BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ THỊ HẰNG
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ THỊ HẰNG
ĐỀ TÀI
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 9380102
Trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo những điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình
học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận án này tại Nhà trường.
Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu và các bạn bè, đồng nghiệp trong Trường Chính
trị Nguyễn Chí Thanh, nơi tôi đang công tác, đã có nhiều chia sẻ, động viên, giúp đỡ
bản thân trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chồng và các con, mẹ, anh chị em gia đình hai
bên nội, ngoại đã kiên trì, thầm lặng dành cho tôi thời gian, sự quan tâm, động viên,
hỗ trợ về vật chất và tinh thần để tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập và nghiên cứu!.
Tác giả luận án
Lê Thị Hằng
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
STT
Từ viết tắt
Nghĩa đầy đủ
1
VPHC
2
XL
Xử lý
8
PCTP
Phòng chống tội phạm
9
VPPL
Vi phạm pháp luật
10
ĐMT
Đánh giá tác động môi trường
11
ĐMC
Đánh giá tác động môi trường chiến lược
12
QLHCNN
13
2.1. Mục đích nghiên cứu........................................................................................ 3
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................................... 3
3. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu .................................................. 3
3.1. Phương pháp luận ............................................................................................ 3
3.2. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 5
4.1. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................................... 5
4.2. Phạm vi nghiên cứu.......................................................................................... 5
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án .............................................................. 6
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án ............................................................. 7
7. Kết cấu luận án ................................................................................................... 8
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ XỬ LÝ VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG .......................... 9
1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đề tài luận án ................................................... 9
1.2. Nhận xét tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề đặt
ra cần tiếp tục nghiên cứu ..................................................................................... 25
1.3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu ................................................ 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ...................................................................................... 30
CHƯƠNG 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG .................................................. 31
2.1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường .................................. 31
2.2. Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. ........................ 43
2.3. Yếu tố ảnh hưởng đến xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường ................................................................................................................... 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ...................................................................................... 83
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ............................................................... 84
3.1. Thực trạng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
tội phạm hình sự nhưng với số lượng nhiều và ngày càng gia tăng, vi phạm hành
chính đang gây tổn hại không nhỏ cho môi trường. Cũng cần khẳng định rằng, nếu
đấu tranh với các vi phạm hành chính kém hiệu quả thì sẽ dẫn đến vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường càng tăng về số lượng và tính chất, ảnh hưởng khá
lớn đến mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam. Chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội 2010-2020 của Đảng đã khẳng định "Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng
bảo vệ và cải thiện môi trường,...” và “hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi
trường; xây dựng hệ thống chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lý các hành vi vi phạm”.
Xử lý vi phạm hành chính là biện pháp pháp lý của Nhà nước có tác dụng to lớn
trong đấu tranh với vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, góp phần nâng
cao hiệu quả bảo vệ môi trường, góp phần ổn định an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã
hội. Nhận thức rõ điều này, Nhà nước ta đã chú trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật về
xử lý vi phạm hành chính và từng bước nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực này trên thực tiễn. Trong đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật xử
lý vi phạm hành chính năm 2012 và các Nghị định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường,...được coi là hạt nhân cơ bản của hệ thống pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
2
Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật xử lý vi
phạm hành chính năm 2012, Nghị định 155/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cho thấy còn bộc lộ nhiều thiếu sót, có không
ít những quy định về vi phạm hành chính, thẩm quyền, thủ tục xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường còn chồng chéo, không phù hợp, gây khó
khăn cho việc thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường trên thực tế [122, tr. 47]. Bên cạnh đó, ý thức bảo vệ môi trường, tích cực tham
gia xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của cá nhân, tổ chức chưa
cao; chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực này còn hạn chế về
như: khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường; thẩm quyền, thủ tục, hình thức xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; vai trò và những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành và thực trạng hoạt động xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam thời gian qua, chỉ
ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó;
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.
3. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp luận
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -Lê nin và tư tưởng Hồ
Chí Minh để xem xét và phân tích các vấn đề. Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng quan
điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, về phát triển bền vững, xây dựng nhà nước pháp quyền; về chiến lược xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, thực hiện pháp luật để nghiên cứu.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu, luận án sử dụng các loại phương pháp sau đây:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Đây là nhóm các phương pháp được sử dụng
để hỗ trợ cho việc nghiên cứu đề tài dưới góc độ luật học với phương pháp tiếp cận
4
hệ thống chuyên ngành như Luật Môi trường, Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Xã hội
học pháp luật, Luật Hiến pháp, Luật Hành chính,...Những luận điểm khoa học trong
các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên các Tạp chí
chuyên ngành liên quan đến vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường;
- Phương pháp điều tra bằng ankét được sử dụng ở Chương 3 với hai mẫu điều
tra xã hội học: 200 phiếu dùng cho các chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân
các cấp; công chức ngành Tài nguyên và Môi trường, chiến sỹ cảnh sát phòng chống
tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; 200 phiếu dùng cho cá nhân, tổ
chức, doanh nghiệp, trong đó 100 phiếu dùng cho cá nhân, tổ chức đã bị xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, 100 phiếu dùng cho người dân
sống trong các địa bàn có vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Sử
dụng phiếu điều tra xã hội học nhằm mục đích thu thập những cứ liệu phục vụ cho
việc đánh giá đúng thực trạng pháp luật và thực tiễn xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam trong thời gian qua. Sử dụng phần mềm SPSS
Window 16.0 để xử lý số liệu thu được.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là lý luận về xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường và thực tiễn xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường ở Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: hệ thống hóa, lý giải những vấn đề lý luận xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; đánh giá thực trạng pháp luật mà chủ yếu là các
quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong Luật Bảo vệ môi trường năm
2014, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định 155/2016/NĐ-CP về xử
phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và thực tiễn xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam; đề xuất các quan điểm, giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam.
6
vệ môi trường theo hướng bổ sung thêm đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính và
7
hành vi vi phạm hành chính; tăng mức phạt tiền đối với những hành vi có mục đích lợi
nhuận; tăng thẩm quyền cho các chủ thể trực tiếp thực thi công vụ; nâng cao nhận
thức của người dân về tham gia xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường; đổi mới tổ chức, bộ máy, nâng cao năng lực cho đội ngũ chủ thể xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam là công
trình nghiên cứu quy mô, mới, từ góc độ khoa học pháp lý, trên cơ sở các quy định
trong Luật bảo vệ môi trường năm 2014, Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định
155/2016/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và các văn
bản pháp luật liên quan. Luận án nghiên cứu làm rõ các vấn đề từ lý luận, pháp lý đến
thực tiễn về quá trình xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường,...Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường ở Việt Nam, đối chiếu pháp luật hiện hành với pháp luật một số
nước trên thế giới để phân tích chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, thiếu sót, bất cập. Từ
đó, đưa ra định hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của Luận án có giá trị tham khảo tốt các cơ quan lập pháp,
lập quy trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, đặc biệt là sự sửa đổi Luật xử lý
vi phạm hành chính năm 2012 và Nghị định 155/2016/NĐ-CP. Luận án có giá trị cho
việc nghiên cứu, giảng dạy tại các trường đào tạo cao học, đại học, cao đẳng chuyên
ngành luật. Luận án cũng có giá trị tham khảo đối với các cơ quan thực tiễn trong quá
trình thực thi, giải quyết các vấn đề liên quan đến xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường.
lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
Môi trường có vai trò quan trọng đối với cuộc sống con người và sinh vật. Bảo
vệ môi trường bằng các biện pháp khác nhau là yếu tố quan trọng trong chiến lược
phát triển của các quốc gia. Do vậy, việc tổng quan các công trình nghiên cứu về
môi trường, bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường sẽ tạo cơ sở nền tảng lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu thực trạng
pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT.
Về môi trường và bảo vệ môi trường nói chung đã được nhiều công trình ở
trong nước như [108] [113] [65] [49] [64] [96] [2] [119] [120] và nước ngoài [135]
[136] [140] [144] nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau từ lý luận đến thực tiễn.
Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông của Viện Ngôn ngữ học, (2002): “Môi trường
là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội, trong đó con người hay
một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy”
[120. Tr.618]. Trong Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường được hiểu là
"Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh
mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài
nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn các nhu cầu của con người"[127].
10
Tiếp cận dưới góc độ pháp lý, quan điểm được ghi trong Giáo trình Luật Môi trường
của Trường Đại học Luật Hà Nội hiểu “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất
tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và
sinh vật” [113, tr.9],… Môi trường hiện tại đang có những thay đổi bất lợi cho con
người, tình trạng ô nhiễm môi trường đang đe dọa sự sinh tồn và phát triển của con
người và sinh vật. Do vậy, bảo vệ môi trường ở các cấp độ cá nhân, cộng đồng, địa
phương, vùng, quốc gia và quốc tế là một trong những vấn đề sống còn của nhân
loại. Theo kết quả Nghiên cứu của Diễn đàn kinh tế thế giới tại Davos, Thụy Sĩ,
Việt Nam nằm trong số 49 quốc gia có chất lượng môi trường thấp nhất [38]. Vấn
đề BVMT đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả, các nhà khoa học
để buộc các cá nhân, tổ chức vi phạm nghĩa vụ pháp lý về BVMT phải chịu hậu quả
bất lợi về vật chất hoặc tinh thần tương ứng với vi phạm pháp luật đã thực hiện.
Các biện pháp cưỡng chế đa dạng ngoài cảnh cáo, phạt tiền, phạt tù,…còn sử dụng
biện pháp đặc thù như: buộc thực hiện biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải đạt tiêu
chuẩn môi trường; tạm đình chỉ hoạt động cho đến khi thực hiện xong các biện pháp
BVMT cần thiết; cấm hoạt động; buộc di dời cơ sở,…[115, tr.73]. Xử lý vi phạm
pháp luật về BVMT vừa được thực hiện theo hình thức chung của áp dụng các biện
pháp cưỡng chế xử lý vi phạm pháp luật nói chung, vừa bảo đảm tính chất của cưỡng
chế trong một lĩnh vực chuyên ngành.
Cơ sở của xử lý vi phạm pháp luật về BVMT là vi phạm pháp luật môi trường.
Theo quan điểm của Trần Quốc Tỏ, Luận án tiến sỹ: Phòng ngừa vi phạm pháp luật
về môi trường trên địa bàn Thành phố Hà Nội thì “Vi phạm pháp luật môi trường
là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được pháp luật qui định do cơ quan, tổ chức hoặc
cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến các quan hệ xã hội liên
quan đến BVMT [104, tr.26]. Đặc điểm của vi phạm pháp luật về BVMT đều là
hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại các quan hệ xã hội được Nhà nước xác lập để
BVMT; VPPL là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái với quy định của pháp luật
BVMT, được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động; hành vi VPPL về
môi trường phải có lỗi; chủ thể thực hiện hành vi phải là cá nhân hoặc tổ chức có
đủ điều kiện về năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật [104, tr. 25]. Nội dung
của XLVPPL trong lĩnh vực BVMT bao gồm xử lý hành chính, hình sự, dân sự đối
12
với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật BVMT như: phá hoại, khai thác
trái phép nguồn tài nguyên thiên nhiên; khai thác nguồn tài nguyên sinh vật bằng
phương tiện, công cụ, phương pháp hủy diệt, không đúng thời vụ và sản lượng theo
quy định của pháp luật; khai thác, kinh doanh, tiêu thụ các loài thực vật, động vật
hoang dã thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quy định; vận chuyển, chôn lấp chất độc, chất phóng xạ,
vực BVMT. Hiện nay, có một số công trình nghiên cứu [102] [114] [117] đã đưa ra
các ý kiến về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT. Cụ thể là, trong đề tài: Tuân thủcưỡng chế-giám sát trong kiểm soát ô nhiễm môi trường, Đề tài khoa học cấp
trường, Đại học Luật Hà Nội (2010) đã định nghĩa: xử lý hành chính về BVMT là
việc áp dụng trách nhiệm hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật môi trường
của cơ quan có thẩm quyền đối với các chủ thể (cá nhân, tổ chức) có hành vi VPPL
môi trường và phải bị áp dụng trách nhiệm hành chính [114, tr. 73]. Bên cạnh đó,
các công trình cũng chỉ ra XLVPHC nói chung, XLVPHC trong lĩnh vực BVMT
nói riêng là hoạt động thuộc phạm trù QLHCNN, được tiến hành bởi các cơ quan
hành chính nhà nước. Tuy nhiên, khái niệm về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT,
chưa thể hiện đầy đủ nội hàm của từ “xử lý VPHC”, chưa làm sáng tỏ đặc điểm của
XLVPHC trong lĩnh vực BVMT. Hơn nữa, khi phân tích khái niệm XLVPHC trong
lĩnh vực BVMT, các đề tài này tiếp cận dưới góc độ qui định của Luật XLVPHC
năm 2012 và cho rằng XLVPHC trong lĩnh vực BVMT chỉ bao gồm việc áp dụng
các biện pháp xử phạt hành chính của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền còn không
áp dụng các biện pháp xử lý hành chính [126, tr. 18]. Việc xác định như vậy sẽ giúp
cho việc xác định phạm vi áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính trong lĩnh vực
BVMT phù hợp với Luật XLVPHC nói chung nhưng sẽ dẫn đến trường hợp xem
nhẹ các hình thức ngăn chặn VPHC và bảo đảm thi hành quyết định xử lý; cưỡng
chế thi hành quyết định XLVPHC trong lĩnh vực BVMT. Do vậy, trong quá trình
nghiên cứu, tác giả sẽ kế thừa cách hiểu về XLVPHC nói chung, XLVPHC trong
lĩnh vực BVMT nói riêng trên cơ sở đó xây dựng một khái niệm mới có thể khắc
phục được hạn chế của các khái niệm này.
Hai là, những nghiên cứu về cơ sở của XLVPHC trong lĩnh vực BVMT. Vấn
đề này đã có một số công trình nghiên cứu phân tích, nhận diện như [126] [102]
14
[131] [46] [67]. Với hầu hết các nước, không xem VPPL chưa tới mức truy cứu trách
nhiệm hành chính là VPHC. Loại vi phạm này được xếp vào trách nhiệm hình sự với tên
gọi khinh tội hoặc tội hình sự nhỏ. Chỉ có một số nước trên thế giới, VPHC được hiểu
hành chính như Thái Lan, bang New South Wales của Úc thì đối tượng bị xử phạt
chỉ là cá nhân và độ tuổi cá nhân bị XPVPHC là từ 14 trở lên, trong đó, Luật về tội
phạm nhỏ của Ba Lan áp dụng đối với đối tượng từ 17 tuổi trở lên. Ngoài ra, một
số công trình còn xác định, bên cạnh các chủ thể trực tiếp VPHC về BVMT phải bị
XLVPHC thì các chủ thể liên quan cũng là đối tượng bị XLVPHC trong lĩnh vực
BVMT. Cụ thể, những người thực hiện hành vi trợ giúp, khuyên bảo, khuyến khích,
xúi giục người khác thực hiện hành vi gây nguy hại cho môi trường [67],... Đối với
các công trình nghiên cứu ở Việt Nam, đã đề cập đối tượng bị XLVPHC là cá nhân
từ 14 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hành chính, tổ chức, hộ gia đình,... Tuy
nhiên, các công trình trong nước chưa phân tích đặc điểm của tổ chức, cá nhân với
tư cách là đối tượng bị XLVPHC trong lĩnh vực BVMT, vấn đề này sẽ được tác giả
luận giải sâu sắc thêm.
Bốn là, những nghiên cứu về chủ thể có thẩm quyền XLVPHC trong lĩnh vực
BVMT. Vấn đề xác định thẩm quyền XLVPHC trong lĩnh vực BVMT thuộc trách
nhiệm của hệ thống cơ quan tư pháp hay cơ quan hành chính, hay hệ thống cơ quan
nửa hành chính – tư pháp hoặc thuộc thẩm quyền của cả cơ quan hành chính và cơ
quan tư pháp đã được các công trình phân tích, luận giải, như [15][64] [2] [102]
[126] [85] [53], trong đó, các công trình đã xác định thẩm quyền XLVPHC trong
lĩnh vực BVMT ở một số nước trên thế giới được quy định cụ thể, ngoài cơ quan
hành chính (Trung Quốc) còn có cơ quan tư pháp tham gia xử phạt đối với VPHC
(Ba Lan, Thái Lan). Ngoài ra, còn có các cơ quan nửa hành chính – tư pháp và các
tổ chức công được ủy quyền đều có thể tiến hành XLVPHC trong lĩnh vực BVMT
(Trung Quốc, Cộng Hòa Pháp, New South Wales); có nước XLVPHC trong lĩnh
vực BVMT thuộc thẩm quyền xử lý của cả cơ quan hành chính và cơ quan tư pháp
[14]. Còn ở Việt Nam, các công trình đã đề cập đến thẩm quyền XLVPHC trong
lĩnh vực BVMT thuộc về hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước theo phân cấp
từ Trung ương đến địa phương. Trong đó, chủ yếu là Ủy ban nhân dân các cấp, các
cơ quan thanh tra môi trường, thanh tra chuyên ngành và cảnh sát nhân dân [ 53]