Bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân qua thực tiễn xã Dương Xá huyện Gia Lâm-thành phố Hà Nội - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ THÚY
BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
QUA THỰC TIỄN XÃ DƢƠNG XÁ
HUYỆN GIA LÂM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. BÙI XUÂN ĐỨC
HÀ NỘI - 2014


1.1.1. Bầu cử 10
1.1.2. Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 13
1.2. Mục đích, ý nghĩa của Bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân 16
1.3. Sự hình thành và phát triển các qui phạm về bầu cử đại
biểu Hội đồng nhân dân 20
1.3.1. Thời kỳ từ 1945 đến năm 1954 22
1.3.2. Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975 24
1.3.3. Thời kỳ từ năm 1975 đến trước năm 1992 25
1.3.4. Thời kỳ từ năm 1992 đến nay 29
1.4. Các nguyên tắc bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân 32
1.4.1. Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu 34
1.4.2. Nguyên tắc bình đẳng 36
1.4.3. Nguyên tắc bầu cử trực tiếp 37
1.4.4. Nguyên tắc bỏ phiếu kín 38
1.5. Quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân 39
1.5.1. Quyền bầu cử 39
1.5.2. Quyền ứng cử 41
Kết luận Chƣơng 1 43
Chƣơng 2: THỰC TIỄN CÔNG TÁC BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI
ĐỒNG NHÂN DÂN TẠI XÃ DƢƠNG XÁ, HUYỆN GIA
LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 44
2.1. Công bố ngày bầu cử 44
2.2. Các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 46
2.2.1. Hội đồng bầu cử ở Trung Ương 47
2.2.2. Ủy ban bầu cử 47
2.2.3. Ban bầu cử 48
2.2.4. Tổ bầu cử 50
2.3. Lập Danh sách cử tri 54
2.3.1. Đối tượng được lập danh sách cử tri 54
2.3.2. Điều chỉnh và bổ sung danh sách cử tri 55

đang trong tiến trình đô thị hóa 87
3.2.3. Xây dựng, hoàn thiện các qui định của pháp luật về tổ chức,
nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các tổ chức phụ trách bầu cử 87
3.2.4. Bố trí các đơn vị bầu cử đảm bảo tính công bằng và tính đại diện 89
3.2.5. Đảm bảo dân chủ trong qui trình hiệp thương và mở rộng qui
định tự ứng cử của công dân 93
3.2.6. Đổi mới các qui định về vận động bầu cử phù hợp với tình hình
hiện nay 96
3.2.7. Đổi mới phương pháp xác định kết quả bầu cử 98
3.2.8. Khẳng định bầu cử là quyền và trách nhiệm của công dân, khôi
phục nguyên tắc bầu cử tự do 99
Kết luận Chƣơng 3 100
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐB HĐND: Đại biểu Hội đồng nhân dân
HĐND: Hội đồng nhân dân
MTTQ: Mặt trận tổ quốc
NXB: Nhà xuất bản
UBND: Uỷ ban nhân dân
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
phần xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN).
Gắn liền bầu cử đại biểu Quốc Hội, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
( HĐND) các cấp trở thành đợt vận động và sinh hoạt dân chủ sâu rộng cho
mọi tầng lớp nhân dân cả nước để bầu ra những đại biểu ưu tú, đại diện cho
nhân dân tại Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, bầu ra các đại
biểu đại diện cho nhân dân địa phương tại HĐND cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã
– cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.
Trải qua một thời gian dài đấu tranh giành độc lập, bảo vệ và xây dựng
đất nước Đảng, nhà nước và nhân dân Việt Nam chung sức một lòng phấn
đấu phát triển đi lên theo con đường XHCN. Để thực hiện thành công mục
tiêu dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhiệm vụ trọng tâm công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước chúng ta không quên vai trò của sức mạnh đại đoàn kết và

2
càng thấm nhuần tư tưởng của Bác “Lấy dân làm gốc”. “Nhân dân là chủ thể
tối cao của quyền lực nhà nước” nên không ai khác ngoài nhân dân là người
bầu ra các cơ quan quyền lực nhà nước. Từ năm 2001, Đảng ta đã chỉ rõ cần
phải “Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND, hoàn thiện
những qui định về bầu cử, ứng cử và tiêu chuẩn đại biểu Quốc Hội và HĐND
trên cơ sở thật sự phát huy dân chủ” [3, tr.134]. Mặt khác, trong xu hướng
Đảng và nhà nước ta tập trung đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho chính
quyền địa phương - một trong những giải pháp để phát huy quyền chủ động,
sáng tạo của mỗi chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý nhà nước,
nên việc tổ chức bầu cử đại biểu HĐND trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Mặc dù, công tác bầu cử đại biểu HĐND đã được quan tâm, chỉ đạo
của các cấp, các ngành một cách sâu rộng, từ việc hoàn thiện lại hệ thống văn
bản qui phạm pháp luật, các văn bản hướng dẫn thực hiện đến việc triển khai,
tổ chức cuộc bầu cử. Nhưng kết quả thu được từ cuộc bầu cử đại biểu HĐND
ở các địa phương nói chung, ở xã Dương Xá nói riêng vẫn chưa đáp ứng được
yêu cầu, làm thoả mãn nguyện vọng của cử tri, cần có những thay đổi mới mẻ

thiện”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 06, 07/2001; TS. Vũ Công Giao
(2013), Cơ quan bầu cử quốc gia trên thế giới và việc hiến định cơ quan này
trong hiến pháp 1992, sửa đổi năm 2013 của Việt Nam, Sách chuyên khảo
các thiết chế độc lập, kinh nghiệm quốc tế và triển vọng ở Việt Nam; TS.
Phạm Văn Hùng (2011), Ý nghĩa của Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và
HĐND các cấp với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền, Cổng thông
tin điện tử Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử- Ủy ban thường vụ Quốc
Hội; ThS. Trần Thanh Hương (2006), Ý chí của nhân dân trong bầu cử và
một vài ý kiến góp phần bảo đảm ý chí của nhân dân trong bảo đảm bầu cử
ở nước ta, Tạp chí Khoa học pháp luật, số 3(34)/2006; PGS. TS. Trương
Đắc Linh (2007), “Cuộc tổng tuyển của bầu cử Quốc hội đầu tiên năm 1946:

4
một cuộc bầu cử thật sự dân chủ ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,
03/2007; TS. Vũ Văn Nhiêm (2009), Chế độ bầu cử ở nước ta những vấn đề
lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến Sỹ ngành lịch sử nhà nước và pháp luật;
Tác giả: Hồng Ngọc (2010), Cần xây dựng một luật qui định chung về bầu
cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, Báo điện tử Đảng cộng sản Việt
Nam ngày 08/09/2010; PGS.TS. Phan Xuân Sơn (2007), Thực trạng và giải
pháp đổi mới công tác bầu cử ở nước ta, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 4,
tháng 4/2007; Tác giả: Nguyễn Văn Quang (2014), Thi hành Hiến pháp và
yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu HĐND, Báo điện tử Đại
biểu nhân dân, ngày 06/5/2014; Tác giả: Trần Văn Tám (2011), Tổng tuyển
cử đầu tiên và sự hoàn thiện, phát triển chế định bầu cử ở nước ta, Báo Đại
biểu nhân dân điện tử, ngày 5/01/2011; GS.TS. Thái Vĩnh Thắng (2013),
Những bất cập trong chế độ bầu cử - Kỷ yếu hội thảo sửa đổ, bổ sung Hiến
pháp 1992 những đề xuất và lập luận, Đại học Quốc gia Hà Nội; GS.TS.
Đào Trí Úc (2005), Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, Sách
chuyên khảo, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội.
Ngoài ra, các giáo trình Luật Hiến pháp trong chương trình đào tạo cử

4. Tính mới của Luận văn
So với các đề tài trước đây học viên đã nghiên cứu và các đề tài khác
có cùng chủ đề thì việc nghiên cứu chế định bầu cử ở Việt Nam thường là
xem xét các qui định của pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc Hội và HĐND
các cấp nói chung, nên chưa nhìn nhận hết được thực trạng và bản chất vấn
để bầu cử tại các địa phương, nơi thực tế diễn ra các cuộc bầu cử. Những
vấn đề được đưa ra nghiên cứu trong luận văn lần này tập trung vào nội
dung bầu cử đại biểu HĐND cấp xã (cơ quan quyền lực nhà nước của nhân
dân tại địa phương cấp xã) nên có rất nhiều vấn đề được bàn đến tạo thành

6
sức hút trong đời sống chính trị của người dân, đó là vấn đề về quyền bầu
bầu cử, quyền ứng cử; vấn đề ấn định, phân bổ số lượng đại biểu được bầu,
đơn vị bầu cử; vấn đề tổ chức hiệp thương bầu cử; vấn đề xác định kết quả
bầu cử…Các vấn đề khác: Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cuộc bầu cử,
sự phối kết hợp của các tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội, nhân dân đối với
cuộc bầu cử; thậm chí cả vấn đề còn mang tính làng xã cục bộ, địa phương,
dòng họ cũng sẽ được đề cập đến.
Mặt khác, nghiên cứu chế độ bầu cử Đại biểu HĐND trong Luận văn
được thực hiện thông qua việc liên hệ thực tiễn tại một địa phương cụ thể để
nên sẽ đưa ra được những góc nhìn, những bình luận và quan điểm thấu đáo
hơn về “bức tranh” bầu cử sống động và nhiều mầu sắc tại các địa phương
nông thôn trên cả nước và đặc biệt qua thực tiễn tại xã Dương Xá.
Vấn đề được nghiên cứu hy vọng sẽ tạo ra những tín hiệu đáng mừng
trong việc đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác bầu cử đại biểu HĐND tại
xã Dương Xá trong những cuộc bầu cử tiếp theo.
5. Giới hạn của Luận văn
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp
luật, Luận văn chỉ tập trung phân tích những vấn đề cơ bản của chế độ bầu cử

6. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Với vị trí là một chế định quan trọng của Hiến pháp thuộc chuyên
ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật nên quan điểm của chủ nghĩa
Mác – Lê nin về nhà nước và pháp luật nói chung, nhà nước và pháp luật chủ
nghĩa xã hội nói riêng đóng vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho
nghiên cứu tất cả các vấn đề trong Luận văn. Các quan điểm của Đảng cộng
sản Việt Nam về nhà nước, cách mạng Việt Nam, về đổi mới đất nước, phát

8
huy dân chủ, đề cao sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và hoàn
thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân là cơ sở lý luận cho việc
phân tích và đánh giá các vấn đề trong Luận văn này.
Bên cạnh đó, trong điều kiện toàn cầu hóa và tăng cường hội nhập sâu
rộng của Việt Nam trên diễn đàn quốc tế về mọi lĩnh vực, những văn kiện
quốc tế liên quan đến quyền con người, quyền chính trị, về dân chủ, tự do
trong bầu cử… cũng sẽ được đề cập để xem xét, đối chiếu nhằm giải quyết
một số vấn đề được đề cập trong Luận văn này.
Phương pháp luận được sử dụng để giải quyết những vấn đề đặt ra
trong Luận văn là: phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp phân tích
theo hệ thống, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp
thống kê và phương pháp mô hình hóa. Việc lựa chọn, sử dụng phương pháp
nghiên cứu cụ thể nào phụ thuộc vào từng vấn đề được nghiên cứu. Tuy nhiên
phương pháp phân tích, tổng hợp được áp dụng mang tính xuyên suốt toàn bộ
Luận văn để làm rõ từng mục, từng chương của Luận văn sau đó để đưa ra
được kết luận chuẩn xác nhất.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của bầu cử đại
biểu HĐND. Phản ánh hoạt động, công tác bầu cử đại biểu HĐND tại các địa
phương trên cả nước nói chung và tại xã Dương Xá riêng. So sánh với qui
định và thực tiễn bầu cử với một số quốc gia trên thế giới. Chỉ ra được những
10
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

1.1. Khái niệm bầu cử và bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân
1.1.1. Bầu cử
“Bầu cử” là một cách thức được sử dụng và áp dụng rất nhiều trong các
trường hợp đề xây dựng mới, củng cố, kiện toàn thậm chí là cả bãi nhiệm, bãi
miễn đối với các chức danh, các vị trí quan trọng nằm trong cơ cấu tổ chức
nhân sự của các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế. Tùy từng
bối cảnh sử dụng khác nhau mà “bầu cử có tính chính trị” hay “tính xã hội”
[24, tr.6]. Với vai trò thể hiện tính chính trị, “bầu cử do các cơ quan nhà
nước thực hiện theo một trình tự, thủ tục nhất định mang tính bắt buộc được
qui định trong Hiến pháp và Luật, chọn ra các cá nhân nắm giữ các chức vụ
trong Quốc hội, các cơ quan đại diện chính quyền” [24, tr.6]. Thủ tục này
được thực hiện bởi sự biểu quyết của cử tri (đại cử tri, đại diện cử tri) với điều
kiện để bầu một đại biểu (chức danh) phải có từ hai ứng cử viên trở lên.
Ngược lại, với vai trò thể hiện tính xã hội, bầu cử do các tổ chức xã hội hay
kinh tế thực hiện, áp dụng bầu cử theo quy chế, quy ước của tổ chức đó, chọn
ra các cá nhân nắm giữ những cương vị lãnh đạo trong tổ chức (ví dụ: bầu cử
ban chấp hành công đoàn, giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị công ty; ban
chấp hành, ban chủ nhiệm các hội, hiệp hội, các câu lạc bộ ). Cũng bởi tính
chất bầu cử trong mỗi hoàn cảnh sử dụng khác nhau nên phạm vi, giá trị kết
quả của mỗi lần bầu cử không giống nhau và tạo nên sự khác biệt rõ rệt giữa
các khái niệm “bầu cử” với các hình thức tuyển chọn khác như: “cử”, “bổ

không theo nguyên tắc phân quyền mà tập trung trong tay Quốc hội, cơ quan
duy nhất thực hiện quyền lực nhà nước thuộc về mình do nhân dân toàn quốc

12
trực tiếp bầu ra, nhưng có sự phân định rạch ròi giữa ba quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp. Thông qua bầu cử, bộ máy nhà nước được thành lập ra cho
phép chúng ta xác định nguồn gốc, bản chất dân chủ của nhà nước và khẳng
định tính hợp pháp, chính đáng của chính quyền. Trong chính thể dân chủ:
Pháp luật bầu cử cũng giống như nhiều chế định pháp luật
khác của ngành luật Hiến pháp không những chỉ qui định bầu cử
chứa đựng các qui phạm nói chung về quyền hạn và trách nhiệm
của các chủ thể tham gia các mối quan hệ bầu cử mà còn chứa đựng
cả những qui phạm có tính thủ tục, qui định trình tự đối với một
cuộc bầu cử và xác định kết quả cho cuộc bầu cử [17, tr.330].
Vì thế, khái niệm bầu cử chính trị có thể được hiểu ở nhiều góc độ khía
cạnh khác nhau:
Xét về ý nghĩa: Bầu cử là một hình thức sinh hoạt chính trị thể hiện
quyền lực, ý nguyện của nhân dân.
Xét về thuật ngữ trong Luật Hiến pháp: Bầu cử được hiểu là thủ tục
thành lập cơ quan nhà nước hay chức danh nhà nước
Xét về trình tự: Bầu cử là một quá trình đưa ra quyết định của người
dân để chọn ra một cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền.
Xét về chức năng: Bầu cử là cơ chế thông thường mà các nền dân chủ
hiện dùng để phân bổ chức vụ trong bộ máy lập pháp, thỉnh thoảng ở bộ máy
hành pháp, tư pháp, và ở chính quyền địa phương.
Xét về vị trí pháp lý: Bầu cử là một trong những chế định quan trọng
trong ngành Luật Hiến pháp, là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ
quan đại diện cho quyền lực Nhà nước.
Ngoài ra bầu cử còn được coi là một chế định trọng tâm của các
chính phủ dân chủ kiểu đại diện; một biện pháp hạn chế hữu hiệu quyền

các nhiệm vụ, quyền hạn do cấp trên giao. HĐND thực hiện chức năng quyết

14
định những vấn đề của định phương trong phạm vi phân cấp thông qua việc
ban hành nghị quyết – văn bản qui phạm pháp luật có tính bắt buộc chung đối
với mọi cá nhân, tổ chức và công dân ở địa phương. HĐND bầu ra cơ quan
chấp hành của cấp mình là UBND – cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương, đồng thời thực hiện chức năng giám sát các hoạt động chấp hành và
điều hành của UBND trong việc thực hiện nghị quyết của HĐND và các quyết
định khác của các cơ quan nhà nước cấp trên, thực hiện Hiến pháp và Luật.
Để thành lập ra được HĐND đảm bảo cơ cấu, tổ chức thì nhiệm vụ
đầu tiên phải bầu được các Đại biểu HĐND. Việc tổ chức bầu cử đại biểu
HĐND được thực hiện thông qua hoạt động của các tổ chức phụ trách bầu
cử. Theo qui định tại Điều 36, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003
nêu rõ “Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của
nhân dân địa phương, gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà
nước; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật và
tham gia vào việc quản lý nhà nước” [40, Điều 36].
Trước khi được đưa vào danh sách ứng cử viên bầu cử đại biểu HĐND,
các ứng cử viên phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo luật định và phải trải
qua các bước hiệp thương bắt buộc. Người trúng cử đại biểu HĐND là người
được cử tri tín nhiệm với số phiếu bầu tán thành đạt tỷ lệ trên 50% so với tổng
số cử tri tại khu vực bỏ phiếu và được xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp,
trong phạm vi số đại biểu được bầu tại mỗi khu vực bỏ phiếu.
Như vậy, “Bầu cử đại biểu HĐND là việc cử tri thông qua lá phiếu của
mình để cân nhắc, lựa chọn ra những những ứng cử viên được cử tri tín
nhiệm nhất để ủy nhiệm quyền và đại diện cho họ tham gia vào các cơ quan
quyền lực nhà nước ở địa phương” [27]. Đại biểu HĐND sau khi trúng cử
được bố trí theo các ban, các tổ đại biểu HĐND của HĐND để thực hiện
nhiệm vụ của mình. HĐND hoạt động tập thể có hình thức hoạt động chủ yếu


16
1.2. Mục đích, ý nghĩa của Bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân
Kể từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của Quốc hội Khóa I ngày 6/1/1946
đến nay, Quốc hội nước ta đã trải qua 65 năm hoạt động với mười ba lần tổ
chức bầu cử. Quốc hội đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc củng cố
nền độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, cùng với cả hệ thống chính trị
đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều
năm, để lại trong lòng nhân dân nhiều dấu ấn sâu sắc và bài học kinh nghiệm
về tổ chức bộ máy nhà nước. Thực hiện Chỉ thị 50-CT/TW ngày 5/1/2011 của
Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử ĐBQH khóa XIII và bầu cử đại biểu
HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, ngày 21/1/2011 UBTVQH đã ban hành
Nghị quyết số 1018/NQ – QH về công bố ngày bầu cử và thành lập Hội đồng
bầu cử Quốc hội Khóa XIII và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ
2011-2016 vào ngày Chủ nhật 22/5/2011. Đây là cuộc bầu cử được diễn ra
gần đây nhất trong phạm vi cả nước và với kết quả thành công của cuộc bầu
cử này đã tiếp tục khẳng định thêm giá trị của các cuộc bầu cử, trong đó bao
gồm cả bầu cử đại biểu HĐND ở nước ta trong suốt mấy chục năm qua.
Trở lại những ngày đầu tiên đất của đất nước mới giành được độc lập,
trong một cuộc phỏng vấn trả lời các nhà báo Chủ tịch Hồ Chí Minh - người
đại biểu mẫu mực, Người đã từng nói:
Tôi tuyệt nhiên không ham công danh phú quý chút nào. Bây
giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng
sức làm, cũng như người lính vâng lệnh quốc dân ra mặt trận. Bao
giờ đồng bào cho tôi lui thì tôi vui lòng lui. Tôi chỉ có một ham
muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta
được hoàn toàn tự do [35, tr.58].
Nên Người rất coi trọng việc cầu người hiền tài ra gánh vác công việc
giúp dân, giúp nước. Người cho rằng, làm đại biểu dân cử là dấn thân vào con


Hai là, hầu hết các cuộc bầu cử được tổ chức ngay sau khi kết
thúc Đại hội Đảng toàn quốc nên có rất nhiều văn kiện liên quan
đến chiến lược phát triển kinh tế của đất nước đã thông qua. Cùng
với Quốc hội, HĐND các cấp thức hiện chức năng lập qui quyết
định các vấn đề quan trọng và thực hiện quyền giám sát của mình sẽ
góp phần rất quan trọng thể chế nghị quyết của Đại hội Đảng để
đưa nghị quyết vào cuộc sống. Bầu cử đại biểu HĐND là điều kiện
thuận lợi để Đảng ta giới thiệu những đảng viên ưu tú của Đảng
tham gia chính quyền một cách hợp hiến, hợp pháp. Tổ chức thành
công cuộc bầu cử sẽ là biểu hiện sinh động của việc thể chế nghị
quyết của Đại hội Đảng, tăng cường sự đồng thuận của nhân dân
đối với công tác cán bộ của Đảng, củng cố vai trò lãnh đạo của
Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội.
Ba là, công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của
dân, do dân, vì dân đang đặt ra vấn đề cần hoàn thiện cơ cấu tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, trong đó có HĐND các
cấp. Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà
nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân, do Đảng lãnh đạo, cần được kế thừa và phát huy trong điều
kiện mới. Nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phối
hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp phải được đề cao. Nhân dân thực hiện
quyền lực của mình một cách gián tiếp thông qua HĐND là một
kênh quan trọng trong thể chế chính trị của nước ta, nhưng dân chủ
trực tiếp vẫn là nguyện vọng chính đáng của nhân dân cần được
hiến định rõ hơn để làm cho thể chế chính trị nước ta ngày càng
vững mạnh. Tổ chức thành công cuộc bầu cử cũng là biểu hiện sinh

19
động của việc thực hiện nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status