Nghiên cứu y học Bệnh viện đa khoa Quảng nam
NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU KẾT QUẢ TẾ BÀO HỌC CHỌC HÚT
BẰNG KIM NHỎ VÀ KẾT QUẢ GIẢI PHẪU BỆNH,
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NAM
Nguyễn Xuân Hiền- BVĐK Quảng Nam
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định độ nhạy, dộ đặc hiệu và độ chính xác của xét nghiệm chọc
hút tế bào bằng kim nhỏ.
Phương pháp nghiên cứu: Khảo sát trên 72 trường hợp có u và tổn thương
dạng u, được làm xét nghiệm tế bào học chọc hút bằng kim nhỏ, sau đó đối chiếu
với kết quả mô bệnh học.
Kết quả: Xét nghiệm chọc hút tế bào bằng kim nhỏ tại Bệnh viện đa khoa
Quảng Nam có độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác lần lượt là: 81,8%, 96,7% và
94,4%. Tỉ lệ âm tính giả 18,2%, tỉ lệ dương tính giả 3,28%.
Kết luận: Xét nghiệm tế bào học chọc hút bằng kim nhỏ là kỹ thuật đơn giản
nhanh, ít tốn kém. Độ chính xác của xét nghiệm cao, giúp ích rất nhiều cho các
nhà lâm sàng trong định hướng ban đầu và điều trị sau này cho bệnh nhân.
MỞ ĐẦU:
Chọc hút kim nhỏ để chẩn đoán tế bào học của các u và tổn thươg dạng u là
rất cần thiết cho một chẩn đoán bệnh ban đầu, từ đó có hướng xử trí tích cực nhất
cho các nhà lâm sàng. Tuy nhiên kết quả của chẩn đoán tế bào học phụ thuộc nhiều
yếu tố: kỹ thuật chọc để lấy bệnh phẩm, kinh nghiệm cũng như trình độ của Bác sỹ
đọc kết quả; ngoài ra nó còn phụ thuộc vào các cơ quan tổn thương (đặc biệt các
tổn thương của tuyến nước bọt là tương đối khó khi chẩn đoán tế bào học chọc hút
kim nhỏ), qui trình nhuộm và các phương pháp nhuộm tiêu bản,…
[1,2]
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này, theo Demay nghiên
cứu về chọc hút tế bào học học tuyến giáp có độ nhạy 83%, độ đặc hiệu 92%. Các
trung tâm hàng đầu, cũng như của cả nước cũng xem vấn đề chọc hút tế bào học là
rất quan trọng và hạn chế mức sai sót thấp nhất, cũng như tăng độ đặc hiệu, độ
nhạy của chẩn đoán tế bào học bằng kim nhỏ này
Tỉ lệ bệnh nhân có u được làm FNA chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi trên 40, có ý
nghĩa thống kê (p = 0,013 < 0,05).
Giới:
Bảng 2: Phân bố bệnh nhân theo giới
Khoa Giải phẫu bệnh
Giới
Số lượng
Tỉ lệ %
Nam
26
Nghiên cứu y học Bệnh viện đa khoa Quảng nam
Tỉ lệ bệnh nhân đến xét nghiệm u (FNA) ở nữ nhiều hơn nam, nữ 63trường
hợp (chiếm tỉ lệ 63,88%), nam 26 trường hợp (chiếm tỉ lệ 36,11%), sự khác biệt
này không có ý nghĩa thống kê (với p = 0,057 > 0,05).
Khu vực:
Biểu đồ phân bố bệnh nhân theo khu vực
Vị trí tổn thương u được chỉ định làm FNA ở tất cả các vùng của cơ thể,
trong đó nhiều nhất là vùng cổ (17 trường hợp, chiếm tỉ lệ 23,6%) và vú với 15
trường hợp (chiếm tỉ lệ 20,8%), các vị trí khác ít gặp hơn.
Số lần chọc hút:
Bảng 3: Số lần chọc hút trên một ca bệnh
Số lần
Số
lượng
Tỉ lệ %
1 61 84.72
2 8 11.11
3 2 2.77
4 1 1.38
Tổng: 72 100
Dương tính (+) Âm tính(-)
Dương tính (+) (+) thật = 9 ca (+) giả = 2 ca
Âm tính (-) (-) giả = 2 ca (-) thật = 59 ca
Tổng cộng: 11 ca 61 ca
Theo như kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi thì tỉ lệ dương tính
giả là 3,28%, tỉ lệ âm tính giả là 18,18%.
Tỉ lệ dương tính giả như đã trình bày là thực chất bệnh nhân có kết quả
mô bệnh học âm tính, nghĩa là không có tổn thương ác tính, nhưng kết quả tế
bào chọc hút có kết quả dương tính (ác tính, hoặc có tế bào không điển
hình). Cần nói thêm, trong lô nghiên cứu của chúng tôi những trường hợp
dương tính giả là những trường hợp có tế bào không điển hình, hoặc có tế
bào nghi ngờ bất thường (những trường hợp này mô bệnh học có kết quả âm
tính); chúng tôi không có trường hợp dương tính giả nào có chẩn đoán ác
tính thật sự. Và trong lô nghiên cứu các trường hợp dương tính giả là những
Khoa Giải phẫu bệnh
Nghiên cứu y học Bệnh viện đa khoa Quảng nam
trường hợp khó, gặp ở một trường hợp hạch cổ và một trường hợp tổn
thương loét da; một phần chúng tôi cũng hướng đến chẩn đoán dương tính
giả này để bác sỹ lâm sàng phẫu thuật, kiểm tra lại mô bệnh học, nhằm có
chẩn đoán xác định cho bệnh nhân để có hướng điều trị thích hợp và cũng
nhằm tích lũy kinh nghiệm cần thiết cho những trường hợp tương tự sau này.
Như đã nói ở trên, tỉ lệ âm tính giả của xét nghiệm chọc hút kim nhỏ
trong lô nghiên cứu này là 18,8% và chúng tôi gặp hai trường hợp đều là
hạch cổ với chẩn đoán tê bào học là hạch phản ứng viêm, nhưng kết quả mô
bệnh học là u lymphô ác tính (lymphoma). Nguyên nhân của những trường
hợp âm tính giả này có khả năng là do chọc hút không đúng vị trí, sụ khó
khăn trong chẩn đoán tế bào học về hạch và thường chẩn đoán u lymphô ác
tính trên hạch đa số các trường hợp phải dựa vào chẩn đoán mô bệnh học,
nhuộm hóa mô miễn dịch.
Theo Felman, tỉ lệ âm tính giả từ 0,3 – 6%; tỉ lệ dương tính giả 0 –
[2]
. Trong khi chọc hút bác sỹ sẽ thu được những
Khoa Giải phẫu bệnh
Nghiên cứu y học Bệnh viện đa khoa Quảng nam
thông tin về kích thước,vị trí và mật độ bướu, điều này rất có ý nghĩa cho kết
quả chẩn đoán tế bào học. Bên cạnh đó, chẩn đoán cần phải được sự hổ trợ
của chẩn đoán hình ảnh (siêu âm, Xquang), đặc biệt trong các bệnh lý về
xương, hoặc vú hình ảnh Xquang gợi ý cho chẩn đoán rất cao.
Cuối cùng, chẩn đoán tế bào học không chỉ dựa trên hình ảnh quan sát trên
kính hiển vi mà phải cần một bộ ba chẩn đoán tế bào học, lâm sàng (những
quan sát có được trong lúc chọc hút) và chẩn đoán hình ảnh sẽ làm tăng tính
chính xác của xét nghiệm chọc hút tế bào này
[2]
.
Khoa Giải phẫu bệnh
Nghiên cứu y học Bệnh viện đa khoa Quảng nam
A
B
Hình ảnh tế bào học (A) trước chọc hút và mô bệnh học (B) sau mổ của
carcinôm tuyến vú thể ống trên cùng một bệnh nhân.
KẾT LUẬN
Qua 72 trường hợp được nghiên cứu, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
Về độ tuổi trong nhóm nghiên cứu thì chủ yếu bệnh nhân nằm ở độ tuổi trên 41
tuổi (có ý nghĩa thống kê, với p< 0,05)
Về giới thì nữ nhiều hơn nam (không có ý nghĩa thống kê, p> 0,05)
Trong nghiên cứu của chúng tôi phần lớn bệnh nhân tập trung ở các huyện lân
cận của thành phố như Tam Kỳ, Phú Ninh, Thăng Bình, Núi Thành.
Vị trí tổn thương u được chọc hút tế bào có ở hầu hết khắp cơ thể, từ đầu đên
chân, và nhiều nhất trong lô nghiên cứu là vùng cổ và vú.
4. Nguyễn Chấn Hùng, Phó Đức Mẫn, Xây dựng chiến lược phòng chống
ung thư cho Thành phố Hồ Chí Minh, Y học Thành phố Hồ Chí Minh,
trường đại học Y – Dược Tp.HCM, số đặc biệt chuyên đề ung bướu học
(1998).
5. TRẦN PHƯƠNG HẠNH, từ điển bệnh học, Đại học y dược TP Hồ Chí
Minh, Nhà xuất bản y học TP Hồ Chí Minh, 2007, tr 35 – 41
6. DEMAY R. M. : The Art and Science of cytopathology. American Society of
Clinical Pathologistes Press, pp:847-937, 1996
7. FELDMAN P.S., COVELL J.L.: Fine needle aspiration cytology: Lymph
node, Thyroid and salivary gland, ASCP Press, Chicago, 3, 97-162, 1989.
8. CHAUHAN SAVITRI, DARAD DIMPLE, DHOLAKIA ADITI: Fine needle
aspiration cytology of head and neck lesions- an experience at Jinnah post
graduate medical centre, Karachi, Pak J Otolaryngol:2007:23: 63
Khoa Giải phẫu bệnh