ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN ANH MINH
LUẬT SƯ VÀ TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2010
HÀ NỘI - 2010 Mục lục
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng Danh mục các biểu đò Mở đầu
1
Chương 1: Những vấn đề chung về luật sư và tổ chức hành nghề luật sư
6
40
2.4.
Thực trạng về tổ chức hành nghề luật sư
45
2.5.
Quy định của pháp luật về quản lý luật sư, tổ chức hành nghề
luật sư
50
2.5.1.
Quản lý nhà nước
50
2.5.2.
Quản lý của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư
52
2.6.
Thực trạng về quản lý luật sư, tổ chức hành nghề luật sư
58
2.6.1.
Quản lý nhà nước
58
2.6.2.
Công tác quản lý của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư
62
2.7.
Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập
65
2.7.1.
Công tác đào tạo đội ngũ luật sư
65
2.7.2.
Danh mục tài liệu tham khảo
88
Danh mục các bảng
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Sự phát triển của luật sư qua các năm
28
Danh mục các biểu đồ
Số hiệu
biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
2.1
Sự phân bổ luật sư trên các vùng miền
29
2.2
Trình độ của đội ngũ luật sư
30
2.3
chuyên môn, nghiệp vụ, vững vàng về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo
đức nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với chất
lượng dịch vụ pháp lý và hội nhập kinh tế quốc tế; kế thừa những quy định
của Pháp lệnh Luật sư năm 2001, đồng thời khắc phục những hạn chế, bất cập
trong tổ chức và hoạt động của luật sư, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông
qua Luật Luật sư ngày 29 tháng 6 năm 2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 2007.
Sau hơn ba năm thi hành luật sư và các văn bản hướng dẫn không những
đáp ứng kịp thời nhu cầu giúp đỡ pháp lý ngày càng cao của cá nhân, tổ chức,
góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị
cáo và các đương sự khác, phục vụ tích cực cho công cuộc cải cách tư pháp,
mà còn góp phần tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi và tin cậy cho các hoạt
động đầu tư, kinh doanh, thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
2
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, cũng phải thấy rằng
nhận thức về vị trí, vai trò của luật sư chưa thống nhất, hiệu quả hoạt động
của tổ chức hành nghề luật sư chưa cao; chất lượng đội ngũ luật sư chưa đáp
ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế; đạo đức nghề
nghiệp và kỷ luật hành nghề luật sư vẫn chưa được nhận thức đầy đủ, chưa
trở thành ý thức tự giác đối với mỗi cá nhân luật sư trong hành nghề và trong
cuộc sống
Mặc dù đã có một số bài viết và công trình nghiên cứu về luật sư nhưng
các bài viết, công trình nghiên cứu chủ yếu bàn về địa vị pháp lý của người
bào chữa, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự… chưa có công trình nào đi sâu
nghiên cứu về hoạt động hành nghề của luật sư và tổ chức hành nghề luật sư.
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện về lý luận cũng
như thực tiễn tổ chức và hoạt động của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư hiện
nay trong bối cảnh nước ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển
nền kinh tế thị trường ngày một hội nhập sâu, rộng trên thế giới, có ý nghĩa cả
nghề của luật sư, hình thức tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề luật
sư theo các văn bản pháp luật hiện hành, luận văn không nghiên cứu địa vị
pháp lý của luật sư; tư cách tố tụng của luật sư…
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Luật Luật sư, các văn bản pháp
luật về luật sư, thực tiễn hoạt động của đội ngũ luật sư và các tổ chức hành
nghề luật sư ở trong nước.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luật của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật trong việc nghiên cứu và một số
phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và thực
tiễn về luật sư và hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư.
4
- Phương pháp so sánh để đối chiếu, so sánh với pháp luật của một số
nước trên thế giới nhằm tham khảo, tiếp thu kinh nghiệm.
- Phương pháp tổng hợp để tổng hợp các vấn đề đã được nghiên cứu
nhằm đưa ra những nhận định và kết luận.
- Phương pháp thống kê để thống kê các số liệu trong thực tiễn hoạt
động hành nghề của luật sư và tổ chức hành nghề luật sư làm cơ sở cho việc
đưa ra những nhận xét, kết luận và kiến nghị hoàn thiện các quy định về thể
chế luật sư và hoạt động hành nghề luật sư.
6. Điểm mới của luận văn
Việc nghiên cứu đề tài đạt được những điểm mới sau:
- Luận văn làm rõ cơ sở quy định về luật sư và tổ chức hành nghề luật sư.
- Trên cơ sở nghiên cứu của các quy định của pháp luật về luật sư,
luận văn làm rõ các quy định của Luật Luật sư, thực trạng công tác quản lý
luật sư, tổ chức hành nghề luật sư hiện nay, chỉ rõ các nguyên nhân của những
hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng.
- Luận văn đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về
Quyền bào chữa của bị can, bị cáo đã có từ lâu. Theo nhận xét của
một số nhà cổ học thì quyền bào chữa xuất hiện sớm nhất ở Châu Âu cùng với
sự xuất hiện của Tòa án và người biện hộ xuất hiện cùng thẩm phán. Trong
nhà nước Hy Lạp cổ, lúc mà tổ chức Tòa án đã hình thành, nguyên cáo hoặc
bị cáo được nhờ người thân thuộc của mình bào chữa trước Tòa án. Vào giai
đoạn cuối cùng của nền cộng hòa thứ IV trước Công nguyên, chế độ bào chữa
đã bắt đầu phát triển, người đi kiện đã biết nhờ người thân mà mình tín nhiệm
bào chữa hộ mình. Việc bào chữa xuất phát tự nhiên nhằm minh oan cho bạn
bè hoặc người thân bị giai cấp thống trị bắt giam vô cớ và trừng phạt một cách
độc đoán. Nó xuất phát từ quyền lợi của nhân dân bị áp bức nên được nhân
dân đồng tình ủng hộ và dần dần thu hút nhiều người tham gia bào chữa trước
tòa [37, tr. 5-6].
Từ thế kỷ I trước Công Nguyên đến thế kỷ II sau Công nguyên, tại Hy
Lạp (Grèce) và La Mã (Rome) đã xuất hiện một loại hiệp sĩ đặc biệt. Loại
hiệp sĩ này không dùng khí giới hay bắp thịt (sức mạnh về thể lực) để chiến
thắng kẻ địch, mà chỉ dùng thiên tài ngôn ngữ và sự hiểu biết rộng rãi về cổ luật
để đứng ra bênh vực cho những kẻ nghèo, yếu thế, thấp cổ bé họng hoặc phụ nữ
bị ngược đãi trước các thế lực đương thời. Họ được gọi tên là "Advocatus"
(người biện hộ). Các hiệp sĩ này ngày càng đông và đến thế kỷ IV sau Công
nguyên, họ tập hợp tại Rome thành một đoàn thể được độc quyền biện hộ trước
Hoàng đế. Đến cuối thế kỷ VIII mới có danh xưng "Advocatus" cho 17 vị và
7
được vua công nhận có quyền biện hộ trước các tòa án. Định chế luật sư đã
trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, khi thì phát triển rạng rỡ, khi bị tiêu diệt
rồi sinh thành [23, tr. 14].
Ngày nay, tất cả các nước trên thế giới đều có sự quan tâm đặc biệt
đến sự hình thành và phát triển của đội ngũ luật sư. Trên thế giới nhiều quốc
gia đã có đạo luật riêng điều chỉnh về tổ chức và hành nghề luật sư với tên gọi
gắn với thuật ngữ "luật sư" hoặc "hành nghề luật sư", ví dụ: Đạo luật về hành
31/12/1990 và Sắc lệnh số 91/1197 ngày 27/12/1991 về tổ chức hành nghề
luật sư của Cộng hòa Pháp thì luật sư là người Pháp và các trường hợp khác
theo quy định; có ít nhất một bằng cao học luật hoặc những bằng cấp tương
đương được thừa nhận; được cấp chứng chỉ đủ khả năng hành nghề luật sư;
không bị kỷ luật như cách chức, xóa tên hoặc xóa giấy phép; không bị vỡ nợ
hoặc một hình thức chế tài khác.
ở Việt Nam, ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 46/SL ngày 10/10/1945 về tổ chức
các đoàn thể luật sư, Sắc lệnh này đã quy định việc duy trì tổ chức luật sư đã
có với sự vận dụng linh hoạt các quy định pháp luật của chế độ cũ về luật sư
nhưng không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa. Hiến
pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 đã khẳng định quyền bào
chữa là một trong những quyền cơ bản của công dân.
Tuy nhiên, trong điều kiện toàn Đảng, toàn dân ta phải tập trung sức
người, sức của cho cuộc kháng chiến cứu nước. Trong điều kiện đó, tổ chức
luật sư không thể tiếp tục duy trì. Hưởng ứng lời kêu gọi toàn dân kháng
chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều luật sư, luật gia đã ra mặt trận, lên
chiến khu hoặc tham gia vào hoạt động tư pháp tại các vùng do chính quyền
ta kiểm soát. Nhiều luật sư đã giữ cương vị quan trọng trong chính quyền,
trong các cơ quan tư pháp, Tòa án như luật sư Phan Anh, luật sư Phan Văn
Trường, luật sư Vũ Văn Hưởng, luật sư Vũ Trọng Khánh, luật sư Phan Văn
Bạch, luật sư Vũ Đình Hòe, luật sư Trần Công Tường, luật sư Nguyễn Thành
9
Vĩnh, luật sư Đỗ Xuân Sảng, luật sư Hoàng Văn Kế và nhiều luật sư khác.
Mặc dù tổ chức hành nghề luật sư không được duy trì nhưng Đảng và Nhà
nước ta vẫn luôn quan tâm đến việc đảm bảo quyền bào chữa trước Tòa án
của bị cáo, một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận
trong Hiến pháp. Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 quy định nguyên cáo, bị
cáo có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bênh vực cho mình. Cụ thể
Minh thì thành lập Đoàn Luật sư, bào chữa viên, tập hợp các luật sư đã được
công nhận trước đây và các bào chữa viên. Tính đến cuối năm 1987, trên cả
nước đã có 30 đoàn bào chữa viên với gần 400 bào chữa viên.
Đến Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986 đã mở
đầu một thời kỳ lịch sử mới xây dựng đất nước, thời kỳ đổi mới. Đường lối
đổi mới do Đại hội vạch ra đã tác động sâu rộng đến mọi mặt hoạt động trong
xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp. Các đạo luật về tố tụng được ban hành
theo hướng mở rộng dân chủ trong tố tụng, trong đó có việc tăng cường bảo
đảm quyền bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức
trước Tòa án và các cơ quan tố tụng khác. Trong bối cảnh đó, ngày 18/12/1987,
Pháp lệnh Tổ chức luật sư được ban hành, Pháp lệnh Tổ chức luật sư tạo cơ sở
pháp lý quan trọng cho việc phát triển tổ chức và hoạt động luật sư, là văn bản
pháp luật có ý nghĩa lịch sử trong việc khôi phục nghề luật sư và mở đầu cho
quá trình phát triển nghề luật sư ở nước ta trong thời kỳ mới. Pháp lệnh quy
định rõ tiêu chuẩn được công nhận là luật sư, theo đó những người là công
dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất, đạo đức tốt; tốt
nghiệp đại học pháp lý hoặc có trình độ pháp lý tương đương; gia nhập Đoàn
Luật sư và phải qua một thời gian tập sự từ sáu tháng đến hai năm và phải qua
một kỳ kiểm tra mới được công nhận là luật sư.
Pháp lệnh Luật sư năm 1987 đã chính thức dùng từ "luật sư" để chỉ những
người hoạt động tư vấn pháp luật và bào chữa trước tòa án, tuy nhiên hoạt
động bào chữa trước tòa không chỉ có luật sư mà bao gồm cả người đại diện
11
hợp pháp của bị can, bị cáo, đương sự và bào chữa viên nhân dân và họ đều
được gọi chung là "người bào chữa".
Sau hơn mười năm kể từ Đại hội Đảng lần thứ VI, công cuộc đổi mới
ở đất nước ta đã thu được những thành tựu to lớn và quan trọng. Từ nửa cuối
thập niên 90, đất nước ta bước vào giai đoạn quan trọng của quá trình đổi
mới, trong đó nhu cầu đẩy mạnh quá trình xây dựng cơ chế thị trường, yêu
Thứ hai: Về mặt xã hội, do chưa được thừa nhận là một chức danh tư
pháp độc lập nên vai trò của luật sư trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, trong cải cách tư pháp còn hạn chế. Thực tiễn cho
thấy, địa vị pháp lý của luật sư chưa được xác định một cách rõ ràng, cũng
như chưa làm rõ ranh giới giữa phạm vi hành nghề dịch vụ pháp lý cho xã
hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân, bảo vệ công
bằng và chính nghĩa, với phục vụ lợi ích công.
Thứ ba: Khái niệm luật sư nêu trên mới chỉ nhận diện một loại hình
luật sư hoạt động tranh tụng và tư vấn, chưa bao quát được các loại hình hoạt
động khác do thực tiễn đòi hỏi như luật sư trợ giúp pháp lý miễn phí cho
người nghèo và đối tượng chính sách…
Trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là cải cách tư pháp
và hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một
số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số
48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết
số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020,
trong đó đưa ra những định hướng quan trọng nhằm phát triển đội ngũ luật sư
có phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ chuyên môn, đồng thời đề cao trách
13
nhiệm của các tổ chức hành nghề luật sư, phát huy hơn nữa vai trò tự quản
của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
Thể chế hóa các chủ trương của Đảng, ngày 29/6/2006, Quốc hội khóa XI
thông qua Luật Luật sư, Luật Luật sư có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01
năm 2007 và thay thế Pháp lệnh Luật sư năm 2001. Tại Điều 2 Luật Luật sư
quy định: "Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy
định của luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ
quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)" [29]. Quy định về tiêu
vụ pháp lý như luật sư, góp phần bảo vệ lợi ích của cá nhân, tổ chức và xã
hội, tăng cường quản lý về hành nghề luật sư.
Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, theo tác giả khái niệm về
luật sư được hiểu như sau: Luật sư là công dân Việt Nam trung thành với Tổ
quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử
nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề
luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư, đã được cấp Chứng chỉ hành
nghề luật sư và gia nhập một Đoàn Luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý tham
gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và các
dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
1.1.2. Hoạt động hành nghề của luật sư
Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việc
bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân là một trong những nhiệm vụ chủ
yếu trong đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta. Hiện nay, luật sư
được xác định là một chức danh tư pháp độc lập tham gia vào tiến trình mang
tính định hướng này không thể tách rời với nhiệm vụ quan trọng mà Đảng,
Nhà nước đã đề ra. Hoạt động hành nghề của luật sư trước hết phải thể hiện ở
việc tuân thủ pháp luật của người hành nghề luật sư, dựa vào pháp luật để bảo
15
vệ quyền và lợi ích cho cá nhân, cơ quan, tổ chức bảo đảm sự thật khách quan
và công lý.
Hoạt động hành nghề luật sư được thể hiện ở uy tín nghề nghiệp, đây
là thuộc tính quan trọng thể hiện bản chất của hoạt động hành nghề luật sư.
Khách hàng có quyền lựa chọn luật sư cho mình, không phụ thuộc vào chỉ
định bắt buộc hay can thiệp của bất cứ cơ quan, cá nhân nào và luật sư hành
nghề bằng lời nói, soạn thảo văn bản tư vấn hay tranh tụng tại phiên tòa đều
nhân danh cá nhân; thuộc tính này phân biệt hoạt động hành nghề của luật sư
với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng mang tính tập thể, dưới danh
nghĩa cơ quan, tổ chức.
luật sư.
Luật sư hành nghề không chỉ quan tâm đến thù lao của khách hàng và
những lợi ích vật chất, tinh thần, mà còn phải quan tâm đến yếu tố phi vật chất,
phi dịch vụ như trong hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí, bào chữa theo chỉ
định của cơ quan tiến hành tố tụng…
Thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, tuyên truyền và phổ biến, giáo
dục luật sư đã đáp ứng nhu cầu pháp lý của người dân một cách minh bạch,
tạo cho người dân nhận biết chân thực và công bằng các nhu cầu chính đáng
ấy. Người dân không chỉ tin tưởng vào kiến thức pháp lý, kỹ năng hành nghề
mà cả tính liêm chính, chuẩn mực trong hành vi của cá nhân luật sư và tổ
chức hành nghề luật sư.
Hoạt động tư vấn pháp luật và dịch vụ pháp lý khác góp phần quan
trọng trong việc tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, lành mạnh
theo đúng pháp luật, đồng thời hỗ trợ tích cực việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, phát triển thị trường dịch vụ, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm; góp
phần bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp cả ở nước ngoài. Không những vậy,
luật sư còn tham gia hoạch định chính sách kinh doanh cho doanh nghiệp,
giúp doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội kinh doanh trên thị trường trong và ngoài
17
nước, đặc biệt là giúp doanh nghiệp phòng ngừa những rủi ro trong kinh
doanh và đại diện cho doanh nghiệp trong giải quyết tranh chấp phát sinh, luật
sư đóng vai trò là "cố vấn pháp luật" cho doanh nghiệp trong sản xuất, kinh
doanh. Sự tham gia tích cực của luật sư trong dự án đầu tư, các giao dịch kinh
doanh, thương mại không chỉ góp phần phát huy nội lực mà còn thu hút ngoại
lực, thúc đẩy hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Với cơ chế thực thi pháp luật "Nhà nước chỉ làm những gì pháp luật
cho phép, công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm", việc
tuân thủ pháp luật trở thành ý thức tự giác trong từng hành vi ứng xử của mỗi
công dân là nền tảng vững chắc để xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn
các tổ chức về mặt pháp lý" [39].
Đến Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đã có sự phân biệt hình thức tổ chức
hành nghề của luật sư và tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư, tại Điều 3
của pháp lệnh quy định: "Hình thức tổ chức hành nghề luật sư là văn phòng
luật sư và công ty luật hợp danh". Như vậy, Pháp lệnh quy định hai hình thức
tổ chức hành nghề luật sư là văn phòng luật sư và công ty luật hợp danh.
Văn phòng luật sư có thể do một hoặc một số luật sư thành lập, chịu
trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa
vụ của văn phòng; được thực hiện dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tố tụng, tư
vấn pháp luật và dịch vụ pháp lý khác.
Công ty luật hợp danh là tổ chức hành nghề luật sư do ít nhất 02 luật
sư thành lập và chịu trách nhiệm liên đới bằng toàn bộ tài sản của mình về
mọi nghĩa vụ của công ty. Công ty luật hợp danh được thực hiện dịch vụ pháp
lý trong lĩnh vực tư vấn pháp luật, dịch vụ pháp lý khác và không được thực
hiện dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tố tụng. Phạm vi hoạt động của công ty
luật hợp danh hẹp hơn so với Văn phòng luật sư. Công ty luât hợp danh chỉ
được thực hiện dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tư vấn pháp luật và dịch vụ
pháp lý khác. Như vậy, khi Pháp lệnh Luật sư ra đời, một thực tế tồn tại song
19
song hai loại hình đó là công ty có chức năng kinh doanh dịch vụ pháp lý theo
Luật Doanh nghiệp năm 1999 với cng ty luật hợp danh theo Pháp lệnh Luật
sư năm 2001, nguyên nhân của sự tồn tại này đó là vẫn chưa có sự thống nhất
thế nào là hành nghề dịch vụ pháp lý và thế nào là hành nghề luật sư.
Kế thừa những thành tựu của Pháp lệnh Luật sư năm 2001 và khắc
phục những hạn chế còn tồn tại nêu trên, Luật Luật sư năm 2006 quy định tổ
chức hành nghề luật sư bao gồm: Văn phòng luật sư do một luật sư thành lập,
công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty luật trách
nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty luật hợp danh. Khác với Pháp lệnh
Luật sư năm 2001, Luật Luật sư năm 2006 đã cho phép tổ chức hành nghề
hành nghề dưới tất cả các hình thức của các công ty kinh doanh thông thường
như: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh. Hiện
nay, nhiều quốc gia đã và đang có xu hướng đa dạng hóa hình thức tổ chức
hành nghề luật sư để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế (như Mỹ,
Australia, Anh, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan…). Do đó, ngoài hình thức
công ty luật hợp danh mang tính truyền thống, pháp luật của các nước này còn
quy định về loại hình công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Giải pháp để bảo đảm
quyền lợi cho khách hàng đó là công ty luật có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của mình để bồi thường thiệt hại gây ra cho
khách hàng.
1.2.2. Hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư
Luật Luật sư năm 2006 đã mở rộng và có nhiều đổi mới về hình thức
hành nghề, đưa các tổ chức hành nghề luật sư xích lại gần với các loại hình
doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
Văn phòng luật sư là hình thức phổ biến trên thế giới, văn phòng được
coi là một doanh nghiệp. Luật Luật sư năm 2006 quy định "Văn phòng luật sư