Cải cách hành chính trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài ở Việt Nam - Pdf 25

MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1

Chương 1: CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA CẢI
CÁCH HÀNH CHÍNH TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
7
1.1.
Cải cách hành chính và vai trò của cải cách hành chính trong
quản lý nhà nước
7
1.1.1.
Quan niệm về cải cách hành chính
8
1.1.2.
Vai trò của cải cách hành chính
12

vực đầu tư nước ngoài ở nước ta
36
2.1.1.
Những kết quả đạt được ở lĩnh vực cải cách thể chế
37
2.1.2.
Những kết quả đạt được ở lĩnh vực cải cách bộ máy hành
chính nhà nước
42
2.1.3.
Những kết quả đạt được ở lĩnh vực cải cách tài chính công
48
2.2.
Những tồn tại của cải cách hành chính trong lĩnh vực đầu tư
nước ngoài
50
2.2.1.
Về cải cách thể chế
51
2.2.2.
Về bộ máy nhà nước
55
2.2.3.
Về đội ngũ cán bộ, công chức
63
2.2.4.
Về cải cách tài chính công
65

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC ĐỔI

PHỤ LỤC
88 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO). Theo đó, cùng với những thuận lợi có được khi
gia nhập WTO, chúng ta cũng phải thực hiện nhiều quy định mang tính chất
ràng buộc của tổ chức này. Trong đó, ngoài các nội dung thuộc lĩnh vực kinh
tế, Việt Nam phải cam kết xóa bỏ những quy định hành chính ảnh hưởng đến
kinh tế thị trường Và để đáp ứng yêu cầu này, ngay sau khi Quốc hội chính
thức phê chuẩn văn kiện gia nhập WTO, Chính phủ, Thủ tướng đã ban hành
nhiều văn bản chỉ đạo công tác cải cách hành chính nói chung và cải cách
hành chính trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài nói riêng.
Chính nhờ thực hiện cải cách hành chính, nên thời gian qua môi
trường kinh doanh đã được cải thiện tích cực. Đặc biệt, tạo tiền đề tốt để Việt
Nam thu hút đầu tư nước ngoài, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư: "Năm 2006 vốn
đầu tư nước ngoài đăng ký mới đạt 7,5 tỷ USD" [20]; "năm 2007 vốn đầu tư
nước ngoài gần 18 tỷ USD" [27], "năm 2008, số vốn này đã đạt hơn 60 tỷ
USD" [36]; "Năm 2009, vốn đầu tư nước ngoài đăng ký ước đạt 21,48 tỷ
USD" [46]. "Năm 2010, trong bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều biến
động phức tạp, Việt Nam đã thu hút được 18,59 tỷ USD" [31].
4 tháng đầu năm 2011, vốn đăng ký đầu tư nước ngoài vào
Việt Nam là 4,024 tỷ USD. Các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) đã đóng góp tới 27% kim ngạch xuất khẩu (không kể
dầu khí), 33% giá trị sản xuất công nghiệp, 22% vốn đầu tư xã hội
và hơn 14% GDP của cả nước, tạo thêm việc làm cho hơn 80 vạn


3
Đã có nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm từ Trung ương cho đến địa
phương để lấy ý kiến về cải cách hành chính: tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức Hội
thảo khoa học về "Nâng cao hiệu quả, chất lượng cải cách hành chính trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh - thực trạng và giải pháp"; Ngày 04/6/2008, tại Bộ Xây
dựng đã diễn ra Hội thảo "cải cách thủ tục hành chính trong đầu tư xây
dựng"; Ngày 28/10/2009, Tổng cục Hải quan đã tổ chức hội nghị "mở rộng
thủ tục hải quan điện tử"; Ngày 1/9/2009 Trung ương Hội doanh nhân trẻ
Việt Nam tổ chức Hội thảo "Cải cách thủ tục hành chính -Xây dựng môi
trường kinh doanh thuận lợi"; Ngày 20/11/2009, Hội đồng Tư vấn Cải cách
Thủ tục hành chính đã tổ chức Tọa đàm "Kết quả rà soát các thủ tục hành
chính ưu tiên"; Ngày 1/3/2010, Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục
hành chính của Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức Hội nghị "giao ban các bộ,
ngành về rà soát thủ tục hành chính theo Đề án 30"… Đồng thời có nhiều bài
viết của các tác giả trong nước về cải cách hành chính.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu khoa học trên chỉ đề cập tới các
vấn đề liên quan đến cải cách hành chính nói chung, hoặc cải cách hành chính
cho từng ngành, lĩnh vực nhưng chưa nghiên cứu riêng về vấn đề cải cách
hành chính để tạo thuận lợi thu hút đầu tư nước ngoài. Mặt khác, trong hầu
hết các nghiên cứu vẫn chưa giải thích được một cách thỏa đáng, có tính cội
rễ của nhiều hạn chế, bất cập từ hành chính để thu hút đầu tư nước ngoài ở
Việt Nam. Vì vậy, việc chọn và nghiên cứu đề tài "Cải cách hành chính
trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài ở nước ta" là một đề tài độc lập.
Và để hoàn thành đề tài này, người viết phải tham khảo, sưu tầm, học
hỏi các kiến thức cũng như kinh nghiệm trong các công trình khoa học có liên
quan đến vấn đề cải cách hành chính đã được công bố và các tạp chí nghiên
cứu khoa học khác.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm hiểu thực trạng và nguyên

5
quản lý. Do đó, việc lấy ý kiến thông qua bảng hỏi hoặc phỏng vấn trực tiếp
là rất cần thiết.
6. Những điểm mới và ý nghĩa của đề tài
Về mặt khoa học, đề tài cần có sự đánh giá của các nhà nghiên cứu
quan tâm tới vấn đề này. Tuy nhiên, tác giả cũng mạnh dạn đánh giá đây sẽ là
công trình nghiên cứu, phân tích một cách có hệ thống những vấn đề về cải
cách hành chính, đồng thời phân tích thực trạng về những vướng mắc, cũng
như đưa ra những kiến nghị đối với việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật cải
cách hành chính góp phần tạo động lực, môi trường thuận lợi để các nhà đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam. Trong đó, trên tinh thần phải xem cải cách hành
chính là khâu đột phá để tạo môi trường thuận lợi, minh bạch cho hoạt động
của doanh nghiệp nước ngoài. Đâu là khâu cản trở sự phát triển, cần tập trung
chỉ đạo tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong lĩnh vực này. Với các biện pháp
chủ yếu để đẩy mạnh cải cách hành chính:
- Tập trung chỉ đạo thực hiện cải cách mạnh mẽ các lĩnh vực quản lý
hành chính, tạo môi trường thuận lợi nhất cho doanh nghiệp vào sản xuất,
kinh doanh tại Việt Nam.
- Các cấp chính quyền và từng cơ quan hành chính nhà nước rà soát
các loại thủ tục hành chính, bãi bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền
hoặc trình cấp trên xem xét sửa đổi theo hướng tạo thuận tiện cho doanh
nghiệp. Xử lý nghiêm những cá nhân và tổ chức tùy tiện đặt ra các quy định
trái pháp luật, trái thẩm quyền, gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp
nước ngoài. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính
trong việc cải cách hành chính.
- Công bố công khai các thủ tục: các loại giấy tờ, biểu mẫu và quy
trình giải quyết công việc, thời gian giải quyết, phí và lệ phí theo quy định để
nhân dân biết và thực hiện thuận lợi.

6

trong việc đẩy nhanh sự phát triển đất nước, điều này đã được thể hiện trên
nhiều lĩnh vực. Trong đó, riêng cải cách hành chính để thu hút đầu tư nước
ngoài của Việt Nam trong thời gian qua đã tạo được một môi trường kinh
doanh cải thiện tích cực. Đặc biệt, tạo tiền đề tốt để Việt Nam thu hút đầu tư
nước ngoài.
Để tiếp tục phát huy hiệu quả mà cải cách hành chính mang lại, Việt
Nam đang đề ra mục tiêu: "xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững
mạnh, chuyên nghiệp. Qua đó, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng thuận
lợi, là "điểm nhấn" về sức hút để các nhà đầu tư nước ngoài tìm thấy nhiều cơ
hội hơn" [41, tr. 1]. Để tạo dựng được mục tiêu này, thời gian qua cải cách
hành chính ở Việt Nam được tiến hành với những bước đi - lộ trình khác nhau
từ thấp tới cao. Bắt đầu là việc cải cách một bước thủ tục hành chính trong

8
việc giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức, đến cải cách một bước nền
hành chính nhà nước với ba nội dung là: cải cách thể chế hành chính; cải cách
bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức.
Ngày nay, cải cách hành chính đã chuyển sang một bước mới với bốn
nội dung: cải cách thể chế hành chính; cải cách bộ máy hành chính nhà nước;
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công.
1.1.1. Quan niệm về cải cách hành chính
Để hiểu rõ về cải cách hành chính là gì? Trước hết hãy điểm qua một
số quan điểm cơ bản đã được nhiều học giả, các nhà nghiên cứu hành chính
đã đưa ra.
Do dựa trên các điều kiện về chế độ chính trị, kinh tế - xã hội của mỗi
quốc gia, cũng như phụ thuộc vào quan điểm và mục tiêu nghiên cứu, do đó
hầu hết các định nghĩa này là khác nhau.
- Cải cách hành chính ở phương Tây còn gọi là cải cách Chính phủ, ở
Trung Quốc gọi là cải cách thể chế quản lý hành chính, nội dung không khác
nhau bao nhiêu, đều nhắc đến các yêu cầu điều chỉnh quan hệ giữa cơ cấu

bộ hoặc phiến diện.
- Nhiều nhà nghiên cứu đã xem biến đổi hành chính như là một sự tự
điều chỉnh "đáp ứng của tổ chức với các điều kiện bất ổn" và cải cách hành
chính trở nên bắt buộc khi các quá trình biến đổi hành chính tự nhiên không
thực hiện được chức năng… Cải cách hành chính là một công tác cơ bản tập
trung vào các nội dung lớn chứ không phải là các vấn đề bình thường mang
tính hình thức. Nó đòi hỏi phải nghiên cứu toàn diện từ các quan điểm nguyên
tắc cho tới việc xây dựng một chiến lược dài hạn với một kế hoạch thực hiện
tỷ mỷ, nó tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm và đưa ra những sửa đổi thích
đáng cho các bước tiếp theo. Cải cách hành chính đụng chạm tới các phương
diện thiết chế tổ chức, pháp lý, nhân sự và quản lý tài chính chứ không chỉ là
các bộ phận nhỏ của một tổng thể tức là đụng chạm tới mối quan hệ của các

10
biến đổi hành chính với các đặc tính hay áp lực từ một môi trường xã hội và
chính trị rộng lớn hơn. Vì vậy, cải cách hành chính còn được hiểu theo nghĩa
hẹp và nghĩa rộng của khái niệm. Theo nghĩa hẹp, cải cách hành chính là cải
cách thể chế hành chính và bộ máy hành chính của Chính phủ. Theo nghĩa
rộng, nó bao gồm cả cải cách phương pháp, phương thức hành chính, chức
năng hành chính, chế độ công chức và nguyên tắc hành chính trọng yếu khác.
- Theo Đại từ điển tiếng Việt, khái niệm cải cách hành chính không
định nghĩa trực tiếp mà thường được mô tả bằng hình ảnh cụ thể và tính chất
của chúng được mô tả qua các tiên đề.
Trước hết, cải cách hành chính là một hành vi về hành chính. Về mặt lý
thuyết, hành vi hành chính là hành vi hành động hoặc không hành động của cơ
quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà
nước hoặc cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức xã hội được ủy quyền hành pháp
khi thực hiện nhiệm vụ công theo quy định của pháp luật. Cải cách hành
chính phải do các chủ thể tiến hành, nó đích thực là hành vi hành chính. Như
vậy, cải cách hành chính được mô tả qua hành vi hành chính. Đó cũng chính

nêu bốn nội dung cơ bản của cải cách hành chính Việt Nam, đó là cải cách thể
chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, đổi mới, nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính công. Mục tiêu của cải cách hành
chính nhà nước đến 2010 theo Chương trình tổng thể là:
Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững
mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả
theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự
lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm
chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát
triển đất nước. Đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản được
cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa [7].

12
Các nội dung, mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của 4 nội dung trên được ghi
trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-
2010 được ban hành kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày
17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ.
Tuy nhiên, qua xem xét, phân tích dưới nhiều góc độ định nghĩa của khái
niệm, có thể thấy các khái niệm về cải cách hành chính được nêu ra bao gồm:
Ba điểm thống nhất sau:
Thứ nhất: Cải cách hành chính là một sự thay đổi có kế
hoạch, theo một mục tiêu nhất định, được xác định bởi cơ quan nhà
nước có thẩm quyền;
Thứ hai: Cải cách hành chính không làm thay đổi bản chất
của hệ thống hành chính, mà chỉ làm cho hệ thống này trở nên hiệu
quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn so với trước, chất lượng
các thể chế quản lý nhà nước đồng bộ, khả thi, đi vào cuộc sống
hơn, cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy, chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan nhà

kiểm tra, thanh tra thực hiện thể chế. Xác định rõ phạm vi và nội dung quản lý
nhà nước về kinh tế - xã hội của cơ quan công quyền các cấp.
1.1.3. Nội dung của cải cách hành chính
Mục đích của cải cách hành chính là nâng cao hiệu suất hoạt động hành
chính, thích ứng với những thay đổi, đòi hỏi của môi trường trong nước và
quốc tế. Vì vậy, xét ở khía cạnh mục tiêu chung thì cải cách hành chính nhằm
xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp,
hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng,
phát triển đất nước. Hệ thống hành chính về cơ bản phải được cải cách phù
hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

14
Theo đó, cải cách hành chính có 9 mục tiêu cụ thể:
Thứ nhất: Hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế,
chính sách phù hợp với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, trước hết là các thể chế về kinh tế, về tổ chức và hoạt động
của hệ thống hành chính.
Tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản
quy phạm pháp luật, khắc phục tính cục bộ trong việc chuẩn bị,
soạn thảo các văn bản; đề cao trách nhiệm của từng cơ quan trong
quá trình xây dựng thể chế, phát huy dân chủ, huy động trí tuệ của
nhân dân để nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Thứ hai: Xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính
quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân;
hoàn thiện các thủ tục hành chính mới theo hướng công khai, đơn
giản và thuận tiện cho dân.
Thứ ba: Các cơ quan trong hệ thống hành chính được xác
định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng;
chuyển được một số công việc và dịch vụ không cần thiết phải do

Thứ chín: Nền hành chính nhà nước được hiện đại hóa một
bước rõ rệt. Các cơ quan hành chính có trang thiết bị tương đối hiện
đại phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước kịp thời và thông suốt. Hệ
thống thông tin điện tử của Chính phủ được đưa vào hoạt động [4].
Để đạt được 9 mục tiêu trên, cải cách hành chính đang đặt ra 04 nội dung:
Một là, cải cách thể chế:
- Xây dựng và hoàn thiện các thể chế, trước hết là thể chế
kinh tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể
chế về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước.
- Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy
phạm pháp luật.

16
- Bảo đảm việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh của
cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức.
- Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính [7].
Theo đó, hệ thống thể chế phải vừa thực sự giải phóng sức sản xuất xã
hội, vừa giữ được định hướng về chính trị. Quá trình cải cách hành chính, việc
chuyển từ hành chính thuần túy công quyền sang hành chính nhà nước pháp
quyền và dịch vụ công, tiếp tục xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, lấy phát triển, vì hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu để
kiểm chứng hệ thống thể chế. Theo đó, một yêu cầu quan trọng đặt ra là, cần
rành mạch hóa các quan hệ cơ bản giữa hành chính nhà nước với doanh nghiệp
và dân cư, giữa hành chính với dịch vụ công, giữa Trung ương và địa phương.
Hệ thống thể chế phải vừa thực sự giải phóng sức sản xuất xã hội, vừa
giữ được định hướng về chính trị. Quá trình cải cách hành chính, việc chuyển
từ hành chính thuần túy công quyền sang hành chính nhà nước pháp quyền và
dịch vụ công.
Hai là, cải cách tổ chức bộ máy hành chính
- Việc cải cách tổ chức bộ máy hành chính ở Việt Nam trong những

- Cải tiến phương thức quản lý, lề lối làm việc của cơ quan
hành chính các cấp.
- Thực hiện từng bước hiện đại hóa nền hành chính [7].
Trên cơ sở chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường thiết
kế bộ máy, đẩy nhanh việc xây dựng thị trường đồng bộ để di chuyển nguồn
lực theo chiều ngang, dùng áp lực của thị trường để kiểm chứng các hoạt
động kinh doanh theo định hướng của Nhà nước. Về nguyên tắc, Nhà nước
không làm thay thị trường và dân cư. Do vậy, phải xây dựng chức năng,
nhiệm vụ thẩm quyền và trách nhiệm của hệ thống hành chính nhà nước. Các

18
cơ quan quản lý nhà nước tập trung xây dựng, chỉ đạo thực hiện các chức
năng quản lý vĩ mô. Xây dựng, ban hành luật, chính sách, chiến lược, quy
hoạch chính sách và kiểm tra việc thực hiện chúng. Bộ máy cần tổ chức theo
hướng liên ngành, đa lĩnh vực. Thực hiện quản lý kinh tế theo ngành từ chiến
lược, quy hoạch đến phân bổ nguồn lực, tránh chồng chéo, trùng lặp, lãng phí
trong đầu tư xây dựng. Về nguyên tắc, việc quản lý cần kết hợp cả ngành và
lãnh thổ, nhưng ngành là chính để tránh tình trạng cát cứ, chia cắt. Quản lý
của chính quyền địa phương là quản lý toàn diện cả kinh tế và xã hội.
Tiếp tục giảm các cơ quan trực thuộc Chính phủ. Bên cạnh tổ chức
Chính phủ, có các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức xã hội, nhưng tránh xu
hướng nhà nước hóa các tổ chức xã hội như hiện nay. Bên cạnh cơ cấu tĩnh,
cần có cơ cấu động giúp Chính phủ nghiên cứu những vấn đề lớn, phức tạp
liên ngành để giảm bộ máy nhà nước. Tách chức năng dịch vụ công ra khỏi
chức năng bộ máy nhà nước để các tổ chức tự quản chịu trách nhiệm.
Ba là, đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
Để đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cần phải
thực hiện các công việc sau:
- Đổi mới công tác quản lý cán bộ, công chức
- Cải cách tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ

các bộ, sở, ban, ngành về phân bổ ngân sách cho các đơn vị trực
thuộc; quyền chủ động của các đơn vị sử dụng ngân sách trong
phạm vi dự toán được duyệt phù hợp với chế độ, chính sách.
- Trên cơ sở phân biệt rõ cơ quan hành chính công quyền
với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công, thực hiện đổi mới cơ chế phân
bổ ngân sách cho cơ quan hành chính, xóa bỏ chế độ cấp kinh phí
theo số lượng biên chế, thay thế bằng cách tính toán kinh phí căn cứ
vào kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào kiểm soát đầu ra,

20
chất lượng chi tiêu theo mục tiêu của cơ quan hành chính, đổi mới
hệ thống định mức chi tiêu cho đơn giản hơn, tăng quyền chủ động
của cơ quan sử dụng ngân sách.
- Đổi mới cơ bản cơ chế tài chính đối với khu vực dịch vụ công.
- Thực hiện thí điểm để áp dụng rộng rãi một số cơ chế tài
chính mới như:
+ Cho thuê đơn vị, sự nghiệp công, cho thuê đất để xây
dựng cơ sở nhà trường, bệnh viện, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế đối với cán bộ, công chức chuyển từ các đơn vị công lập
sang dân lập.
+ Cơ chế khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước
đầu tư phát triển các cơ sở đào tạo dạy nghề, đại học, trên đại học,
khám chữa bệnh có chất lượng cao v.v…
+ Thực hiện cơ chế khoán một số loại dịch vụ công cộng
như vệ sinh đô thị, cấp, thoát nước, cây xanh công viên, nước phục
vụ nông nghiệp…
+ Thực hiện cơ chế hợp đồng một dịch vụ công trong cơ
quan hành chính.
- Đổi mới công tác kiểm toán đối với các cơ quan hành
chính, đơn vị sự nghiệp nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu quả sử

nước ngoài hiện nay đang được các cơ quan quản lý của Việt Nam tiến hành
bao gồm các vấn đề sau đây.
1.2.1.1. Cải cách thể chế
Trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, thì yếu tố quan trọng
trong cải cách thể chế để thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam là phát triển
mạnh mẽ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó:

22
- Phải bảo đảm tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, thể
hiện trong từng chính sách, kế hoạch phát triển.
Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý bằng cách
tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư và tạo "một sân chơi"
bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư. Trong đó, tiếp tục đẩy
mạnh hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách đầu tư nước ngoài theo
hướng tạo một mặt bằng pháp lý chung cho đầu tư trong nước và nước ngoài.
- Mở rộng lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài và đa dạng hóa các hình
thức đầu tư. Trong đó, sự thống nhất chung về quan điểm giữa nhận thức và
hành động của Bộ ngành, giữa Trung ương và địa phương trong việc thu hút,
quản lý và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài nhằm tạo sự nhất quán thống nhất
về chính sách, tạo sự ổn định, minh bạch; các chính sách ban hành sau phải
đảm bảo nguyên tắc kế thừa, không hồi tố và hấp dẫn hơn trước.
- Đơn giản hóa thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử
dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư; đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc
tế; tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư. Theo đó,
nghiên cứu mở rộng phân cấp quản lý đầu tư nước ngoài cho các địa phương,
mặt khác các cơ quan chức năng của Chính phủ tăng cường giám sát về tình
hình thực hiện phân cấp. Các ngành tiến hành rà soát điều chỉnh quy hoạch
ngành theo hướng xóa bỏ phân biệt giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước
ngoài, tạo điều kiện cho khu vực đầu tư nước ngoài tham gia nhiều hơn vào
phát triển các ngành.

triển khai thực hiện một số chính sách có phần mang tính hình thức như chế
độ thi tuyển, tiêu chuẩn bằng cấp, học vị…
- Để khắc phục hiện tượng chế độ làm việc tập thể tràn lan, không rõ
trách nhiệm cá nhân, đồng thời còn là chỗ dựa che chắn cho những ý đồ cá
nhân người đứng đầu được hợp thức hóa dưới các quyết định có tính tập thể
vẫn phổ biến… thì cần phải hoàn thiện quy định pháp lý cụ thể về trách

Trích đoạn Về đội ngũ cán bộ, công chức Về cải cách tài chính công Phương hướng tiếp tục đổi mới cải cách hành chính trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài ở nước ta Cải cách bộ máy nhà nước Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status