ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
*** NGUYỄN THỊ THU HÀ
NÂNG CAO HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội , 2012
Hà Nội , 2012 MỤC LỤC Trang
Mở đầu
1.
Tính cấp thiết của đề tài
04
2.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
11
3.
Mục đích và nhiệm vụ của luận án
12
4.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
12
5.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
13
6.
Kết cấu của luận án
13
Chƣơng 1
Tổng quan về tình hình nghiên cứu
27
2.1.2.
Quản lý nhà nước
27
2.1.2.
Quản lý nhà nước và các đặc trưng của quản lý nhà nước
28
2.1.3.
Quan niệm quản lý nhà nước về giáo dục và Bộ máy quản lý
nhà nước về giáo dục.
30
2.1.4.
Quan niệm quản lý nhà nước về giáo dục đại học
32
2.2.
Hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học và bảo đảm
hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học
40
2.2.1.
Quan niệm chung về hiệu lực quản lý nhà nước
40
2.2.2.
Quan niệm hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học và
một số tiêu chí đánh giá
44
2.2.3.
Bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học
48
2.3.
Phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục đại học
Kinh nghiệm quản lý giáo dục đại học của một số nước
61
2.4.1.
Hoa Kỳ
61
2.4.2.
Trung Quốc
63
2.4.3.
Nhật Bản
66
2.4.4.
Liên Bang Nga
67
Kết luận Chương 2
69
Chƣơng 3
Thực trạng quản lý nhà nƣớc về giáo dục đại
72
3.1.
Sự hình thành và phát triển của quản lý nhà nước về giáo dục
đại học ở nước ta
72
3.1.1.
Thời kỳ kháng chiến chống Pháp
72
3.1.2.
Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh
thống nhất đất nước
3.3.1.
Văn bản quy phạm pháp luật về quản trị đại học
98
3.3.2.
Văn bản quy phạm pháp luật về quản lý giáo dục đại học
trong lĩnh vực tài chính
102
3.4.3.
Văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo đảm và nâng
103 3
cao chất lượng đào tạo
3.4
Kết quả đạt được và hạn chế bất cấp
110
3.4.1.
Kết quả đạt được
110
3.4.2.
Hạn chế bất cập
114
3.5.
Nguyên nhân hạn chế bất cập
119
3.5.1.
Về khách quan
119
3.5.2.
129
4.3.2.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật về giáo dục đại học
133
4.3.3.
Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục đại học
138
4.3.4.
Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện chính sách giáo dục đại
học
139
4.3.5
Thành lập Bộ Đại học và khoa học công nghệ
141
4.3.6
Nâng cao năng lực tổ chức và thực hiện chính sách giáo dục
đại học đại học
143
4.3.7
Phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục đại học theo đối
tượng và theo chức năng nhiệm vụ
144
Kết luận chương
148
Kết luận chung của luận án 150
Danh mục các công trình của tác giả đã đƣợc công bố có liên quan đến luận án 154
Tài liệu tham khảo 155
1.1.2 Các xu thế mới trong quản lý nhà nước về giáo dục
Dưới tác động của tiến trình hội nhập quốc tế, giáo dục thế giới đã có
những biến động quan trọng như đã nêu trên, nguyên do là sự xuất hiện của 5
hai chủ thể mới là thị trường và xã hội dân sự, bên cạnh hai chủ thể truyền
thống là Nhà nước và nhà trường. Điều đó khiến Chính phủ các nước phải
xem xét lại cơ chế quản lý nhà nước về giáo dục đại học, bổ sung hệ thống
pháp luật về giáo dục đại học nhằm thích ứng với những điều kiện mới và yêu
cầu mới của thực tế hoạt động giáo dục đại học.
Quản lý nhà nước về giáo dục đại học trước đây chủ yếu tập trung vào
các quy định về mối quan hệ giữa hai chủ thể chính là nhà nước và nhà
trường, trong đó nhà nước vừa là người cung ứng giáo dục vừa là người chỉ
huy và kiểm soát, nay quản lý nhà nước về giáo dục đại học, căn bản chuyển
sang vai trò giám sát hoạt động giáo dục.
Cũng theo Phạm Đỗ Nhật Tiến thì hiện nay hình thành một số xu thế
mới trong quản lý nhà nước về giáo dục như sau:
a) Xu thế xây dựng thể chế thị trường giáo dục: lựa chọn mô hình pháp
lý phù hợp nhất để xây dựng các quy định về tiêu chuẩn chất lượng, về tổ
chức và hoạt động của các cơ sở giáo dục.
b) Xu thế xây dựng thể chế không gian giáo dục chung: bao gồm
chương trình giáo dục so sánh được, hệ thống chuyển đổi tín chỉ, các trình độ
đào tạo thống nhất, hệ thống đảm bảo về kiểm định chất lượng, sự công nhận
văn bằng.
c) Xu thế xây dựng thể chế dân chủ dựa trên hai nguyên tắc: nguyên tắc
bình đẳng trong thụ hưởng giáo dục và nguyên tắc tham dự trong việc hoạch
định chính sách giáo dục và giám sát việc thực hiện chính sách giáo dục.
d) Đo lường giáo dục và so sánh quốc tế không chỉ tập trung vào đánh
giá người học mà được mở rộng sang đánh giá nhà trường, cộng đồng giáo
nước về giáo dục còn khoảng cách khá xa, cần được nghiên cứu một cách bài
bản để đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm đổi mới quản lý nhà nước trên cơ
sở nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học.
1.2. Bối cảnh trong nƣớc
1.2.1. Đường lối phát triển giáo dục đại học của Đảng và Nhà nước
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã
khẳng định “ Trên cơ sở nắm vững 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ tổ quốc, trong thời gian từ nay đến năm 2020 sẽ ra sức phấn
đấu để nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, có cơ sở vật chất kỹ
thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, 7
quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh”.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt nam đã
đề ra mục tiêu “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị- xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương,
đồng thuận; đòi sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ
rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế
của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo điều kiện vững
chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau”.
Đảng và nhà nước ta coi giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là
quốc sách hàng đầu: a) Phát triển giáo dục và đào tạo được coi là nền tảng và
động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát
huy nguồn lực của con người; b) Cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về
giáo dục và đào tạo; c) Giáo dục và đào tạo là một trong 3 lĩnh vực then chốt
cần đột phá để làm chuyển động tình hình kinh tế - xã hội, tạo bước chuyển
mạnh về phát triển nguồn nhân lực. Nó liên quan chặt chẽ đến 2 lĩnh vực khác
đến năm 2020 và mới đây, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã đặt ra yêu
cầu: “ Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt nam theo hướng, chuẩn
hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi
mới cơ chế quản lý. Đó chính là định hướng mà quản lý nhà nước về giáo dục
đại học phải đổi mới để đảm nhận thành công vai trò dẫn đường sự phát triển
của giáo dục đại học, đáp ứng các thách thức của kinh tế thị trường và hội
nhập quốc.
1.2.2. Hạn chế và yếu kém của quản lý Nhà nước về giáo dục đại học
Chỉ thị số 296/CT - TTg ngày 27/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ về
đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012 đã chỉ rõ: “Giáo dục
đại học đã bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém: chất lượng đào tạo nhìn chung
còn thấp, chưa theo kịp đòi hỏi phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; cơ chế
quản lý của Nhà nước đối với hệ thống giáo dục đại học và sự quản lý của các
trường đại học, cao đẳng còn nhiều bất hợp lý kéo dài, chưa tạo ra động lực
đủ mạnh để phát huy năng lực sáng tạo và sự tự chịu trách nhiệm của đội ngũ
giảng viên, các nhà quản lý và sinh viên để đổi mới mạnh mẽ, căn bản giáo
dục đại học Có nhiều nguyên nhân của tình hình trên, nhưng nguyên nhân
căn bản chính là sự yếu kém trong quản lý Nhà nước về giáo dục đại học và
sự yếu kém trong quản lý của bản thân các trường đại học, cao đẳng” 20, tr
1. 9
Những nhận định trong Chỉ thị này đã chỉ rõ thực trạng và nguyên nhân
những hạn chế, yếu kém của nền giáo dục đại học Việt Nam và coi việc đổi
mới quản lý giáo dục đại học là “khâu đột phá để nâng cao chất lượng và phát
triển toàn diện giáo dục đại học, làm tiền đề triển khai hệ thống các giải pháp
đồng bộ nhằm khắc phục các yếu kém trong ngành, nâng cao chất lượng và
hiệu quả giáo dục đại học”. Chỉ thị số 296/CT-TTg đã phản ánh ý kiến của
nhiều học giả trong nước cũng như ngoài nước khi bàn về giáo dục đại học
gì, trong khi ở các nước khác thì hoàn toàn ngược lại” 50.
Tóm lại, chất lượng đào tạo của giáo dục đại học Việt Nam thấp do
nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chủ yếu là những bất cập về quản lý
Nhà nước.
1.3. Cơ hội và thách thức
Bối cảnh quốc tế tạo cho kinh tế - xã hội và nền giáo dục đại học nước
ta một cơ hội chưa từng có: nếu biết tranh thủ khai thác công nghệ thông tin
và truyền thông sẽ giúp giáo dục đại học nước ta nhanh chóng tiếp cận với các
nguồn tri thức và thông tin khổng lồ phục vụ học tập và nghiên cứu, hệ thống
giáo dục xuyên biên giới tạo cho công dân nước ta nhiều cơ hội học tập. Giáo
dục đại học thế giới đang thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ là cơ hội tốt để
giáo dục đại học nước ta có điều kiện đi tắt, đón đầu để tiếp cận học tập, vận
dụng sáng tạo vào thực tiễn đất nước.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, với việc thực hiện các cam kết quốc tế
(Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, khu vực mậu dịch tự do ASEAN
và ra nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO) kinh tế xã hội và giáo dục đại
học nước ta đứng trước những thách thức cực kỳ to lớn: khoảng cách giữa
nước ta với các nước phát triển có thể càng gia tăng, tình trạng thất thoát chất
xám từ nước ta ra các nước phát triển hơn có thể rất trầm trọng, giáo dục đại
học nước ta có thể không đủ sức cạnh tranh với sự xâm nhập và sự thu hút của
giáo dục đại học các nước; quyền lợi người học có thể bị xâm phạm, bản sắc
văn hóa dân tộc và những giá trị truyền thống trong giáo dục đại học có thể bị
phai nhạt…
Trong nước, nếu giáo dục đại học không đáp ứng được nguồn nhân lực
trình độ cao và nhu cầu học tập của nhân dân thì sự nghiệp công nghiệp hóa -
hiện đại hóa và mục tiêu chung dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh sẽ không thể sớm trở thành hiện thực. 11
tượng và theo chức năng nhiệm vụ. Luận án không đi sâu vào lĩnh vực quản 12
lý tác nghiệp của các cơ sở giáo dục đại học. Thời gian nghiên cứu của đề tài
được giới hạn từ những năm đổi mới đến nay, chủ yếu là từ năm 1998 khi
Luật Giáo dục đầu tiên của nước ta được ban hành.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Về mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những vấn đề về lý luận
và thực tiễn quản lý nhà nước về giáo dục đại học, luận án đề xuất các quan
điểm, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về giáo
dục đại học trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.
Về nhiệm vụ: Phù hợp với mục đích trên, luận án giải quyết những vấn
đề sau:
Một: Phân tích cơ sở lý luận về hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục
đại học;
Hai: Phân tích đánh giá thực trạng về hiệu lực quản lý nhà nước về giáo
dục đại học;
Ba: Trên cơ sở phân tích những vấn đề về lý luận, thực trạng quản lý
nhà nước về giáo dục đại học và tham khảo có chọn lọc một số mô hình quản
lý giáo dục đại học của một số nước trên thế giới; xác định quan điểm, mục
tiêu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về
giáo dục đại học trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng
và nhà nước về giáo dục đại học, đặc biệt là các quan điểm và đường lối phát
triển giáo dục đại học thể hiện trong Nghị quyết Trung ương 2 (Khoá VIII)
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X, XI kết luận của Hội nghị
Trung ương 6 (Khoá IX). Luật Giáo dục năm 2005 và Luật Giáo dục sửa đổi
những kiến giải, đề xuất và kết luận trong luận án có thể được sử dụng để tiếp
tục hoàn thiện Luật Giáo dục, xây dựng Luật Giáo dục đại học trong xu thế
hội nhập quốc tế.
6. Kết cấu của Luận án
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm 4 chương:
- Chương I: Tổng quan tình hình nghiên cứu.
- Chương II: Cơ sở lý luận về hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục
đại học.
- Chương III: Thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục đại học. 14
- Chương IV: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp nâng cao hiệu lực quản
lý nhà nước về giáo dục đại học.
15
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Nghiên cứu về quản lý nhà nước
Giáo dục và đào tạo có vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển kinh
tế - xã hội ở mỗi quốc gia. Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành
Trung ương Đảng khoá VIII đã nêu rõ: “Thực sự coi giáo dục - đào tạo cùng
khoa học – công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển
(Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2010), giáo trình “Luật Hành chính Việt
Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội (Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội
2005); tài liệu bồi dưỡng về quản lý hành chính nhà nước (chương trình
chuyên viên) Phần III Quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực của Học viện
Hành chính (Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2011); giáo trình “Quản lý
Hành chính Nhà nước và quản lý ngành giáo dục -đào tạo” của Viện Nghiên
cứu Sư phạm, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Nxb Đại học Sư phạm, Hà
Nội, 2007); giáo trình “Quản lý nhà nước về giáo dục” của Phan Văn Kha
(Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 2007); giáo trình về hệ thống quản lý
nhà nước: giáo trình dùng cho các trường đại học Nga (Nxb.Iunti - Dana;
M.2002 của - Glazunova H. I); sách tham khảo Quản lý nhà nước và thị chính
(Nxb EKMOS, M. 2001); giáo trình về cơ sở lý thuyết quản lý nhà nước
(Trung tâm xuất bản “Mart”, 2000); Quản lý nhà nước là một hệ thống (sách
chuyên khảo. Nxb Gun, 2001); lý thuyết quản lý nhà nước (Nxb Ekonomika,
2002. 638 tr. Shamkhalov F);
Cuốn sách: Lý thuyết quản lý nhà nước của G.V. Atamantrúc (Nxb.
Ômêga M. 2004) đề cập các vấn đề lý luận về quản lý nhà nước: khái niệm,
bản chất, đặc điểm, chủ thể, khách thể, đối tượng, hình thức, phương pháp, cơ
sở khách quan, các nhân tố chủ quan của quản lý nhà nước; hệ thống quản lý
nhà nước; cây “mục tiêu”; cơ cấu chức năng của quản lý nhà nước; cơ cấu tổ
chức của quản lý nhà nước; sự điều chỉnh của pháp luật trong quản lý nhà
nước; pháp chế trong quản lý nhà nước; thông tin trong quản lý nhà nước và
nhiều vấn đề khác.
Các công trình nói trên đã khái quát những vấn đề cơ bản về quản lý
nhà nước, phân biệt quản lý nhà nước với các loại hình quản lý khác. Tuy
nhiên, các công trình này mới chỉ dừng ở việc nghiên cứu những vấn đề cơ
bản có tính lý luận về quản lý, quản lý nhà nước và quản lý nhà nước đối với
ngành, lĩnh vực mà chưa có những nghiên cứu chuyên sâu giải quyết những
đối với doanh nghiệp, chỉ ra đặc trưng, phân tích các yếu tố khách quan, nhân
tố chủ quan tác động tới quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với doanh
nghiệp. 18
Luận án tiến sĩ luật học của Trịnh Đăng Thanh (Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, 2004) với đề tài “Tăng cường quản lý nhà nước bằng
pháp luật đối với hoạt động du lịch ở Việt Nam hiện nay”;
Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Kim Thái (Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, 2005) với đề tài: “Tăng cường quản lý nhà nước bằng
pháp luật đối với bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay”;
1.2 Nghiên cứu về giáo dục và quản lý giáo dục đại học
Trong lĩnh vực này có nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố:
- Đỗ Văn Chấn: Một số vấn đề phương pháp luận quản lý giáo dục
thành tựu và xu hướng kinh tế học giáo dục, Hà Nội năm 1996;
- Đặng Bá Lãm và Phạm Thành Nghị: Chính sách và kế hoạch trong
quản lý Giáo dục - Nxb Giáo dục năm 1999;
- Phạm Văn Đồng: Về vấn đề giáo dục - đào tạo, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội năm 1999;
- Phạm Minh Hạc: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ
XXI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 1999;
- Phạm Minh Hạc: Nhân tố mới về giáo dục và đào tạo trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
năm 2002;
- Phạm Thành Nghị: Quản lý chất lượng giáo dục đại học, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội năm 2000;
- Đặng Quốc Bảo: Quản lý - Quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô
hình, Trường cán bộ quản lý giáo dục - đào tạo Trung ương I, 2000;
- Đặng Xuân Hải: Bổ túc kiến thức quản lý hành chính nhà nước và
quản lý giáo dục và đào tạo Trung ương I, TS. Đặng Xuân Hải cũng triển khai
một đề tài: Đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo thông qua một
đề tài cấp bộ là: “Vai trò của nhà nước trong việc nâng cao quyền tự chủ và tự
chịu trách nhiệm của các trường đại học”;
Có nhiều bài báo phản ánh hiện trạng nhức nhối của giáo dục đại học
nước ta và kêu gọi một cuộc cải cách có tính cách mạng nền giáo dục đào tạo
nước nhà. Ví dụ: GS Hoàng Tụy “Một số vấn đề khoa học và giáo dục: góc
nhìn trong cuộc”, báo cáo tại hội thảo “Tiếp tục đổi mới để phát triển”, Đà
Nẵng, 7/2005 và “Chỗ nghẽn lớn nhất trong phát triển là giáo dục”, Báo Tuần
Việt Nam, 3/2011; Phạm Phụ “Nhận dạng một số khoảng cách và sự khác biệt
giữa thế giới và Việt Nam về giáo dục đại học trước xu thế toàn cầu hóa”, báo
cáo tại diễn đàn quốc tế về giáo dục Việt Nam “Đổi mới giáo dục đại học và
hội nhập quốc tế”, Hà Nội 6/2004; Võ Nguyên Giáp “Đổi mới có tính cách 20
mạng nền giáo dục và đào tạo nước nhà”, Sài Gòn Giải phòng, 10/9/2007;
Lâm Quang Thiệp “Suy nghĩ về quản lý trường đại học trong nền kinh tế thị
trường”, báo cáo tại lễ kỷ niệm 30 Trường Quản lý giáo dục, 9/2006.
Nhìn chung những công trình nghiên cứu nói trên về giáo dục, quản lý
nhà nước về giáo dục chủ yếu được nhìn nhận từ góc độ của quản lý nhà nước
về giáo dục và đào tạo, hoặc từ góc độ xã hội học của vấn đề do đó mới chỉ đề
cập một cách chung nhất và khái quát nhất về vấn đề, mà chưa xem xét vấn đề
một cách hệ thống, đặc biệt là ít phân tích về thể chế pháp luật từ góc nhìn
của khoa học luật.
1.3 Về quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với giáo dục
Đã có một số công trình nghiên cứu phân tích thực trạng về quản lý nhà
nước trong lĩnh vực giáo dục theo nhiều góc độ và cấp độ khác nhau, và đưa
ra nhiều đề xuất về việc hoàn thiện pháp luật giáo dục.
- Trong Luận văn thạc sỹ luật học năm 2004 với đề tài “Hoàn thiện
phạm pháp luật để phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Kết quả nghiên
cứu góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật
về giáo dục và đào tạo, từ đó làm phong phú thêm lý luận chung về Nhà nước
và pháp luật.
- Nguyễn Đức Cường trong đề tài nghiên cứu: Hoàn thiện pháp luật về
quản lý các trường đại học, cao đẳng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại
học ở Việt Nam hiện nay (Luận án Tiến sĩ luật học năm 2009) đã phân tích,
nhận định về quá trình phát triển cũng như những hạn chế đáng lưu ý của
pháp luật về quản lý các trường đại học, cao đẳng từ năm 1998 đến nay và
thông qua kinh nghiệm quốc tế đã đưa ra các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn
thiện nội dung pháp luật về quản lý các trường đại học, cao đẳng, trong đó có
nhiều giải pháp có tính khả thi và thể hiện tinh thần đổi mới pháp luật về quản
lý các trường đại học, cao đẳng. Luận án đề ra 13 tiêu chí trong việc hoàn
thiện pháp luật về quản lý các trường đại học, cao đẳng, cụ thể:
- Pháp luật quản l ý các trường đại học, cao đẳng phải có tính hệ thống.
- Pháp luật quản l ý các trường đại học, cao đẳng phải thống nhất và
đồng bộ với nhau.
- Pháp luật quản l ý các trường đại học, cao đẳng phải có sự tương tác
về pháp luật về các trường đại học, cao đẳng của các nước trên thế giới.
- Pháp luật quản l ý các trường đại học, cao đẳng phải phù hợp với điều
kiện, hoàn cảnh kinh tế xã hội của Việt Nam. 22
- Pháp luật quản l ý các trường đại học, cao đẳng phải có tính khả thi
trong thực tiễn.
- Pháp luật quản l ý các trường đại học, cao đẳng nhằm bảo đảm về
quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học, cao đẳng.
- Pháp luật quản l ý các trường đại học, cao đẳng phải đạt tới các mục
với mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có giáo dục đại học là một yêu cầu bức
thiết, đặc biệt trong quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ thì vai
trò của giáo dục đại học ngày càng quan trọng và có tính quyết định trong
việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ công nghiệp hóa và hiện
đại hóa đất nước. Tình hình đó đặt ra yêu cầu tăng cường quản l ý nhà nước
bằng pháp luật về giáo dục đại học. Nhà nước không can thiệp sâu vào lĩnh
vực giáo dục và hoạt động của các cơ sở đào tạo, mà vai trò quản lý nhà nước
đối với lĩnh vực này phải được tăng cường theo hướng hoàn thiện hệ thống
pháp luật, tạo hành lang pháp l ý an toàn cho các cơ quan nhà nước, các trường
đại học, cao đẳng, các tổ chức xã hội cũng như mọi công dân khi tham gia vào
các quan hệ xã hội về giáo dục đại học. Pháp luật của nhà nước không chỉ
nhằm chấn chỉnh mọi hoạt động về giáo dục đại học mà còn tôn vinh các giá
trị truyền thống, các chuẩn mực của giáo dục nói chung và giáo dục đại học
nói riêng.
- Thực tiễn giáo dục cho thấy, ở các địa phương, mô hình quản lý giáo
dục cấp huyện có ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện các chức năng chính
của ngành giáo dục. Muốn nâng cao hiệu quả quản l ý nhà nước về giáo dục
tại các địa phương không thể không quan tâm đến việc nghiên cứu một mô
hình quản lý giáo dục cấp huyện phù hợp với thực tiễn giáo dục ở nước ta.
Năm 2008, Vũ Lan Hương (Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục năm 2008)
trong nghiên cứu mô hình quản lý giáo dục cấp huyện theo hướng tăng cường
hiệu quả quản lý nhà nước cho thấy mô hình quản l ý giáo dục cấp huyện cũng
đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc tổ chức và quản ly các hoạt
động giáo dục tại địa phương. Tuy nhiên, qua khảo sát thành tố trọng tâm cua
mô hình là Phòng Giáo dục và Đào tạo. Tác giả nhận định rằng trong việc
thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý giáo dục ở địa phương còn nhiều bất
cập. Cụ thể: cơ cấu tổ chức chưa hợp l ý, nhân sự nhiều nơi không đủ để bao
quát hết các hoạt động giáo dục; năng lực đội ngũ cán bộ còn hạn chế; cơ chế
chính sách chưa phù hợp với thực tiễn nhưng chậm được sửa đổi; sự phối hợp
hoạt động của các ban ngành chưa được quy định cụ thể, rõ ràng; văn hóa tổ