua các đối
tác lien doanh, các đối tác Việt Nam có thể học hỏi, được hỗ trợ và tư vấn để cải
thiện kết quả môi trường. doanh nghiệp có vốn ĐTNN có thể trở thành những “mô
hình mẫu” giới thiệu những kiến thức quản lý môi trường hiện đại vào Việt Nam
cùng tinh thần sản xuất kinh doanh thân thiện với môi trường, đồng thời tạo áp lực
để các doanh nghiệp trong nước cải thiện kết quả môi trường của mình. ĐTNN góp
phần tạo điều kiện để sử dụng công nghệ sạch, bảo đảm các tiêu chuẩn về môi
trường nhằm giảm ô nhiễm. ĐTNN tạo điều kiện làm cho nguồn nhân lực trong
nước như đất đai, lao động, tài nguyên… được khai thác và sử dụng có hiệu quả
hơn.
Hoàng Thị Thanh Huyền Lớp: Kế hoạch 49A
16
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
4.1.2 Những mặt hạn chế
Tuy đạt được kết quả quan trọng nhưng hoạt động FDI tại Việt Nam còn
những mặt hạn chế như kết quả thu hút ĐTNN chưa tương xứng với tiềm năng của
đất nước và yêu cầu của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Vốn FDI thực hiện tuy
đã tăng dần qua từng năm nhưng nhìn chung việc giải ngân vốn này vẫn còn chậm,
tỷ lệ vốn thực hiện trên tổng vốn đăng ký còn thấp, đặc biệt là trong hai năm trở lại
đây khi “làn song đầu tư thứ hai” đang vào Việt Nam; chưa thu hút được nhiều đầu
tư từ các nước công nghiệp phát triển, công nghệ nguồn; phần lớn vốn ĐTNN vào
Việt Nam là từ các nước châu Á; đầu tư từ Hoa Kỳ và các nước EU tuy có tăng

hóa, mở ra nhiều ngành nghề và sản phẩm mới; góp phần nâng cao năng lực quản lý
và chuyển giao công nghệ tiên tiến trên thế giới; mở rộng thị trường xuất khẩu và
tạo them nhiều việc làm mới và là một bộ phận không thể thiếu được của nền kinh
tế.
Thực tiễn trong những năm qua đã chỉ rõ đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh
Yên Bái cũng đã có những đóng góp cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Để góp
phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất, giải quyết công
ăn việc làm cho người lao động ở địa phương. Một trong những kết quả quan trọng
mà đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đem lại là tỉnh Yên Bái tiếp nhận được các kỹ
thuật tiên tiến trong một số ngành kinh tế. Đồng thời việc tăng cường thu hút đầu tư
nước ngoài hướng về xuất khẩu đã tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp
trong tỉnh tiếp cận và mở rộng thị trường quốc tế, nâng cao năng lực xuất khẩu của
địa phương. Thực tế trong những năm qua đã chỉ rõ đầu tư nước ngoài đã có những
đóng góp cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh song chưa nhiều. Do đó cần tăng
cường thu hút đầu tư nước ngoài để giải quyết công ăn việc làm cho người lao
động, tiếp nhận được các kỹ thuật tiên tiến, nâng cao năng lực sản xuất của địa
phương.
Hoàng Thị Thanh Huyền Lớp: Kế hoạch 49A
18
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN FDI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH YÊN BÁI
1. Khái quát về tỉnh Yên Bái
Yên Bái là một tỉnh miền núi mới được thành lập lại từ tháng 10/1991 ( được
tách ra từ tỉnh Hoàng Liên Sơn cũ ), cách thủ đo Hà Nội gần 200km về phía Tây
Bắc. Phía Bắc giáp tỉnh Lào Cai, Nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía đông giáp tỉnh
Tuyên Quang và phía tây giáp tỉnh Sơn La. Tổng chiều dài ranh giới giáp các tỉnh là
710km, trong đó giáp Lào Cai 252km, giáp Sơn La 205 km.
1.1 Đặc điểm tự nhiên.
- Khí hậu: Khí hậu tỉnh Yên Bái có thể chia thành hai vùng khí hậu lớn, song

đó diện tích nhóm đất nông nghiệp là 549.104,31 ha, chiếm 79,59% diện tích đất tự
nhiên; diện tích nhóm đất phi nông nghiệp là 47.906,46 ha chiếm 6,94%; diện tích
đất chưa sử dụng là 92.938,28 ha chiếm 13,47%. Trong tổng diện tích đất nông
nghiệp thì đất sản xuất nông nghiệp là 77.618,58 ha; đất lâm nghiệp 469.968,24ha;
đất nuôi trồng thủy sản 1.420,04ha, còn lại là đất nông nghiệp khác. Trong tổng
diện tích đất phi nông nghiệp thì đất ở 4.482,82 ha; đất chuyên dùng 31.604,98 ha,
còn lại là đất sử dụng vào mục đích khác. Trong tổng diện tích đất chưa sử dụng thì
đất bằng chưa sử dụng là 949,00 ha; đất đồi núi chưa sử dụng là 85.936,52 ha, còn
lại là núi đá không có rừng cây.
Đất Yên Bái chủ yếu là đất xám (chiếm 82,37%), còn lại là đất mùn alít, đất
phù sa, đất glây, đất đỏ…
- Tài nguyên rừng: Tính đến tháng 6 năm 2009, diện tích đất có rừng toàn tỉnh
Yên Bái đạt 400.284,6 ha, trong đó: rừng tự nhiên 231.901,6 ha, rừng trồng
168.382,7 ha; đạt độ che phủ trên 56%.
Yên Bái có nhiều loại rừng khác nhau như: rừng nhiệt đới, á nhiệt đới, và núi
cao. Trong khu vực rừng á nhiệt đới của tỉnh có nhiều loại cây lá kim (như: pơmu,
thông nàng, thông tre lá lớn, sa mộc, sam mộc) xen lẫn cây lá rộng thuộc họ sồi dẻ,
đỗ quyên. Ở độ cao trên 2000m, rừng hỗn giao giảm dần, pơmu mọc thành rừng kín
cao tới 40-50m, đường kính thân có cây tới 1,5m. Bên cạnh các loại gỗ quý (nghiến,
trúc, lát hoa, chò chỉ, pơmu, cây thuốc quý (đẳng sâm, sơn tra, hò thủ ô, hoài sơn, sa
nhân), động vật hiếm (hổ, báo, cầy hương, lợn rừng, chó sói, sơn dương, gấu, hươu,
vượn, khỉ, trăn, tê tê, đàng đẵng, ếch dát, gà lôi, nộc cốc, phượng hoàng đất) cùng
nhiều khu rừng cho lâm, đặc sản (cọ, măng, song, móc, nấm hương, mộc nhĩ, trẩu,
quế, chè).
- Tài nguyên khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản Yên Bái khá đa dạng, hiện
đã điều tra 257 điểm mỏ khoáng sản, xếp vào các nhóm khoáng sản năng lượng,
khoáng sản vật liệu xây dựng, khoáng chất công nghiệp, khoáng sản kim loại và
nhóm nước khoáng. Nhóm khoáng sản năng lượng gồm các loại than nâu, than
Hoàng Thị Thanh Huyền Lớp: Kế hoạch 49A
20



;<,=>-

!?@"A
- Về thủy lợi: Toàn tỉnh có 3.147 công trình thủy lợi (975 công trình thủy lợi
do nhà nước đầu tư, 2.172 công trình từ vốn của nhân dân và một phần vốn ngân
sách nhà nước) trong đó gồm 186 hồ chứa (12 hồ chứa từ 1-5 triệu m
3
,174 hồ chứa
dưới 1 triệu m
3.)
tưới cho 4.324 ha, 15 trạm bơm tưới cho 346 ha, có công suất 270
đến 410m
3
/h, 2.946 dạng đập dâng kênh dẫn tưới cho 14.214 ha, đa số đập có chiều
cao dưới 10m. * Nước sinh hoạt:
- Hệ thống cơ sở vật chất ngành bưu chính viễn thông liên tục được đầu tư
nâng cấp, đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin liên lạc của mọi tổ chức, cá nhân có
nhu cầu, đồng thời phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế – xã hội của
tỉnh. Mạng lưới thông tin nội bộ 100% đã được số hóa, 9/9 huyện, thị, thành phố có
tuyến viba và tổng đài điện tử tự động.
- Giáo dục: Năm học 2009 - 2010: Toàn tỉnh có 593 trường học trong đó có
173 trường mầm non với 1.383 lớp, 1143 phòng học, 35.538 học sinh; 170 trường
tiểu học với 2.806 lớp, 2.636 phòng học, 64.403 học sinh; 186 trường trung học cơ
sở với 1.550 lớp, 1.354 phòng học, 47.733 học sinh; 25 trường trung học phổ thông
Hoàng Thị Thanh Huyền Lớp: Kế hoạch 49A
21
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
với 581 lớp, 429 phòng học, 20.030 học sinh; 1 trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng

trong đó có 7 dân tộc có dân số trên 10.000 người. 2 dân tộc có từ 2.000 - 5.000
người, 3 dân tộc có từ 500 -2.000 người. Trong đó người Kinh chiếm 49,6%, người
Tày chiếm 18,58%, người Dao chiếm 10,31%, người HMông chiếm 8,9%
người Thái chiếm 6,7%, người Cao Lan chiếm 1%, còn lại là các dân tộc khác.
Hoàng Thị Thanh Huyền Lớp: Kế hoạch 49A
22
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
- Năm 2010 lao động trong độ tuổi là 527.490 người, dự tính năm 2015 là
568.530 người, năm 2020 là 603.430 người. Trình độ lao động nhìn chung còn thấp,
lao động có trình độ đại học ít chiếm khoảng 4,5%. Phấn đấu hàng năm có 50%
công chức sự nghiệp được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ
năng, phương pháp thực hiện công vụ và 20% cán bộ cơ sở cấp xã được đào tạo.
2. Thực trạng thu hút FDI vào tỉnh Yên Bái
Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc nằm sâu trong nội địa, cách thủ đô Hà
Nội 180km, cách biên giới Lào Cai 150km, cách Cảng Hải Phòng 260km, không có
nhiều điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, dân số có gần 50% là
đồng bào các dân tộc thiểu số, kinh tế chậm phát triển, trình độ dân trí thấp, không
đồng đều. Do vậy, trong thời gian qua, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Yên Bái còn rất nhiều khiêm tốn về số doanh nghiệp và tổng vốn đầu tư.
Nhận thức được vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong sự phát triển
kinh tế của cả nước nói chung và tỉnh Yên Bái nói riêng. Trong những năm qua tỉnh
Yên Bái đã tiến hành nhiều hoạt động xúc tiến đầu tư như tổ chức Hội nghị xúc tiến
đầu tư tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; phối hợp với các Phòng Thương mại
và Công nghiệp Việt Nam tổ chức Hội nghị gặp gỡ các nhà đầu tư nước ngoài và
tiếp tục giới thiệu tiềm năng thế mạnh của tỉnh Yên Bái trên tạp chí Vietnam
business forum; trang thong tin điện tử Kinh tế Việt Nam. Chủ động phối hợp với
Bộ ngoại giao, thông qua tham tán Thương mại Việt Nam tại các nước Nhật Bản,
Hàn Quốc, Trung Quốc, Mỹ và các nước Châu Âu giới thiệu về tỉnh Yên Bái; Xây
dựng và ban hành danh mục các dự án kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh
Yên Bái giai đoạn 2006-2010. ban hành chính sách thu hút đầu tư và tiến hành

= 29-34% ; Fe
2
O
3
-
= 0,8-4,2 %. độ trắng đạt 40-70% đạt tiêu chuẩn làm bột độn
giấy và sứ cách điện
- Phenfat
Thị xã Nghĩa Lộ
Huyện Lục Yên
-
Than nâu ( xã Hồng Quang ): có quy mô nhỏ, chất lượng kém, không có triển
vọng.
-
Vàng : đang được điều tra đánh giá.
-
Pirit: Có ở Tân Lĩnh có trữ lượng khoảng 25.000 tấn, cấp C
1
hàm lượng S >33%.
-
Đá quý
-
Nguyên liệu mài: Phân bố ở phần Đông Bắc hai bờ sông Chảy thuộc vùng đá biến
chất cổ gồm: Nazac, SiLimanit – gramat.
-
Đá vôi và đá hoa : chất lượng tốt, có khả năng khai thác làm vật liệu xây dựng,
sản xuất xi măng và đá vôi nghiền công nghiệp và phục vụ xuất khẩu tốt.
-
Phôtforit :trữ lượng khoảng 10.000 tấn.
Huyện Mù Cang

-
Sắt (Đại Sơn) có trữ liệu trên 20 triệu tấn.
-
Đồng
-
Vàng
-
Đất hiếm: có ở xã An Phú: trữ lượng đánh giá ở C
1
+ C
2
là 17,84 tấn TR
2
O
3-
-
Grafit: mỏ Bắc Mậu A, có trữ lượng 141.799 tấn. Mỏ Yên Thái, Yên Hưng có trữ
lượng 1,32 triệu tấn.
-
Đá vôi và đá hoa
Huyện Yên Bình
-
Chì- kẽm
-
Pirit: Mỹ Gia
-
Barit: Có ở núi Hang Hổ, Đại Minh. chưa điều tra đánh giá.
-
Cao lanh
-

khối. Về thành phần hoá học: hàm lượng CaO trung bình là 55,58%, MgO là 0,22%,
SiO2 là 0,27%, Al2O3 là 0,016%, Fe là 0,015%, độ trắng trung bình là 94,31%. Với
đặc điểm cấu tạo trên đá hoa trắng Lục Yên chủ yếu chế biến sâu thành đá ốp lát và
tận dụng để chế biến thành bột Cacbonnat Canxi.
Thực tế cho thấy đã và đang có nhiều nhà đầu tư tiến hành khai thác và chế
biến khoáng sản tại huyện Lục Yên với quy mô lớn.Tới tháng 6/2010, Lục Yên có
38 cơ sở, doanh nghiệp đăng ký hoạt động thăm dò, chế biến khoáng sản (chủ yếu
là đá vôi trắng). Đáng chú ý, giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 46,47% so với năm 2008, trong đó giá trị
xuất khẩu các sản phẩm từ đá vôi trắng hàng năm trên 3 triệu USD, chủ yếu xuất
sang thị trường Ấn Độ, Đài Loan, Trung Quốc Như là Công ty TNHH Đá cẩm
thạch R.K Việt Nam, Công ty TNHH Hùng Đại Sơn, Công ty cổ phần
FRANXIPAN… Nổi bật nhất là Công ty TNHH Đá cẩm thạch R.K Việt Nam, một
công ty hoạt động khá hiệu quả trong thời gian qua, và đóng góp không nhỏ vào nền
kinh tế của tỉnh.
Hoàng Thị Thanh Huyền Lớp: Kế hoạch 49A
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status