1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ trước đến nay đã có không ít các bài báo kinh tế hay những nghiên cứu khoa
học bàn về sức ảnh hưởng mạnh mẽ của Internet đối với việc thay đổi và không ngừng
trưởng thành của marketing trực tuyến. Ngay từ khi vừa mới hình thành, người ta đã có
nhiều dự đoán rằng Internet sẽ phát triển một cách lấn lướt và đóng góp một phần
không nhỏ đối với mảng marketing của doanh nghiệp bởi những tính năng vượt trội
của nó như: tính tương tác cao, linh hoạt, chi phí thấp Theo một nghiên cứu của công
ty nghiên cứu Barwise & Farley (2005) về hoạt động marketing truyền thông và quảng
cáo của các công ty ở 7 nước điển hình (Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Pháp, Trung Quốc và
Brazil), quảng cáo trực tuyến và các hình thức marketing trực tuyến khác đã không
ngừng tăng lên trong thời gian vừa qua. Từ năm 2002 đến 2004, marketing trực tuyến
đã không ngừng tăng thị phần của mình từ 7 đến 8,2% trong khi quảng cáo truyền
thống lại giảm nhẹ từ 41 xuống 40,6%. Riêng tại Việt Nam, tính đến tháng 01/2011, số
người dùng Internet đã vượt qua con số 27 triệu người, đứng thứ 7 tại châu Á, bên cạnh
đó số lượng trang web của Việt Nam cũng tiếp tục tăng trưởng mạnh, tất cả đều cho
thấy tiềm năng rất lớn của lĩnh vực marketing trực tuyến. Có thể nói thời đại marketing
trực tuyến đã đến. Và tất cả các doanh nghiệp Việt Nam, bất kể ở ngành nào, đều cần
nhanh tay nắm bắt nó cũng như vận dụng tối đa những lợi ích mà marketing trực tuyến
mang lại nhằm bắt kịp với thế giới và phát triển đi lên.
Ngành du lịch và khách sạn, vì lẽ đó cũng không phải là một ngoại lệ. Đặc biệt
trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO và tích cực mở cửa giao lưu với bạn bè
quốc tế thì việc ứng dụng marketing trực tuyến vào ngành công nghiệp không khói này
chính là sự đầu tư sáng suốt. Bởi lẽ, du lịch và khách sạn là một ngành đa dạng thông
tin, khách hàng càng ngày càng khó tính và luôn cân nhắc các lựa chọn trước khi đưa
ra quyết định, người ta cần sự tương tác nhanh chóng để giúp tạo ra các sản phẩm dịch
vụ tốt hơn…Internet hay cụ thể hơn là marketing trực tuyến với những tính năng tuyệt
thể áp dụng vào lĩnh vực này.
+ Bài viết “An exploratory case study of hotel e-marketing in Hochiminh City”
của nhóm tác giả Tung X. Bui, Truc Le và Wayne D. Jones đã đưa ra cái nhìn tổng
3
quan về áp dụng marketing trực tuyến trong khách sạn tại Tp. Hồ Chí Minh, thông qua
số liệu cụ thể để chỉ ra lợi ích đem lại và đề ra một số giải pháp áp dụng marketing trực
tuyến hiệu quả vào ngành du lịch tại Tp. Hồ Chí Minh.
Những bài viết trên đa phần nghiên cứu ở góc độ vĩ mô về hiệu quả của
marketing trực tuyến đối với các doanh nghiệp nói chung hoặc giả là bài viết ứng dụng
vào khách sạn thì cũng mới ở góc độ marketing tổng quát hay là một bài phân tích tình
huống, chứ chưa thực sự nghiên cứu chuyên sâu vào việc áp dụng marketing trực tuyến
của đối tượng khách sạn nhằm thu hút khách du lịch quốc tế, đồng thời chưa thực sự
khai thác hết tác dụng của marketing trực tuyến đối với các doanh nghiệp đang kinh
doanh trong lĩnh vực khách sạn. Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu của chúng tôi sẽ
hướng đến việc phân tích một cách chuyên sâu những công cụ marketing trực tuyến
hiệu quả và đề ra các giải pháp nhằm vận dụng chúng một cách sáng tạo, phù hợp với
đặc điểm ngành kinh doanh khách sạn, thu hút khách du lịch quốc tế trong địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh.
3. Đối tượng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của để tài là việc ứng dụng marketing trực tuyến trong
các khách sạn.
3.2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu đi từ nghiên cứu hệ thống lí luận về marketing trực tuyến và
ứng dụng marketing trực tuyến vào khách sạn.Trên cơ sở đó, phân tích thực trạng hoạt
động marketing trực tuyến của các khách sạn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Từ
6. Kết quả nghiên cứu dự kiến
Phân tích những khảo sát đối với khách sạn và khách du lịch quốc tế nhằm đánh
giá tính hiệu quả của marketing trực tuyến.
Phân tích, đánh giá môi trường và những yếu tố ảnh hưởng đến marketing trực
tuyến trong khách sạn. Từ đó chỉ ra những mặt mạnh, mặt yếu, những thuận lợi cũng
như khó khăn mà khách sạn gặp phải trong quá trình áp dụng marketing trực tuyến vào
việc thu hút khách du lịch quốc tế.
5
Tổng hợp những phân tích, đánh giá nhằm đưa ra các giải pháp cụ thể cho từng
trường hợp hay từng hoàn cảnh.
7. Kết cấu của đề tài
Nội dung của đề tài được kết cấu thành 3 chương:
+ Chương I: Lý luận chung về marketing trực tuyến và ứng dụng marketing trực
tuyến trong kinh doanh khách sạn – du lịch
+ Chương II: Tình hình ứng dụng marketing trực tuyến của các khách sạn nhằm
thu hút khách du lịch quốc tế tại thành phố Hồ Chí Minh
+ Chương III: Giải pháp marketing trực tuyến nhằm thu hút khách du lịch quốc
tế tại thành phố Hồ Chí Minh
6
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ MARKETING TRỰC TUYẾN VÀ ỨNG DỤNG
MARKETING TRỰC TUYẾN TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN DU LỊCH
1. Tổng quan về kinh doanh khách sạn – du lịch và marketing trực tuyến
World Tourism Organization, Why Tourism,
7
1.1.2. Các hình thức du lịch
1.1.2.1. Phân loại theo mục đích chuyến đi
Người ta thường đi du lịch với nhiều mục đích khác nhau, có người đi vì mục
đích thư giãn, nghỉ dưỡng, vui chơi, nhưng cũng có nhiều người đi với mục đích làm
việc hay điều trị, khám chữa bệnh, du lịch vì mục đích tôn giáo, hành hương, nghỉ lại,
qua đêm hoặc với các mục đích kết hợp. Tuy nhiên trong giới hạn phạm vi nghiên cứu
của đề tài, chúng tôi sẽ không xét đến những mục đích này mà chỉ nghiên cứu và phân
tích chuyên sâu vào du lịch với mục đích nghỉ dưỡng, vui chơi. Do vậy, trong bài
nghiên cứu của chúng tôi sau này có nhắc đến khái niệm du lịch thì nên hiểu dưới góc
độ mục đích chuyến đi là nghỉ dưỡng, thư giãn, giải trí.
1.1.2.2. Phân loại theo phạm vi lãnh thổ
Dưới góc độ phạm vi lãnh thổ quốc gia thì có thể chia du lịch thì hai loại là du
lịch trong nước và du lịch quốc tế.
Du lịch trong nước là hoạt động công dân của một nước đi du lịch ngay trong
lãnh thổ quốc gia.Ví dụ công dân Việt Nam đi du lịch đến các tỉnh, thành phố, địa
phương trên lãnh thổ quốc gia của Việt Nam thì gọi là du lịch trong nước. Nhưng vì
phạm vi giới hạn đối tượng nghiên cứu của đề tài nên chúng tôi sẽ không đề cập đến
vấn đề du lịch trong nước trong bài nghiên cứu của mình sau này.
Tương tự, du lịch quốc tế là hoạt động công dân của một nước đi du lịch ra
ngoài lãnh thổ quốc gia nước mình. Tuy nhiên, du lịch quốc tế còn phân chia thành
inbound và outbound. Đây là một thuật ngữ sử dụng trong ngành du lịch, được xác
định dựa trên chủ thể là một quốc gia xác định. Theo đó, inbound là hoạt động khách
nước ngoài đến nước đó tham quan, du lịch trong khi outbound là hoạt động công dân
hoặc người nước ngoài sống tại nước đó đi du lịch ở ngoài lãnh thổ quốc gia. Như vậy,
Người đã lập gia đình có xu hướng đi du lịch khác với người độc thân. Quyết
định du lịch của họ lúc này không chỉ chịu ảnh hưởng từ bản thân mà còn chịu tác động
từ người chồng hoặc người vợ.
1.1.3.1.3. Nhu cầu, sở thích và lối sống
9
Mỗi người đều có một nhu cầu, sở thích và lối sống khác nhau do đó tạo ra sự
đa dạng và phong phú cho thị trường ngành dịch vụ du lịch. Các nhà hoạch định chiến
lược chính vì thế cũng cần phải hết sức quan tâm đến yếu tố này nếu muốn thành công
trong việc cung cấp các dịch vụ du lịch.
1.1.3.1.4. Các yếu tố khác
Các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến du lịch như giới tính, độ tuổi, trình độ
học vấn, nghề nghiệp, địa vị, ảnh hưởng của những người xung quanh…Những yếu tố
này kết hợp với những yếu tố phân tích ở trên đều có một phần tác động không nhỏ đến
du lịch. Tuy nhiên, trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ xem xét những
yếu tố này trong mối tương quan với thực tiễn nhằm đề xuất những giải pháp và kiến
nghị thích hợp chứ không đi vào phân tích và nghiên cứu sâu.
1.1.3.2. Yếu tố khách quan
1.1.3.2.1. Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên có tác động khá lớn đến du lịch, bao gồm các yếu tố địa lý,
môi trường cảnh quan, thời tiết Bởi lẽ đây là ấn tượng đầu tiên của một người khi
mới đặt chân hoặc chỉ đang trong giai đoạn tìm hiểu về một vùng đất, một địa phương
hay một đất nước khác. Như đã giới hạn mục đích du lịch ở trên, người ta đến tham
quan một vùng đất mới với lí do thư giãn, nghỉ ngơi, vui chơi thì không thể không xét
đến cảnh quan, điều kiện tự nhiên của vùng đất đó. Phong cảnh có gì nổi bật, thu hút?
Điều kiện tự nhiên có tốt không? Tất cả không chỉ dừng lại ở ấn tượng mà còn là một
yếu tố quyết định khi khách hàng lên kế hoạch du lịch.
1.1.3.2.2. Môi trường nhân tạo
động như thế nào đến du lịch mà chỉ xem xét những yếu tố này dưới góc độ là các nhân
tố khách quan nhằm đưa ra những giải pháp và kiến nghị thích hợp liên quan đến du
lịch, đặc biệt là các yếu tố điều kiện tự nhiên, môi trường nhân tạo và chính sách du
lịch.
11
1.1.4. Khách du lịch
1.1.4.1. Khái niệm khách du lịch
Goeldner và Ritchie định nghĩa “Khách du lịch là những người đi du lịch giữa
hai hay nhiều nước hoặc đi du lịch giữa hai hay nhiều địa phương trong lãnh thổ quốc
gia nước mình”.
3
Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Việt Nam cũng có qui định trong điều 10 Pháp
lệnh số 11/1999/PL-UBTVQH10 về khách du lịch như sau: “Khách du lịch là người đi
du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận
thu nhập ở nơi đến”.
4
Căn cứ khái niệm và phân loại mục đích du lịch đã nêu ở phần 1 và hai khái
niệm về khách du lịch nhìn nhận ở hai góc độ khác nhau, nhóm nghiên cứu xin đề xuất
khái niệm về khách du lịch như sau: “Khách du lịch là người đi tới một nơi, khác với
nơi họ thường trú với mục đích thư giãn, nghỉ ngơi”.
Bên cạnh đó, khách du lịch còn được chia thành khách tham quan và du khách.
và các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch, gồm: khách sạn, nhà nghỉ kinh doanh du
lịch, biệt thự kinh doanh du lịch, làng du lịch, căn hộ kinh doanh du lịch, bãi cắm trại
du lịch”.
5
Atul Saxena lại cho rằng, cơ sở lưu trú du lịch có thể chia thành hai nhóm chính:
một là, khách sạn và các nơi lưu trú tương tự (gọi chung là ngành công nghiệp khách
sạn); hai là, các ngành công nghiệp phụ (như phòng trọ, nhà thuê, căn hộ chung cư ).
6
Theo Quy định về tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn du lịch (Ban hành kèm theo
Quyết định số 02 /2001/QĐ-TCDL ngày 27 tháng 4 năm 2001): Khách sạn là công
trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, bảo đảm
chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch.
7
Từ tổng quan về cơ sở lưu trú du lịch đến quy định về khách sạn tại Việt Nam,
nhóm nghiên cứu xin đề xuất khái niệm phù hợp với phạm vi nghiên cứu đề tài như
sau: “Khách sạn là cơ sở cung cấp dịch vụ lưu trú với đầy đủ tiện nghi, dịch vụ ăn
uống, vui chơi, giải trí và các dịch vụ cần thiết khác cho du khách lưu lại tạm thời qua
đêm tại các điểm du lịch”.
5
Tổng cục Du lịch (27/4/2001), Thông tư 01/2001/TT-TCDL về cơ sở lưu trú du lịch.
6
Atul Saxena (2008), New trends in tourism and hotel industry, Navyug Publishers & Distributors.
7
Tổng cục Du lịch (27/4/2001), Quyết định 02/2001/QĐ-TCDL về Tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn.
Trong đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu trong phạm
vi khách sạn 4 sao và 5 sao. Vì vậy, trong suốt bài nghiên cứu, nếu có phạm trù, vấn đề
liên quan đến khách sạn thì xin được hiểu là khách sạn 4 sao, 5 sao theo tiêu chuẩn xếp
hạng khách sạn của Việt Nam. 8
Fred R. Lawson (1995), Hotels and Resorts: Planning, Design and Refurbishment, Butterworth-Heinemann.
9
Bộ văn hóa, thể thao và du lịch (20/4/2011), Tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn,
10
Tổng cục Du lịch (27/4/2001), Quyết định 02/2001/QĐ-TCDL về Tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn.
14
1.3. Tổng quan về marketing trực tuyến
1.3.1. Marketing
Từ khi ra đời đến nay, với vị thế là làm cầu nối giữa sản phẩm, dịch vụ, hàng
hóa với người tiêu dung, Marketing đã và đang được các nhà nghiên cứu chuyên sâu
tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau:
Theo Hiệp hội Marketing của Mỹ - American Marketing Association (AMA)
định nghĩa: “Marketing được xem như là một chức năng tổ chức và là một tiến trình
bao gồm thiết lập (creating), trao đổi (communication), truyền tải (delivering) các giá
trị đến các khách hàng và quản lý quan hệ khách hàng (managing customer
relationship) bằng những cách khác nhau để mang về lợi ích cho tổ chức và các thành
viên có liên quan đến nó”.
Theo Philip Kotler – cha đẻ của marketing hiện đại, ông tiếp cận marketing từ
khía cạnh xã hội: “Marketing là quá trình xã hội mà theo đó các cá nhân và nhóm đạt
online marketing) là hoạt động marketing cho sản phẩm và dịch vụ bằng cách sử dụng
các công cụ có sẵn của mạng Internet để tiếp cận với người sử dụng Internet.
12
Còn theo tổ chức The Business Link, marketing trực tuyến là một phần của hoạt
động marketing, chịu trách nhiệm lên kế hoạch, định giá, phân phối và xúc tiến kinh
doanh các sản phẩm và dịch vụ trực tuyến.
13
Trong phạm vi giới hạn đề tài, nhóm chúng tôi đề xuất định nghĩa marketing
trực tuyến là: “Marketing trực tuyến là việc sử dụng phối hợp nhiều công cụ có sẵn của
Internet để tiếp thị sản phẩm, nhằm mục đích cuối cùng là phân phối được sản phẩm,
hàng hóa và dịch vụ đến với khách hàng”.
1.3.2.2. Các hình thức marketing trực tuyến
1.3.2.2.1. Xây dựng website
Với lịch sử phát triển 20 năm của mình, website đang ngày càng trở nên thông
dụng và phổ biến hơn trong thời đại công nghệ thông tin: Chính phủ, các cơ quan nhà
nước thành lập website với mục đích tạo lập một cổng thông tin chính thức trên
Internet, các doanh nghiệp thành lập website với mục đích quảng bá tên tuổi và sản
phẩm của doanh nghiệp mình hay các cá nhân thành lập website nhằm làm nơi lưu trữ
thông tin và kết nối với cộng đồng. Việc sở hữu một website đem đến cho doanh
nghiệp nhiều cái lợi không nhỏ:
12
Damian Ryan, Calvin Jones (2009), Understanding Digital Marketing, Kogan Page, trang 2.
13
The Business Link (2008), Internet Marketing,The Business Link, trang 3.
16
mắc thông thường thay vì tốn một cuộc gọi đến thẳng doanh nghiệp. Điều này không
chỉ tiết kiệm được chi phí cho khách hàng mà còn tiết kiệm chi phí và thời gian mà
doanh nghiệp phải bỏ ra để duy trì hệ thống hỗ trợ khách hàng qua điện thoại. Không
chỉ vậy, website còn cho phép tích hợp thêm chức năng tiếp nhận thông tin từ phía
khách hàng. Điều này giúp các doanh nghiệp nhanh chóng nhận được những phản hồi
về sản phẩm và dịch vụ mà mình đang cung cấp từ khách hàng một cách nhanh chóng,
tiết kiệm được thời gian và tiền bạc trong việc nghiên cứu tâm lý, thị hiếu khách hàng,
qua đó nhanh chóng hoạch định và đưa ra chiến lược quảng cáo cho phù hợp.
+ Giúp doanh nghiệp tiếp cận với thị trường quốc tế: Không thể phủ nhận
Internet làm cho thế giới “phẳng” hơn và website chính là công cụ hữu hiệu để đưa tên
tuổi và sản phẩm của doanh nghiệp vượt ra ngoài biên giới trong nước. Với sự đầu tư
hỗ trợ các ngôn ngữ nước ngoài thông dụng hiện nay (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng
Hoa, tiếng Tây Ban Nha…), doanh nghiệp có thể dễ dàng quảng bá tên tuổi của mình
đến lượng khách hàng nước ngoài tiềm năng. Đặc biệt đối với những doanh nghiệp
đang kinh doanh trong các lĩnh vực có liên quan đến quốc tế (xuất nhập khẩu, du lịch,
khách sạn…) thì việc sở hữu một website chuyên nghiệp, hỗ trợ nhiều ngôn ngữ khác
nhau là điều cực kì cần thiết.
Hiện nay, để tăng hiệu quả website được sử dụng kết hợp với SEO (tối ưu hóa
bộ máy tìm kiếm) và email marketing.
1.3.2.2.2. Email marketing
Email (còn gọi là “thư điện tử”) là một dịch vụ cơ bản được ra đời không lâu
sau khi nhân loại phát minh ra Internet. Email có nhiều ưu điểm không thể phủ nhận:
quá trình gửi và nhận email chỉ mất vài giây đến vài phút; thuận lợi cho người nhận
email có thể đọc nội dung bức thư bất cứ khi nào muốn thông qua các thiết bị kết nối
với Internet.
Mang các tiện ích nhanh chóng và hiệu quả, kết hợp với sự phát triển mạnh mẽ
của Internet, email marketing ra đời mở ra hướng đi mới cho ngành marketing trực
nhau:
+ SEO (Search Engine Optimization ): Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm
+ SEM (Search Engine Marketing): Tiếp thị công cụ tìm kiếm
19
+ SMO (Social Media Optimization): Tối ưu hoá website bằng cách liên kết với
với mạng cộng đồng
+ VSM (Video Search Marketing): Quảng cáo thông qua video clip ngắn
Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, nhóm chúng tôi chỉ nghiên cứu về SEO
(Search Engine Optimization - Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm) và SEM (Search Engine
Marketing – Tiếp thị hóa công cụ tìm kiếm).
+ SEO (Search Engine Optimization – Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm):Là quy
trình thiết lập và đăng ký những từ khóa được doanh nghiệp chọn lọc để đưa vào danh
công cụ làm tăng thứ hạng website, giúp website của doanh nghiêp xuất hiện ở trang
tìm kiếm đầu tiên (Google, Ask, Bing…) bất cứ khi nào khách hàng sử dụng một từ
khóa tìm kiếm có liên quan đến sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đang cung cấp.
Những website có thứ hạng cao giúp tăng khả năng tiếp cận đến với khách hàng (với
hơn 85% người sử dụng Internet sử dụng các công cụ tìm kiếm). Tuy SEO đem lại hiệu
quả rất lớn nhưng đây cũng là phương pháp tốn nhiều thời gian, đòi hỏi sự kiên trì và
lâu dài.
+ SEM (Search Engine Marketing – Tiếp thị công cụ tìm kiếm): Còn được biết
đến với tên gọi PPC (Pay per click – Trả tiền theo click chuột). Đây là hình thức nhằm
giúp cho những website mới xây dựng và đưa vào hoạt động có được một lượng truy
cập nhiều nhất định để được các công cụ tìm kiếm ghi nhận sự tồn tại của website
trong cơ sở dữ liệu. Với một mức phí phải trả nhất định cho mỗi click chuột, các doanh
nghiệp có thể đặt đường dẫn đến trang web của mình ở trang kết quả tìm kiếm đầu tiên
mỗi khi người sử dụng dung dung các công cụ tìm kiếm để tìm kiếm bằng các từ khóa
có liên quan. SEM có ưu điểm hơn so với SEO ở chỗ, các doanh nghiệp có thể chủ
trên web liên kết để quảng cáo.
Có bốn hình thức thanh toán chính trong chiến lược quảng cáo liên kết:
+ Thanh toán cho mỗi hành động (CPA – cost per action): khách sạn trả tiền cho
website liên kết nếu khách hàng thông qua website liên kết này thực hiện bất cứ động
14
Wallington, J., Redfearn D. (2007), IAB Affiliate Marketing Handbook, Internet Advertising Bureau.
21
tác nào trên website của khách sạn (như đăng ký tài khoản, đồng ý nhận bản tin, thanh
toán, đặt phòng…)
+ Thanh toán cho mỗi đăng ký (CPL – cost per lead): khách sạn trả tiền cho
website liên kết nếu khách hàng thông qua website liên kết này đăng ký tài khoản hoặc
dịch vụ của khách sạn.
+ Thanh toán cho mỗi click (CPC – cost per click): khách sạn trả tiền cho
website liên kết nếu khách hàng thông qua website liên kết này click vào bất cứ đường
link nào của khách sạn.
+ Thanh toán cho mỗi nghìn lượt xem (CPM – cost per mille): Khác với những
hình thức thanh toán trên, hình thức thanh toán mỗi nghìn dựa trên số lượng người xem
quảng cáo, chứ không dựa vào bất cứ hoạt động nào của người dùng. CPM định lượng
chi phí thanh toán dựa trên mỗi nghìn lượt xem cho quảng cáo.
1.3.2.2.5. Truyền thông xã hội
Theo Jan và Doug trong quyển sách nổi tiếng “Social Media Marketing All-in-
one for Dummies” thì mạng xã hội là “hình thức giao tiếp hai chiều và trao đổi thông
tin trực tuyến thông qua mạng lưới xã hội như bài viết trên blog, forum, hình ảnh, âm
thanh, video…hoặc thông tin, các chia sẻ cá nhân”15.
Những công cụ được dùng nhiều trong truyền thông xã hội là:
+ Mạng cộng đồng: Hiện nay, mạng cộng đồng (mạng xã hội) được đánh giá là
sẻ video hiện nay (youtube, vimeo…), chia sẻ video đang trở thành trào lưu không chỉ
ở giới trẻ mà còn ở những người “nhanh nhạy với thị trường”. Đối với các doanh
nghiệp, video trực tuyến luôn là một ưu tiên hàng đầu vì chi phí cho việc sản xuất và
phát tán nội dung quảng cáo bằng cách này ít tốn kém hơn rất nhiều nếu so với những
phương tiện quảng bá truyền thông khác nhưng đem đến hiệu quả không nhỏ. Một
video trực tuyến được đánh giá là có hiệu quả dựa trên số lượt xem video (view) và
nhận được phản hồi tích cực từ chính người xem.
1.3.2.2.6. Các công cụ marketing trực tuyến khác
Bên cạnh các công cụ marketing trực tuyến kể trên, ngoài ra còn có một số công
cụ marketing trực tuyến khác như: PR trực tuyến, Quản lý thương hiệu trực tuyến
(Online brand positioning), Buzz marketing… Nhưng trong khuôn khổ đề tài nghiên
cứu của chúng tôi về việc áp dụng marketing trực tuyến trong lĩnh vực khách sạn – du
23
lịch, chúng tôi đề xuất 5 công cụ marketing trực tuyến tiêu biểu và đang được áp dụng
nhiều nhất nhất, riêng biệt cho lĩnh vực này để nghiên cứu và phát triển sâu hơn.
2. Ứng dụng marketing trực tuyến trong kinh doanh khách sạn nhằm thu hút
khách du lịch
Marketing trực tuyến trong kinh doanh khách sạn là sự vận dụng các nguyên lý
của marketing vào trong ngành dịch vụ khách sạn. Nó là một quá trình liên tục nối tiếp
nhau trong đó các cơ quan tổ chức quản lý trong ngành khách sạn lập kế hoạch nghiên
cứu thực hiện kiểm soát các hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn của
khách hàng và những mục tiêu của khách sạn của cơ quan quản lý đó. Marketing trực
tuyến khách sạn tập trung vào nghiên cứu phân tích và sử dụng các thông tin về sự biến
động của thị trường, những thông tin về thị hiếu, sở thích, nhu cầu, khả năng thanh
toán, quỹ thời gian… để đề ra các biện pháp thích hợp nhằm hợp lý hoá các sản phẩm
của khách sạn nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của khách
16
Đỗ Bình Minh (05/07/2009), Du lịch Tp.Hồ Chí Minh: Khai thác đúng tiềm năng, thế mạnh, Sài Gòn giải phóng,
25
CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG MARKETING TRỰC TUYẾN CỦA CÁC
KHÁCH SẠN NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1. Tình hình du lịch và kinh doanh khách sạn trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh trong khoảng thời gian 2006 – 2009
Theo số liệu thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hồ Chí
Minh trong các năm 2006 – 2009, lượng khách du lịch quốc tế đến thành phố Hồ Chí
Minh chiếm hơn 60% lượng khách vào Việt Nam trong các năm. Số lượng khách du
lịch vào thăm thành phố Hồ Chí Minh cũng không ngừng tăng lên qua các năm, từ
2.232.617 khách du lịch quốc tế năm 2006 tăng lên đáng kể vào năm 2009 với
2.724.976 khách quốc tế.
Biểu đồ 2.1: Số lượng khách du lịch quốc tế vào Việt Nam và
thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian 2006 – 2009
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hồ Chí Minh
Bên cạnh đó, mục đích khách quốc tế đến thành phố Hồ Chí Minh để du lịch
cũng chiếm phần lớn (theo khảo sát năm 2009). Điều này càng giúp chứng minh thành
0
1000000
2000000
3000000