1
Đại học Quốc gia Hà nội
Khoa luật
Cao Thị Thu Phương Sở hữu chung của vợ chồng
đối với quyền tài sản
theo pháp luật ở việt nam
Luận văn thạc sĩ Luật học
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Hà Thị Mai Hiên
Hà nội – 2011 4
MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỞ HỮU
CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG ĐỐI VỚI QUYỀN TÀI
SẢN VÀ VẤN ĐỀ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT
9
1.1.
Khái niệm, sự phân loại quyền tài sản và đặc điểm quyền
sở hữu đối với quyền tài sản
9
1.1.1.
Khái niệm quyền tài sản
9
1.1.2.
Phân loại quyền tài sản
58
2.1.
Nội dung pháp luật Việt Nam hiện hành về sở hữu chung của vợ,
chồng đối với quyền tài sản
59
2.1.1.
Khái quát về sở hữu chung của vợ, chồng theo Luật HNGĐ Việt
59
5
Nam năm 2000
2.1.2.
Căn cứ phát sinh sở hữu chung của vợ, chồng đối với quyền tài sản
60
2.1.3.
Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với quyền tài sản thuộc sở hữu
chung của vợ, chồng
76
2.1.4
Các căn cứ chấm dứt sở hữu chung của vợ, chồng đối với quyền tài
sản
86
2.2
Thực tiễn áp dụng pháp luật về sở hữu chung của vợ, chồng đối với
quyền tài sản - Một số vấn đề đặt ra và phương hướng hoàn thiện
92
2.2.1
Một số vấn đề bất cập trong pháp luật về sở hữu chung của vợ,
chồng đối với quyền tài sản
92 BLDS
Bộ luật Dân sự
ĐHQGHN
Đại học quốc gia Hà Nội
HĐTP
Hội đồng thẩm phán
HN&GĐ
Hôn nhân và gia đình
LDN
Luật Doanh nghiệp
LĐĐ
Luật đất đai
NĐ
Nghị định
NQ
Nghị quyết
SHCN
Sở hữu công nghiệp
SHTT
Sở hữu trí tuệ
8
giữa vợ và chồng. Bên cạnh các quan hệ nhân thân thì quan hệ tài sản giữa vợ và
chồng cũng là những quan hệ cơ bản và đặc biệt quan trọng đối với đời sống gia
đình. Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là các quan hệ được xác lập dựa trên đối
tượng là tài sản. Để cho gia đình tồn tại và phát triển, cần phải có các điều kiện vật
chất là cơ sở kinh tế của gia đình để nuôi sống gia đình. Do vậy chế độ tài sản của
vợ chồng luôn được các nhà làm luật của tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm
xây dựng như là một chế định cơ bản của luật HN&GĐ. “Chế độ tài sản của vợ
chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về (sở hữu) tài sản của vợ
chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ,
chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản
giữa vợ và chồng theo luật định” [6, trg. 8]. Việc quy định và thực hiện chế độ sở
hữu chung của vợ chồng đối với tài sản ở nước ta trong những năm qua đã góp phần
đảm bảo sự ổn định và bền vững của các quan hệ hôn nhân gia đình, đặc biệt là bảo
đảm sự cân bằng về mặt lợi ích giữa vợ và chồng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người phụ nữ. Trong xã hội hiện đại, vai trò và đóng góp của người phụ nữ đối
với gia đình cũng như đối với sự phát triển chung của toàn xã hội là rất to lớn và
cần được trân trọng và bảo vệ. Việc pháp luật quy định hợp lý về vấn đề sở hữu
chung của vợ, chồng sẽ giúp người phụ nữ bảo đảm và nâng cao vị trí của mình
trong gia đình cũng như trong xã hội, giúp tạo sự bình đẳng về mặt kinh tế và xã hội
của người vợ so với người chồng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của phụ
nữ. Pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam hiện hành điều chỉnh về vấn đề tài
sản chung của vợ chồng nhìn chung là khá đầy đủ và toàn diện, đã góp phần bảo vệ
quyền lợi của người phụ nữ, lợi ích chung của gia đình cũng như lợi ích của toàn xã
hội tuy nhiên trên thực tế áp dụng pháp luật vẫn nảy sinh nhiều điểm bất cập. Còn
nhiều vấn đề pháp luật chưa quy định thực sự rõ ràng dẫn đến việc các bên tham gia
quan hệ liên quan đến tài sản chung của vợ, chồng cũng như các cơ quan có thẩm
quyền gặp nhiều khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản
chung của vợ chồng.
10
tài sản nói riêng vẫn còn nhiều bất cập. Ngay bản thân khái niệm quyền tài sản chưa
được định nghĩa một cách rõ ràng và chính xác, trong luật chưa có sự phân loại các
quyền tài sản và chưa nêu ra được bản chất của từng loại quyền tài sản. Do chưa
phân loại được và chưa hiểu đúng bản chất của từng loại quyền tài sản nên các quy
định về quyền tài sản trong BLDS 2005 vừa thiếu lại vừa không chính xác. Chính vì
vậy, việc thực hiện quyền sở hữu đối với quyền tài sản còn trên thực tế còn gặp
nhiều khó khăn, làm phát sinh nhiều mâu thuẫn trong việc áp dụng pháp luật, do đó
các tranh chấp liên quan đến quyền tài sản chưa được giải quyết một cách hợp lý.
Điều này khiến cho việc thực hiện quyền sở hữu chung của vợ chồng đối với các
loại quyền tài sản lại càng gặp nhiều khó khăn hơn.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập như hiện nay, quan hệ tài
sản giữa vợ và chồng đang có nhiều thay đổi, sự thay đổi đó là cần thiết để tạo điều
kiện cho vợ và chồng phát huy khả năng kinh doanh của mỗi người, đảm bảo nền
tảng kinh tế cho cả gia đình cũng như sự phát triển kinh tế chung của toàn xã hội.
Các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành điều chỉnh về quan hệ
tài sản giữa vợ, chồng đã tỏ ra có nhiều điểm không còn phù hợp với sự phát triển
của kinh tế – xã hội ở nước ta, chính vì vậy việc nghiên cứu tìm ra những điểm bất
cập của pháp luật và đề ra các giải pháp sửa đổi là rất cần thiết. Đồng thời càng
ngày giá trị và vai trò của các quyền tài sản lại ngày càng được nâng cao hơn trong
đời sống xã hội vì vậy yêu cầu hoàn thiện các quy định pháp luật về sở hữu chung
của vợ, chồng đối với quyền tài sản đang đặt ra cấp thiết.
Qua việc nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về
quyền tài sản và sở hữu chung của vợ chồng đối với quyền tài sản, tác giả mong
muốn sẽ làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận về quyền tài sản và quan hệ sở hữu
chung của vợ chồng đối với quyền tài sản; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật
từ đó chỉ ra những điểm hợp lý và những điểm còn bất cập của pháp luật Việt Nam
hiện hành quy định về vấn đề này và từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn
thiện các quy định pháp luật cũng như nâng cao tính hiệu quả của pháp luật trong
trong quan hệ sản xuất của kinh tế thị trường khiến cho quan hệ sở hữu tài sản giữa
vợ và chồng cũng có những sự thay đổi đáng kể. Tuy nhiên pháp luật Việt Nam
12
điều chỉnh về quan hệ sở hữu tài sản của vợ chồng vẫn chưa có sự thay đổi phù hợp
với sự phát triển của nền kinh tế. Vì vậy việc nghiên cứu để làm rõ cả vấn đề lý luận
và thực tiễn để có những quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ,
chồng cho phù hợp với sự phát triển kinh tế của đất nước ta như hiện nay là rất cần
thiết.
Các vấn đề liên quan đến quyền tài sản cũng đã được nhiều tác giả nghiên
cứu đề cập đến trong các tài liệu chuyên sâu khác nhau, cụ thể là: “Quyền tài sản -
một loại tài sản theo pháp luật Dân sự Việt Nam” – Luận văn thạc sỹ của Sỹ Hồng
Nam học viên cao học Khoá 9 chuyên ngành Luật Dân sự tại Khoa Luật –
ĐHQGHN; bài viết “Tổng quan về Luật tài sản” của TS. Ngô Huy Cương; bài viết
“Cần xây dựng lại khái niệm Quyền tài sản trong Luật dân sự” và “Một số vấn đề về
quyền tài sản và hướng hoàn thiện” của TS. Nguyễn Ngọc Điện; Đề tài nghiên cứu
khoa học cấp trường “Tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam – Những vấn đề lý
luận và thực tiễn” của Đại học Luật Hà Nội v.v… Tuy nhiên, có thể nói cho đến nay
chưa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể về quan hệ sở hữu chung giữa vợ,
chồng đối với quyền tài sản, một loại tài sản đặc biệt trong thực tiễn.
Trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
cùng với nhu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, vấn đề về quyền tài sản và sở
hữu chung của vợ chồng đối với quyền tài sản cần được làm sáng tỏ hơn về mặt lý
luận và thực tiễn, làm cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền tài
sản nói chung và sở hữu chung của vợ chồng đối với quyền tài sản nói riêng, đáp
ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
* Mục đích: Làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận về quyền tài sản và sở hữu
chung của vợ chồng đối với quyền tài sản; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật
Việt Nam hiện hành điều chỉnh về vấn đề này, trên cơ sở đó đề xuất một số giải
quyền tài sản và sở hữu chung của vợ, chồng đối với quyền tài sản, chỉ ra những
điểm tiến bộ so với các quy định trước đây và những điểm còn bất cập. Luận văn
cũng đưa ra những đánh giá, nhận định khách quan về thực trạng áp dụng các quy
14
định pháp luật về quyền tài sản và sở hữu chung của vợ, chồng đối với quyền tài sản
và chỉ rõ những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của chúng.
- Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đưa ra được những kiến nghị cụ
thể nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền tài sản và sở hữu chung của
vợ chồng đối với tài sản nói chung và đối với quyền tài sản nói riêng.
7. Ý nghĩa của luận văn:
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên
cứu hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền tài sản và sở hữu chung của vợ
chồng đối với quyền tài sản nói riêng, từ đó góp phần nâng cao vai trò và hiệu quả
của pháp luật đối với đời sống xã hội.
Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên
cứu và học tập các môn học như Luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình v.v… tại
các cơ sở đào tạo luật.
8. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Khái quát một số vấn đề lý luận về sở hữu chung của vợ, chồng
đối với quyền tài sản và vấn đề điều chỉnh pháp luật
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về sở hữu chung của vợ, chồng
đối với quyền tài sản – Những bất cập và hướng hoàn thiện
được thực hiện một cách trực tiếp hoặc thông quan vai trò của một chủ thể khác,
người ta phân biệt giữa vật quyền và trái quyền. Do tính chất quan trọng của vật
quyền, đặc biệt do ảnh hưởng sâu rộng của nó đối với đời sống xã hội và giao lưu
16
dân sự nói riêng, người làm luật có xu hướng đòi hỏi vật quyền phải được luật ghi
nhận mới được coi là tồn tại hợp pháp và được bảo vệ. Cũng bằng phương pháp loại
suy, người ta nói rằng những tài sản không phải là vật quyền thì được gọi là trái
quyền. Theo thời gian có một loại quyền thứ ba, gắn với giá trị kinh tế của các công
trình tim óc như tác phẩm văn chương, khoa học, nghệ thuật gọi là quyền sở hữu trí
tuệ, đứng bên cạnh vật quyền và trái quyền như là một tài sản đặc thù [17].
Cách hiểu này được ghi nhận trong trường phái luật Châu Âu lục địa đó là
coi tài sản bao gồm: tài sản hữu hình là các vật và tài sản vô hình liên quan tới các
quyền. Điển hình cho cách quy định này là BLDS 1804 của Pháp. Bộ luật kinh điển
này không đưa ra một định nghĩa cụ thể nào về tài sản tuy nhiên tài sản được ghi
nhận trong Bộ luật này bao gồm hai loại là bất động sản và động sản (quyển thứ hai,
thiên 1 chương I nói về bất động sản và chương II nói về động sản). Trong thiên II
quyển thứ hai của Bộ luật này nói về quyền sở hữu đã ghi nhận cách phân loại khác
đó là tài sản bao gồm vật, các vật quyền và các tố quyền nhằm đòi lại tài sản. BLDS
Đức 1900 cũng không có định nghĩa cụ thể về tài sản nhưng xuyên suốt các quy
định của bộ luật này người ta có thể hiểu rằng tài sản theo nghĩa pháp lý không chỉ
là vật mà chủ yếu là các quyền.
Cách nhận thức về tài sản của các nước theo hệ thống luật Châu Âu lục địa
cũng khá tương đồng với các nước theo họ Pháp luật Anh - Mỹ. Các nước theo họ
pháp luật Anh – Mỹ cho rằng tài sản là một tập hợp các quyền trên vật có hiệu lực
chống lại những sự xâm hại của các chủ thể khác. Các luật gia Hoa Kỳ cho rằng, tài
sản là các quyền giữa mọi người có liên quan tới vật, hay nói cách khác, bao gồm
một hệ thống các quyền được thừa nhận về mặt pháp lý do ai đó thủ đắc trong mối
liên hệ với những người khác mà liên quan tới vật. Họ coi tài sản là “một mớ quyền”
(a bundle of rights) điều này có nghĩa là tài sản là một tập hợp các quyền trên vật có
chỉ nêu ra hai yêu cầu cơ bản để một quyền được coi là quyền tài sản đó là phải trị
giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự. Việc nêu ra hai
yêu cầu cơ bản này của quyền tài sản nhằm mục đích phân biệt các quyền tài sản
với các quyền không mang tính tài sản.
18
Một quyền muốn được coi là tài sản thì trước hết quyền đó phải trị giá được
bằng tiền. Đây là đặc điểm nhằm phân biệt quyền tài sản với quyền nhân thân.
Quyền nhân thân được ghi nhận trong BLDS là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá
nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác (điều 24 BLDS 2005). Quyền nhân thân là các quyền liên quan đến giá trị tinh
thần và gắn liền với mỗi cá nhân, quyền nhân thân cũng là nội dung cơ bản của
phạm trù nhân quyền. Chính vì vậy quyền nhân thân không thể trị giá được bằng
tiền mà chỉ có các quyền tài sản mới có thể trị giá được bằng tiền. Giá trị của quyền
tài sản có được thông qua các hình thức pháp lý khác nhau như : thông qua hợp
đồng dân sự như quyền đòi nợ, quyền sử dụng tài sản thuê hoặc do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền giao cho như quyền sử dụng đất, quyền khai thác khoáng sản
hoặc thông qua hoạt động sáng tạo ra tác phẩm hoặc được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền công nhận quyền sở hữu công nghiệp Có một số quyền tài sản gắn
liền với yếu tố nhân thân như quyền tác giả và các quyền liên quan và trong một số
trường hợp yếu tố nhân thân ảnh hưởng lớn đến giá trị của quyền tài sản đó ví dụ
như tác phẩm của một họa sĩ nổi tiếng sẽ có giá trị lớn hơn rất nhiều so với tác
phẩm của một họa sĩ bình thường. Các quyền sở hữu trí tuệ là các quyền vô hình và
giá trị của các quyền đó có thể thay đổi theo thời gian và phụ thuộc vào rất nhiều
yếu tố khác nên việc định giá tài sản trí tuệ là rất khó.
Đặc tính cơ bản thứ hai của quyền tài sản theo quy định của pháp luật dân sự
hiện hành đó là quyền đó có thể được chuyển giao trong giao lưu dân sự. Điều này
có nghĩa quyền tài sản phải là quyền được tự do lưu thông trong các giao dịch dân
sự. Tuy nhiên với yêu cầu này của điều 181 BLDS 2005 thì còn nhiều loại quyền
mang tính chất tài sản có nghĩa là có thể được định giá bằng tiền nhưng không thể
ghi nhận tại giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như là giấy phép khai
thác khoáng sản Đây là một điều kiện quan trọng để một quyền vô hình được coi
là tài sản vì nếu không thể nhận biết được thì pháp luật cũng như các chủ thể khác
không thể công nhận và tôn trọng quyền của chủ sở hữu đối với loại tài sản đó và
nếu không thể nhận biết được thì bản thân chủ sở hữu quyền tài sản đó cũng không
thể thực hiện quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản của mình.
20
Tiêu chí thứ hai là phải nhận biết được thời điểm bắt đầu cũng như kết thúc
quyền tài sản đó. Việc nhận biết sự tồn tại của quyền tài sản cũng việc dựa trên các
bằng chứng, tài liệu xác nhận quyền tài sản như đã phân tích ở trên. Đối với các vật
quyền thì ngoài các căn cứ nói trên, ở một số nước có thiết lập hệ thống đăng ký các
vật quyền tạo điều kiện cho tất cả các chủ thể quan tâm có thể biết được về sự tồn
tại của vật quyền đó.
Tiêu chí thứ ba là chủ sở hữu tài sản vô hình được pháp luật bảo vệ khi
quyền sở hữu bị xâm phạm thì chủ sở hữu cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý khi
thực hiện quyền sở hữu các loại tài sản vô hình này [58, tr. 51]. Thực ra đây là yếu
tố luật định mà không phải chỉ là đặc điểm riêng của quyền tài sản mà còn là đặc
điểm của tài sản nói chung.
Cách hiểu thứ hai về khái niệm quyền tài sản đó là “quyền tài sản hiểu theo
nghĩa rộng là quyền của các cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép thực hiện
hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu người khác phải thực hiện một
nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất cho mình” [57, tr. 7]. Thông qua khái niệm quyền
tài sản nêu trên, chúng ta có thể hiểu quyền tài sản được thể hiện dưới hai dạng đó
là “quyền của các cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử
sự đối với tài sản của mình” và “quyền yêu cầu người khác phải thực hiện một
nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất cho mình”. Tuy nhiên việc ghi nhận quyền tài sản
là “quyền của các cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử
sự đối với tài sản của mình” khiến người ta có thể hiểu ngay đó là quyền sở hữu tuy
nhiên quyền tài sản không chỉ là quyền sở hữu mà còn bao gồm rất nhiều quyền đối
động sản và bất động sản, vật chính và vật phụ, Với cách quy định đó của BLDS
2005 quyền tài sản trở thành một khái niệm rất hẹp và không đủ tầm vóc để đảm
đương vai trò đối trọng với quyền nhân thân, là những quyền không có giá trị tài
sản, trong luật dân sự” [15]. Vậy thế nào là quyền tài sản và nội hàm của khái niệm
này được mở rộng đến đâu vẫn còn là một vấn đề lớn mà các nhà làm luật của Việt
Nam phải giải quyết.
22
1.1.2 Phân loại quyền tài sản
Hiện nay trong khoa học pháp lý ở Việt Nam tồn tại nhiều cách phân loại quyền tài
sản khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau.
Cách phân loại thứ nhất dựa trên đặc điểm vật chất của đối tượng mang
quyền tài sản, người ta chia quyền tài sản thành bất động sản và động sản. Đây là
cách phân loại tài sản truyền thống trong lịch sử pháp luật của nhiều quốc gia và
được hình thành từ thời La Mã cổ đại. Việc phân biệt động sản và bất động sản đã
tạo lập hai chế độ pháp lý khác nhau đối với tài sản. Vì quyền tài sản cũng là tài sản
nên cũng có thể được phân loại thành động sản và bất động sản.
Luật Việt Nam hiện hành cũng phân chia tài sản thành động sản và bất động sản.
Tại Điều 174 BLDS 2005, các nhà làm luật đã liệt kê những tài sản được coi là bất
động sản bao gồm:
a) Đất đai;
b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà,
công trình xây dựng đó;
c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
d) Các tài sản khác do pháp luật quy định
Ngoài các bất động sản nêu trên thì tất cả các tài sản khác là động sản.
Căn cứ vào quy định nêu trên thì quyền tài sản có thể là bất động sản nếu rơi vào
hai trường hợp: thứ nhất là quyền tài sản đó gắn liền với đất đai; trường hợp thứ hai
không phải là một nghĩa vụ nên quyền sở hữu trí tuệ không thể là bất động sản do
có đối tượng là bất động sản và quyền sở hữu trí tuệ cũng không thuộc trường hợp
luật quy định là bất động sản do đó chúng ta có thể suy ra quyền sở hữu trí tuệ là
động sản. Tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng không nên phân loại quyền sở hữu
trí tuệ thành động sản hay bất động sản bởi tính chất đặc thù của nó nên cần phải
xem xét nó một cách độc lập bên cạnh các tài sản khác.
Cách phân loại thứ hai dựa trên tính chất quyền tài sản có thể chia quyền tài
sản thành 3 nhóm: quyền đối vật hay còn gọi là vật quyền, quyền đối nhân hay còn
gọi là trái quyền và quyền sở hữu trí tuệ (trước đây có cách gọi khác của quyền sở
hữu trí tuệ đó là quyền sở hữu vô hình). Cách phân loại này không được ghi nhận
24
trong luật thực định của Việt Nam mà được hình thành và phát triển trong khoa học
pháp lý. Theo cách hiểu truyền thống thì vật quyền là một quyền mà đối tượng là
một vật hữu hình, chính vì vậy mà nó được gọi là quyền đối vật. Vật quyền là một
khái niệm được xây dựng đối trọng với trái quyền và vật quyền và trái quyền cũng
là các công cụ phân loại tài sản giống như động sản và bất động sản. Đây là khái
niệm vật quyền trong cổ luật, tuy nhiên hiện nay đã hình thành các quan điểm khác
cho rằng cách hiểu về quyền đối vật phải được mở rộng bao gồm cả các quyền gắn
liền với những tài sản vô hình khác như quyền sử dụng đất, quyền tài sản phát sinh
từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền
khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền đối với phần vốn góp trong doanh
nghiệp [35, tr. 24]. Tuy nhiên cách hiểu mở rộng phạm vi nội hàm của vật quyền
như vậy chưa hẳn đã chính xác vì những quyền mà tác giả này nêu trên không phải
là quyền đối nhân mà cũng không được thực hiện trên một vật nào cụ thể như quyền
tác giả và quyền sở hữu công nghiệp. Trong khoa học pháp lý đã hình thành khái
niệm khác về vật quyền đó là “vật quyền được hiểu là quyền của một chủ thể đối
với một tài sản, cho phép chủ thể trực tiếp thực hiện các quyền năng được pháp luật
thừa nhận đối với một tài sản” [19]. Cách hiểu này bắt nguồn từ quan niệm về vật
quyền của các nước theo văn hóa pháp lý romano – germany. Quan niệm về vật
của mình đối với tài sản cho dù tài sản đó đang nằm trong tay của người thứ ba nào.
Ví dụ: chủ sở hữu tài sản có quyền kiện đòi lại tài sản của mình bị chiếm đoạt bất
hợp pháp kể cả khi tài sản đó đã được chuyển giao cho người thứ ba; người có
quyền về lối đi qua bất động sản liền kề có quyền sử dụng lối đi đó kể cả khi bất
động sản liền kề đó đã được chuyển giao cho người khác Quyền ưu tiên là quyền
của người có quyền đối vật có thể được ưu tiên thực hiện quyền đối với tài sản liên
quan hơn tất cả các chủ thể có quyền đối nhân hoặc chủ thể có quyền đối vật khác
(có thứ tự ưu tiên sau). Quyền này đặc biệt ý nghĩa trong trường hợp quyền đối vật
mang tính chất của một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ như cầm cố, thế
chấp
26
Các vật quyền được biết đến trong đời sống thực tiễn tồn tại rất đa dạng do
đó để hiểu được bản chất của từng loại vật quyền thì người ta phải phân loại nó dựa
trên các tiêu chí khác nhau. Dựa vào tiêu chí đối tượng của vật quyền có thuộc
quyền sở hữu của người có quyền hay không, người ta phân loại vật quyền thành
quyền sở hữu (quyền trên tài sản của mình) và các vật quyền khác (quyền trên tài
sản của người khác). Quyền sở hữu là một vật quyền tuyệt đối và trọn vẹn nhất vì
đối tượng của quyền này thuộc về người có quyền. Dựa trên quyền sở hữu, chủ sở
hữu có độc quyền đối với tài sản từ việc nắm giữ, kiểm soát về mặt vật chất đối với
tài sản cũng như khai thác công năng kinh tế đồng thời có thể quyết định số phận
pháp lý của tài sản. Các quyền đối vật khác được hiểu là các quyền xác lập trên tài
sản của người khác hay còn được gọi là dịch quyền. Bản thân dịch quyền cũng có
thể được chia thành hai loại là dịch quyền thuộc người và dịch quyền thuộc vật.
Dịch quyền thuộc người là một quan hệ trong đó một tài sản gánh chịu dịch quyền
vì lợi ích của một người như quyền hưởng dụng, quyền ngụ cư, quyền thuê dài hạn,
quyền bề mặt…Dịch quyền thuộc vật hay còn gọi là địa dịch là quan hệ mà trong đó
một bất động sản gánh chịu dịch quyền vì một bất động sản khác [11, tr. 20].
Cách phân loại vật quyền thứ hai dựa trên tiêu chí tính chất tác động mà
người có quyền có thể thực hiện đối với vật là đối tượng của quyền, vật quyền được