Các quy định của pháp luật thương mại quốc tế liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

DƯƠNG THỊ THU THẢO

CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2012 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT



Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt MỞ ĐẦU
1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ LIÊN QUAN ĐẾN BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG
7
1.1.
Một số khái niệm
7
1.1.1.
Luật thương mại quốc tế
7
1.1.2.
Môi trường
9
1.1.3.

QUAN TỚI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
26
2.1.
Quy định của WTO liên quan đến bảo vệ môi trường
26
2.1.1.
Hiệp định về tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật đối với sản phẩm (TBT)
27
2.1.2.
Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS)
33
2.1.3.
Hiệp định Nông nghiệp
38
2.1.4.
Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS)
42
2.1.5.
Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng
45
2.1.6.
Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (GATS)
47
2.2.
Một số Điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường có liên quan tới hoạt
động thương mại quốc tế
49
2.2.1.
Công ước về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp
(CITES)


Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP
PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
89
3.1.
Thực trạng của pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong
thương mại quốc tế
89
3.1.1.
Tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật đối với sản phẩm
89
3.1.2.
Biện pháp kiểm dịch động thực vật
95
3.1.3.
Lĩnh vực đầu tư
101
3.1.4.
Lĩnh vực môi trường
107
3.2.
Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ
môi trường trong thương mại quốc tế
121
3.2.1.
Tăng cường vai trò của cơ quan nhà nước trong việc hoàn thiện pháp
luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế
121
3.2.2.

: Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch
HACCP
: Hệ thống kiểm soát khẩn cấp và phân tích rủi ro
ISO
: Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế
MEAs
: Hiệp định môi trường đa phương
Montreal
: Nghị định thư về các chất làm suy giảm tầng ô dôn.
SPS
: Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động, thực vật
TBT
: Hiệp định về những rào cản kỹ thuật trong thương mại
TRIPS
: Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại
WTO
: Tổ chức thương mại thế giới
1

MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài

Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Các quy định của pháp luật thương mại
quốc tế liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, mối quan hệ giữa pháp luật thương mại và môi
trường đã được sự quan tâm nghiên cứu ở bình diện quốc tế cũng như cấp độ quốc
gia. Đã có nhiều công trình nghiên cứu phát triển thương mại bền vững ở các nước,
đặc biệt là các quốc gia đang tiến hành công nghiệp hóa. Nhiều tổ chức quốc tế
cũng đã quan tâm đến vấn đề này ở Việt Nam với một số công trình nghiên cứu:
- UNCTAD và Tổng cục đo lường tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam (1998),
“áp dụng hệ thống quản lý môi trường ở Việt Nam”;
- SIDA Thụy Điển và Cục Môi trường (1999), “Những vấn đề môi trường
liên quan đến mở rộng thương mại quốc tế của Việt Nam”;
- UNDP và Cục Xúc tiến thương mại (2001), “Chính sách môi trường trong
phát triển thương mại của Việt Nam”.
Bên cạnh đó, nhiều học giả nước ngoài cũng quan tâm đến vấn đề phát triển
thương mại và bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Chẳng hạn nghên cứu của Khor
(1993) đã đề cập đến vấn đề tự do hóa thương mại ở Việt Nam và việc bảo vệ tài
nguyên đa dạng sinh học; nghiên cứu của S. Banergee (1998) về mối quan hệ của
ngành thương mại Việt Nam trong việc tiếp cận và sử dụng các quy định và tiêu
chuẩn môi trường quốc tế…
Ở Việt Nam, vấn đề về pháp luật thương mại quốc tế và môi trường nói chung
và những vấn đề cụ thể liên quan đến chủ đề này cũng đã được đề cập nhiều từ thập
niên 90 trở lại đây. Liên quan đến chủ đề nghiên cứu trong luận văn này có một số
công trình như:
- Vụ chính sách thương mại đa biên – Bộ Thương mại (2002), “Hoàn thiện
chính sách quản lý nhập khẩu nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường ở Việt Nam”;
3

- Dương Thanh An (2002), “Mối quan hệ giữa bảo vệ môi trường và thương
mại trong các liên kết thương mại quốc tế và ảnh hưởng của chúng tới hệ thống

- Hệ thống hóa lý luận chung của pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ
môi trường.
- Hệ thống và đánh giá quy định của WTO, quy định của một số điều ước
quốc tế tiêu biểu về bảo vệ môi trường có liên quan đến thương mại quốc tế.
- Nghiên cứu và phân tích quy định pháp luật của một số nước trong quá
trình bảo vệ môi trường khi tham gia quan hệ thương mại quốc tế.
- Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề môi trường
trong thương mại quốc tế.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật Việt
Nam, nâng cao khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường liên quan
đến thương mại khi Việt Nam gia nhập thị trường quốc tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu tác động của một số quy
định, tiêu chuẩn môi trường trong pháp luật thương mại quốc tế đến Việt Nam. Khả
năng đáp ứng và nội luật hóa các quy định đó vào thực tiễn pháp luật trong nước.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: các quy định về môi trường trong pháp luật
thương mại quốc tế bao gồm rất nhiều lĩnh vực và là một hệ thống các mối quan hệ
nhiều chiều, phức tạp.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tôi xin được đưa ra một số vấn đề
mang tính tiêu biểu, nổi bật như:
- Nghiên cứu quy định của WTO liên quan đến bảo vệ môi trường;
- Nghiên cứu một số điều ước quốc tế về môi trường mà hiện nay thường áp
dụng phổ biến trong thực tiễn và nếu không tuân thủ các quy định này sẽ gây thiệt
hại lớn cho nền kinh tế - xã hội, thiệt hại cho môi trường, xa hơn nữa ảnh hưởng
đến sự tồn vong của sự sống trên trái đất;
5

- Nghiên cứu quy định của một số quốc gia có nền kinh tế phát triển, quốc
gia có nền kinh tế đang phát triển làm căn cứ so sánh, rút ra những bài học thực tiễn
cho Việt Nam.

Việt Nam về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Nông Quốc Bình – người thầy đã
tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến trong suốt quá trình
hoàn thiện luận văn.
Do tính phức tạp và phạm vi tương đối rộng của để tài nên luận văn không
tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp chân
thành của quý thầy cô giáo và toàn thể các bạn để tiếp tục hoàn thiện đề tài trong
những lần nghiên cứu sau.
7

NỘI DUNG
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ LIÊN QUAN ĐẾN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG.
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Luật thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế là một hoạt động quan trọng của một quốc gia, đặc biệt
trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay thì các quan hệ hợp tác với nước ngoài có thể tác
động rất lớn tới việc phát triển kinh tế.
Trên thực tế thương mại quốc tế có đối tượng và chủ thể rất đa dạng và phong
phú bởi vậy trong nhiều trường hợp có rất nhiều cách hiểu và sử dụng khái niệm
“thương mại quốc tế” chưa thống nhất.

có Việt Nam. Bởi vậy, công cụ hỗ trợ đắc lực và hữu hiệu nhất cho thương mại
quốc tế, cho toàn cầu hóa và hội nhập, đó chính là luật thương mại quốc tế. Ngày
nay, pháp luật thương mại quốc tế đã trở thành một hệ thống khá hoàn chỉnh và đồ
sộ, tạo lập hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế - thương mại quốc tế, là “bà
đỡ” cho quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Vậy luật
thương mại quốc tế là gì?
Cho đến nay có nhiều cách định nghĩa về luật thương mại quốc tế:
Theo giáo trình luật thương mại quốc tế năm 2005 - Đại học quốc gia Hà Nội,
“Luật thương mại quốc tế là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật, bao
gồm quy phạm pháp luật quốc gia, quy phạm điều ước và tập quán quốc tế nhằm
điều chỉnh các quan hệ thương mại – quan hệ thương mại hàng hóa, thương mại
dịch vụ, thương mại đầu tư, và thương mại liên quan đến quyền sở hữu có yếu tố
nước ngoài.” [10]
Giáo trình luật thương mại quốc tế năm 2008 của trường Đại học luật Hà Nội
lại có cách định nghĩa ngắn gọn hơn: “Luật thương mại quốc tế là tổng hợp các
nguyên tắc, các quy phạm điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động
thương mại quốc tế.” [11]
Dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng có thể thấy rằng, luật thương
mại quốc tế hiện đại là một ngành luật đặc thù, bao gồm các quy phạm mang tính
chất công pháp quốc tế và các quy phạm mang tính chất tư pháp quốc tế. Các quy
9

phạm mang tính chất công pháp quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia và
chủ thể của luật quốc tế phát sinh trong hoạt động thương mại quốc tế. Còn các quy
phạm mang tính chất tư pháp quốc tế điều chỉnh các quan hệ giữa các cá nhân, pháp
nhân phát sinh trong hoạt động thương mại quốc tế.
1.1.2. Môi trường
Điều 3 của luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2005 có định nghĩa:
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con
người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và

Vấn đề môi trường chỉ được phát hiện và quản lý tốt khi xem xét môi trường
trong tính toàn vẹn hệ thống của nó. Môi trường có tính hệ thống. Đó là các hệ
thống mở, gồm nhiều cấp, trong đó có người và các yếu tố xã hội – nhân văn, thông
qua các điều kiện tác động, tác động vào hệ thống tự nhiên. Không thể có vấn đề
môi trường nếu thiếu hoạt động của con người. Trong bất cứ vấn đề môi trường nào
cũng có đầy đủ các thành tố của ba phân hệ:
- Phân hệ sinh thái tự nhiên: tạo ra các loại tài nguyên thiên nhiên, năng
lượng, nơi cư trú và nơi chứa đựng chất thải.
- Phân hệ xã hội – nhân văn: tạo ra các chủ thể tác động lên hệ tự nhiên.
- Phân hệ các điều kiện: tạo ra các phương thức, các kiểu loại, các mức độ
tác. động lên cả hai hệ tự nhiên và hệ xã hội nhân văn. Những tác động lên hệ tự
nhiên gây ra do con người và hoạt động phát triển của con người được gọi là tác
động môi trường. Những tác động ngược lại của hệ tự nhiên lên xã hội và hoạt động
của con người được gọi là sức ép môi trường.
Do môi trường có tính hệ thống nên công tác môi trường đòi hỏi những kiến
thức đa ngành, liên ngành. Những quyết định về môi trường chỉ dựa trên một lĩnh
vực chuyên môn nhất định không hoàn hảo và không hiệu quả mà cần dựa trên sự
hợp tác của nhiều ngành. Quản lý môi trường chính là điều phối sự hợp tác đó trên
cơ sở thỏa hiệp tự nguyện và bắt buộc của các ngành nhằm thực hiện các quy định
luật pháp về bảo vệ môi trường.
1.1.3. Luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường
Như đã nói ở Mục 1.1.2, để thực hiện tốt các quy định của luật pháp về bảo vệ
môi trường cần phải đặt vấn đề môi trường, quản lý môi trường trong tính hệ thống.
11

luật thương mại quốc tế là một ngành luật độc lập, cũng có vai trò góp phần vào quá
trình bảo vệ môi trường chung.
Đối với vấn đề bảo vệ môi trường, luật thương mại quốc tế điều chỉnh tác
động của thương mại quốc tế lên môi trường, tác động của môi trường đối với
thương mại quốc tế và đảm bảo tính hài hòa giữa các mối quan hệ này.

nhiều hơn, từ đó gây nguy cơ suy thoái tài nguyên.
1.2.1. Tác động của luật thương mại quốc tế tới bảo vệ môi trường
1.2.1.1. Tác động tích cực
Luật thương mại quốc tế tạo thuận lợi cho hàng hóa thân thiện với môi trường
tiếp cận thị trường: Quá trình tự do hóa thương mại toàn cầu đang thúc ép các quốc
gia hạn chế và tiến tới loại bỏ các rào cản thương mại để hàng hóa và dịch vụ được
di chuyển dễ dàng giữa các quốc gia, tạo nên sự tăng trưởng thương mại toàn cầu.
Tuy nhiên, khi các rào cản thương mại bị bãi bỏ thì các tiêu chuẩn và quy định kỹ
thuật ngày càng có vai trò quan trọng trong cạnh tranh thương mại quốc tế. Đặc
biệt, trong bối cảnh các vấn đề môi trường toàn cầu đang có nguy cơ ngày càng gia
tăng, nhu cầu người tiêu dùng về các sản phẩm thân thiện với môi trường ngày càng
cao thì việc áp dụng các quy định và tiêu chuẩn môi trường ở các nước ngày càng
trở nên phổ biến và bắt buộc. Trước tình hình đó, các sản phẩm thân thiện với môi
trường (đáp ứng các tiêu chuẩn và quy định môi trường) dễ được chấp nhận hơn so
với các sản phẩm không tuân thủ các yêu cầu nói trên. Thực tế cho thấy công ty áp
dụng các biện pháp quản lý môi trường tốt như ISO 14000, HACCP dễ được
khách hàng tiếp nhận hơn, uy tín cao hơn.
Luật thương mại quốc tế tạo khả năng cạnh tranh cao cho các sản phẩm dịch
vụ thân thiện với môi trường: Mặc dù việc áp dụng các tiêu chuẩn, quy định về môi
trường trong nhiều trường hợp làm tăng chi phí sản xuất, do vậy trong ngắn hạn có
thể ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hãng. Tuy nhiên, những công ty cũng
như sản phẩm của họ có chứng nhận môi trường như chứng chỉ ISO 14000, nhãn
sinh thái có lợi thế hơn trong việc vay vốn ngân hàng để mở rộng quy mô sản xuất,
dễ tiếp cận các thị trường khó tính.
Trong tương lai, sẽ đến một thời kỳ mà nhu cầu của người tiêu dùng đối với
các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường là thực sự khách quan, việc có
chứng chỉ phù hợp với các tiêu chuẩn môi trường như ISO 14000 chẳng hạn sẽ là
13

một lợi thế đáng kể trong đấu thầu quốc tế và quốc gia, tạo uy tín và vị thế của công


nhiều quốc gia áp dụng khi các rào cản về thuế quan buộc phải loại bỏ. Xu thế dùng
các yêu cầu về hệ thống quản lý môi trường hoặc nhãn môi trường như một trong
những rào cản thương mại phi thuế quan là hoàn toàn có thể xảy ra trong tương lai
khi các khu mậu dịch tự do được thiết lập và mở rộng ở nhiều khu vực trên thế giới.
Vì vậy, việc vượt qua rào cản này có thể là một thách thức lớn lao đối với các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu trong nhiều năm tới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển,
nơi đang còn thiếu nhiều điều kiện để đáp ứng yêu cầu các nhà nhập khẩu.
Các quy định thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường có thể là thách thức
đối với các nước đang phát triển:
Thứ nhất, các công ty của các nước đang phát triển không có hệ thống quản lý
tại chỗ, do đó họ có thể gặp phải những khó khăn đáng kể trong việc áp dụng các hệ
thống quản lý phức tạp hơn.
Thứ hai, trong khi ở những nước phát triển thông tin về các quy định và luật
pháp áp dụng có thể nhận được thông qua các kênh thông tin được sử dụng tốt, thì
các công ty ở những nước đang phát triển có thể phải đối mặt với các chi phí cao
hơn trong việc thu thập thông tin đầy đủ về toàn bộ các quy định và pháp luật phải
áp dụng.
Thứ ba, trong khi ở các nước phát triển việc phân tích và đánh giá môi trường
được yêu cầu thường xuyên thì các công ty ở những nước đang phát triển có thể
phải chịu chi phí đáng kể trong đánh giá tác động môi trường.
Các quy định, tiêu chuẩn về môi trường trong thương mại quốc tế tạo thách
thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình sản xuất các sản phẩm dịch
vụ thân thiện với môi trường.
Những khó khăn mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đối mặt trong việc xây
dựng và áp dụng các quy định và tiêu chuẩn môi trường:
Trước hết là thiếu các nguồn tài chính cần thiết, thiếu cán bộ có trình độ, khó
tiếp cận các nguồn thông tin, khó có khả năng chịu được các chi phí có liên quan
đến việc xây dựng và chứng nhận.
15


sẽ phục vụ cho việc thống nhất quan điểm của các nước trong cách tiếp cận của họ
đối với nhãn sinh thái, quản lý môi trường và đánh giá chu trình sống. Nhận thức và
cách tiếp cận thống nhất này sẽ giúp gỡ bỏ nhanh hơn các hàng rào trong thương
mại và như vậy nó sẽ hỗ trợ cho quá trình thương mại tự do.
1.2.2.2. Tác động tiêu cực
Bảo vệ môi trường làm hạn chế khả năng cạnh tranh, gây ảnh hưởng tới quá
trình xây dựng các tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật trong thương mại quốc tế: Những
cuộc tranh chấp thương mại liên quan đến các quy định và tiêu chuẩn môi trường
gần đây cho thấy nhiều quốc gia sử dụng các biện pháp và chính sách môi trường để
hạn chế nhập khẩu cũng như là một phương thức để tăng cạnh tranh xuất khẩu, tăng
cường chỗ đứng trên thị trường, ngay cả khi chưa có áp lực gay gắt từ khách hàng
nước ngoài. Như vậy, các biện pháp môi trường có thể được sử dụng một cách tiềm
tàng như một công cụ marketing ở cả trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, không phải
quốc gia nào cũng có đầy đủ các điều kiện để áp dụng các quy định và tiêu chuẩn
môi trường để nâng cao khả năng cạnh tranh hàng hóa của mình. Thực tế này là một
thách thức lớn đối với các quốc gia đang phát triển cũng như các doanh nghiệp vừa
và nhỏ, nơi mà việc áp dụng các biện pháp môi trường có thể làm tăng đáng kể chi
phí sản xuất, do vậy làm giảm khả năng cạnh tranh.
Bảo vệ môi trường, sự hài hòa với thiên nhiên là chứng chỉ của một nền kinh
tế phát triển bền vững, tuy nhiên nó vô tình đẩy các quy định, tiêu chuẩn môi trường
trong thương mại quốc tế trở thành rào cản tới các hoạt động kinh tế, gây ảnh
hưởng tới tự do hóa thương mại. Tự do hóa thương mại là một quá trình lâu dài, gắn
chặt với quá trình đàm phán để cắt giảm các rào cản thương mại. Các nước, đặc biệt
là các nước công nghiệp phát triển, một mặt luôn đi đầu trong việc đòi hỏi phải mở
cửa thị trường và thúc đẩy tự do hóa thương mại, mặt khác lại luôn tìm kiếm các rào
cản tinh vi và phức tạp hơn thông qua các tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn môi
trường, các biện pháp hành chính nhằm bảo hộ sản xuất trong nước của họ. Việc
lạm dụng chính sách bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của các
nước phát triển gây nên trở ngại rất lớn đối với hoạt động xuất khẩu của các nước

bảo vệ môi trường.
b. Trong hệ thống các luật, pháp lệnh về bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ môi
trường có thể coi là đạo luật có vị trí trung tâm (luật chung) trong hệ thống văn bản
18

quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 gồm
136 điều được chia làm 15 chương quy định 14 nhóm vấn đề quan trọng.
c. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường còn có các đạo
luật, pháp lệnh về bảo vệ các thành tố môi trường (còn gọi là các đạo luật, pháp lệnh
về tài nguyên). Cụ thể, đó là các đạo luật, pháp lệnh như: Luật Bảo vệ và phát triển
rừng năm 2004; Luật Đất đai năm 2003; Luật Thủy sản năm 2003; Luật Dầu khí
năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 2000); Luật Tài nguyên nước năm 1998;
Luật Khoáng sản năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005) v.v.
d. Ngoài ra, quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường hoặc nghĩa vụ tuân thủ
các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các tổ chức, cá nhân còn
nằm rải rác trong nhiều đạo luật khác. Trong số đó phải kể đến: Luật Doanh nghiệp
năm 2005, Luật Đầu tư năm 2005, Luật Đấu thầu năm 2005, Luật Nhà ở năm 2005,
Luật Thanh niên năm 2005; Bộ luật Hàng hải năm 2005; Luật Du lịch năm 2005;
Luật Quốc phòng năm 2005; Luật Giáo dục năm 2005; Luật Điện lực năm 2005;
Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em năm 2004; Luật Giao thông đường thủy nội địa
năm 2004; Luật Hợp tác xã năm 2003; Luật Xây dựng năm 2003; Luật Biên giới
quốc gia năm 2003; Luật Hải quan năm 2001; Luật Di sản văn hóa năm 2001; Luật
Phòng cháy, chữa cháy năm 2001; Luật Giao thông đường bộ năm 2001; Luật Khoa
học và Công nghệ năm 2000; Luật Hàng không dân dụng năm 1991 (sửa đổi, bổ
sung năm 1995); Luật về tiêu chuẩn và kỹ thuật năm 2006; Luật chất lượng sản
phẩm hàng hóa 2007; Luật bảo vệ người tiêu dùng 2010…
Một số đạo luật, pháp lệnh còn quy định cụ thể việc xử lý vi phạm pháp luật
đối với hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Trong số đó, phải kể đến Bộ luật
Dân sự năm 2005, Bộ luật Hình sự năm 1999, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính
năm 2002…

với các bên chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế nếu các bên chủ thể này có
quốc tịch hoặc có nơi cư trú ở các quốc gia là các nước thành viên của điều ước
quốc tế đó.
- Trong trường hợp có sự quy định khác nhau giữa điều ước quốc tế và pháp
luật trong nước là thành viên điều ước quốc tế đó thì quy định của điều ước quốc tế
được ưu tiên áp dụng.

Trích đoạn Điều ước quốc tế Điều ước quốc tế đa phương Nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế Củng cố vai trò của các hiệp hội góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế Xác định trách nhiệm của từng cá nhân đối với hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status