ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
* TRƢƠNG CHÚC QUỲNH SỰ VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
VÀO THỰC TIỄN XÂY DỰNG
NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật
Mã số: 60.38.01 LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh
HÀ NỘI - 2010
2 LỜI CAM ĐOAN
hoàn chỉnh hơn.
Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2010
Tác giả
TRƢƠNG CHÚC QUỲNH
4
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt
MỞ ĐẦU
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
1.1. Tiểu sử bản thân và con đƣờng cách mạng
1.1.1. Giai đoạn trước năm 1911
1.1.2. Giai đoạn từ năm 1911 đến năm 1920
1.1.3. Giai đoạn từ năm 1921 đến năm 1930
1.1.4. Giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1945
1.1.5. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1969
1.2. Những nhân tố ảnh hƣởng đến sự hình thành tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh
1.2.1 Truyền thống yêu nước và tự hào dân tộc
1.2.2 Tinh hoa tư tưởng văn hóa nhân loại
1.2.3. Chủ nghĩa Mác - Lênin
1.2.4. Phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh
1.3. Những nội dung cơ bản của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
nước của dân, do dân, vì dân, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân
2.2.1.3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng bộ
máy nhà nước
2.2.1.4. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong đấu tranh
chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
2.2.1.5. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội
ngũ cán bộ công chức
6
2.2.2. Giải pháp tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây
dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong thời kỳ mới
2.2.2.1. Yêu cầu khách quan và chủ quan của việc tiếp tục
vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam
2.2.2.2. Giải pháp tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
7
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
- CNXH: Chủ nghĩa xã hội
- XHCN: Xã hội chủ nghĩa
- CCHC: Cải cách hành chính
- CBCC: Cán bộ công chức
- NNPQ: Nhà nước pháp quyền
9
nước, tắm mình sâu sắc trong hồn dân tộc, là kết tinh của truyền thống hàng
nghìn năm dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí
Minh là gạn lọc của các hạt giống trí tuệ cổ kim phương Đông, phương Tây
và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin.
Trong bối cảnh thế giới hiện nay, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
đồng thời có nghĩa nghiên cứu về thời sự. Và một trong những nội dung có
tính thời sự chính là vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Đó phải là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trước hết là
công cụ quyền lực của nhân dân lao động, phản ánh và bảo vệ lợi ích của
nhân dân; được tổ chức trên cơ sở pháp luật, hoạt động trong khuôn khổ pháp
luật và quản lý xã hội bằng pháp luật.
Ngay trong Cương lĩnh và Điều lệ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VII của Đảng (tháng 6/1991) đã nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh: ”Đảng lấy
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim
chỉ nam cho hành động” [5, tr.127]. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tiếp
tục được khẳng định với nội dung:
“Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực
nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc
thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; Hoàn thiện hệ thống pháp luật,
tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật. Xây dựng,
hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động
và quyết định của các cơ quan công quyền” [6, tr.45].
Thực hiện nội dung này, trên thực tế là tiếp tục quán triệt tư tưởng Hồ
Chí Minh về nhà nước pháp quyền trong những điều kiện và yêu cầu phát
triển mới của đất nước.
11
tài, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, Nxb
Sự thật, Hà nội; Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh, 1993;
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tiểu sử sự nghiệp, Nxb Sự thật, 1975; Trần Văn Giàu
- Trần Bạch Đằng, Vàng trong lửa, Kỷ yếu hội nghị kỷ niệm lần thứ 100 ngày
sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban KHXH Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh,
1990; Phạm Văn Đồng (1990), Hồ Chí Minh một con người; Nguyễn Mạnh
Tường (2005), Về những nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh,
Trường đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Văn Trung (1994), Một số suy nghĩ về
phương pháp luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Học viện chính trị quân sự;
Trần Thị Lụa (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội, kết hoặp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, Viện dinh
dưỡng quốc gia; Phan Hữu Dật (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh
của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc, Nxb Thanh niên; Nguyễn Minh
Thuỳ (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, Nxb Sự thật;…
Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết đăng trên các sách, báo, tạp chí, trang
tin điện tử, nhiều cuộc hội thảo khoa học về đạo đức và tư tưởng cách mạng
Hồ Chí Minh, trong đó có nội dung xây dựng nhà nước pháp quyền. Tuy
nhiên, các công trình, bài viết khoa học nói trên chưa có đề tài nào nghiên cứu
sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng nhà nước pháp
quyền Việt Nam qua những chặng đường lịch sử của đất nước, đặc biệt ý
nghĩa của sự vận dụng đó trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu tác giả mong muốn được tìm hiểu và
nghiên cứu một cách có hệ thống về nhà nước pháp quyền trong tư tưởng Hồ
Chí Minh, đồng thời nghiên cứu chuyên sâu về sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh trong thực tiễn lịch sử Việt Nam.
12
chỉ mô tả giản đơn các sự kiện, các biến cố lịch sử cụ thể, rời rạc về cuộc đời
và hoạt động cách mạng của Người mà còn nghiên cứu nguồn gốc, quá trình
hình thành và phát triển từng nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời
chỉ ra những giá trị đương thời của tư tưởng ấy.
Thời gian nghiên cứu khảo sát từ năm 1986 - 2009.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn:
Cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam, về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh, về vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách
mạng nước ta.
Phương pháp nghiên cứu là phương pháp luận của triết học Mác -
Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử) và các
phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp, so sánh, …
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn:
Đề tài nghiên cứu “Sự vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh vào thực
tiễn xây dựng nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam” là thực hiện một cách cụ
thể Nghị quyết Đại hội IX, X của Đảng về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên
truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
Đây là quá trình nghiên cứu chuyển từ lý luận về tư tưởng Hồ Chí
Minh sang vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta để hoàn thiện sự hiểu
biết, nâng cao trình độ nhận thức của quần chúng nhân dân, học sinh, sinh
viên, giúp họ dễ dàng tiếp cận với tư tưởng của Người.
Con đường xây dựng đất nước của dân tộc Việt Nam cũng như của một
số nước khác trong khu vực đang đứng trước sự thử thách của hội nhập kinh
tế, giao lưu chính trị và văn hóa, nghiên cứu này sẽ góp phần khẳng định nhân
cách, tài năng của Hồ Chí Minh, tạo niềm tin thắng lợi vào hướng đi đúng đắn
14
mà Người đã xác định cho cuộc cách mạng đấu tranh và phát triển của nhân
hình thành tư tưởng yêu nước, thương dân, tha thiết bảo vệ những giá trị tinh
thần truyền thống của dân tộc, ham muốn học hỏi những tư tưởng tiến bộ của
nhân loại.
1.1.2. Giai đoạn từ năm 1911 đến năm 1920:
Năm 1911, từ Bến Nhà Rồng, Hồ Chí Minh lấy tên Văn Ba, lên đường
sang Pháp với nghề phụ bếp trên một tàu buôn với mong muốn học hỏi những
tinh hoa và tiến bộ từ các nước phương Tây. Sau khi ở Hoa Kỳ một năm,
Người quay trở lại nước Anh làm nghề cào tuyết, đốt lò rồi phụ bếp cho
16
khách sạn. Cuối năm 1917, Người trở lại nước Pháp, sống và hoạt động ở đây
cho đến năm 1923. Ngày 19 tháng 6 năm 1919, thay mặt Hội những người An
Nam yêu nước, Hồ Chí Minh đã mang tới Hội nghị Hòa bình Vec - xây bản
Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm, trao tận tay tổng thống Pháp và
các đoàn đại biểu đến dự hội nghị. Từ đây, Hồ Chí Minh công khai nhận mình
là Nguyễn Ái Quốc và sử dụng tên này trong suốt 30 năm sau đó.
.
Năm 1920,
Hồ Chí Minh đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê - nin, từ
đó ông đi theo chủ nghĩa cộng sản. Người tham dự Đại hội lần thứ 18 của
Đảng Xã hội Pháp tại Tua với tư cách là đại biểu Đông Dương của Đảng Xã
hội Pháp, trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp
và tách khỏi đảng Xã hội.
Giai đoạn này Hồ Chí Minh đi nhiều nơi với mục tiêu tìm đường cứu
nước. Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh đã có sự chuyển biến vượt bậc về tư tưởng;
từ giác ngộ chủ nghĩa dân tộc tiến lên giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin, từ một
chiến sĩ chống thực dân phát triển thành một chiến sĩ cộng sản Việt Nam. Đây
là một bước chuyển biến cơ bản về tư tưởng cứu nước của Hồ Chí Minh:
"Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con
đường cách mạng vô sản".
Năm 1931, Hồ Chí Minh bị nhà cầm quyền Hương Cảng bắt giam với ý
định trao cho chính quyền Pháp ở Đông Dương. Hồ Chí Minh trở về Việt
Nam vào năm 1941, ở tại tỉnh Cao Bằng và mở các lớp huấn luyện cán bộ,
cho in báo, tham gia các hoạt động thường ngày. Năm 1941, Hồ Chí Minh là
chủ tọa hội nghị mở rộng lần thứ 8 của Trung ương Đảng họp ở Cao Bằng và
quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh). Cuối
năm 1944, Hồ Chí Minh tổ chức lập lực lượng vũ trang và căn cứ địa cho chặt
chẽ và hiệu quả hơn; trực tiếp ra chỉ thị thành lập một đội quân mang tính
chính thống và chính quy là đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Hồ
Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 trên
quảng trường Ba Đình tại Hà Nội, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa.
18
Giai đoạn này trên cơ sở tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam
đã hình thành về cơ bản, Hồ Chí Minh kiên trì giữ vững quan điểm cách mạng
của mình, phát triển thành chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, xác lập
tư tưởng độc lập, tự do, dẫn đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám
năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời. Đây là mốc lịch sử
không chỉ đánh dấu kỷ nguyên tự do, độc lập mà còn là bước phát triển mở
rộng tư tưởng dân quyền và nhân quyền của cách mạng tư sản thành quyền tự
do, độc lập của các dân tộc trên thế giới.
1.1.5. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1969
Năm 1945, Pháp tấn công Sài Gòn, quân dân Sài Gòn cấp tập chống cự.
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, tổng tuyển cử tự do trong cả nước được tổ chức,
bầu ra Quốc hội và Quốc hội thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt
Nam. Người trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhà nước
và chính phủ đối mặt với hàng loạt khó khăn cả về đối nội và đối ngoại. Về
đối ngoại, Việt Nam chưa được bất cứ quốc qia nào công nhận, không phải
thành viên Liên hiệp quốc, cũng như không nhận được sự ủng hộ nào về vật
và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nhằm một mục tiêu chung trước
mắt là giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
- Tư tưởng chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào
sức mình là chính.
- Xây dựng quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân,
do dân, vì dân.
- Xây dựng Đảng Cộng sản với tư cách là một Đảng cầm quyền v.v
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh trải qua hơn nửa thế kỷ hình thành và
phát triển, là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới,
“là ngọn cờ thắng lợi của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập,
tự do, vì giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội” [7, tr.5].
20
1.2. Những nhân tố ảnh hƣởng đến sự hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
1.2.1 Truyền thống yêu nước và tự hào dân tộc
Nước Việt Nam với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã
hình thành nên các giá trị truyền thống dân tộc phong phú, vững bền.
Ý thức chủ quyền quốc gia dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, yêu nước,
kiên cường, bất khuất đã tạo thành động lực mạnh mẽ của đất nước. Đó là
tinh thần tương thân, tương ái, nhân nghĩa, cố kết cộng đồng dân tộc; thủy
chung, khoan dung, độ lượng; là thông minh, sáng tạo, quý trọng hiền tài, tiếp
thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm phong phú văn hóa dân tộc Trong
nguồn giá trị tinh thần truyền thống đó, chủ nghĩa yêu nước là cốt lõi, là dòng
chảy chính của tư tưởng văn hóa truyền thống Việt Nam, xuyên suốt trường
kỳ lịch sử, là động lực mạnh mẽ cho sự trường tồn và phát triển của dân tộc.
Sức mạnh truyền thống tư tưởng và văn hóa của dân tộc đã thúc giục
Hồ Chí Minh ra đi tìm tòi, học hỏi, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để
làm giàu cho tư tưởng cách mạng và văn hóa của Người.
1.2.2 Tinh hoa tư tưởng văn hóa nhân loại
Tiếp thu tư tưởng văn hóa phương Đông và phương Tây, Hồ Chí Minh
con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa cộng sản" [9, tr.128]. Như vậy có thể nói chủ nghĩa Mác- Lênin là
nguồn gốc lý luận trực tiếp, quyết định bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đối với chủ nghĩa Mác- Lênin, Hồ Chí Minh đã nắm vững cái cốt lõi,
linh hồn sống của nó, là phương pháp biện chứng duy vật; học tập lập trường,
quan điểm, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác- Lênin để giải quyết
các vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam.
Các tác phẩm, bài viết của Hồ Chí Minh phản ánh bản chất cách mạng tư
tưởng của Người theo thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin.
22
1.2.4. Phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh với một hệ tư tưởng phong phú đã chịu sự tác động sâu
sắc của thực tiễn dân tộc và thời đại mà Người đã sống và hoạt động.
Quá trình hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh ở trong nước và khi
còn bôn ba khắp thế giới để học tập, nghiên cứu và hoạt động đã làm cho
Người có một hiểu biết sâu sắc về dân tộc và thời đại, nhất là thực tiễn
phương Đông để xem xét, đánh giá và bổ sung cơ sở triết lý phương Đông
cho học thuyết Mác - Lênin. Từ hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đã khám
phá quy luật vận động xã hội, đời sống văn hóa và cuộc đấu tranh của các dân
tộc trong hoàn cảnh cụ thể của các quốc gia và thời đại mới để khái quát
thành lý luận, đem lý luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn, qua kiểm nghiệm của
thực tiễn để hoàn thiện, làm cho lý luận có giá trị khách quan, tính cách mạng
và khoa học. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm hoạt động tinh thần của cá
nhân, do Người sáng tạo trên cơ sở những nhân tố khách quan. Do đó, tư
tưởng Hồ Chí Minh phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố nhân cách, phẩm chất và
năng lực tư duy của chính Người sáng tạo ra nó.
Không chỉ ở nước ta mà có nhiều chính khách, nhiều nhà hoạt động văn
hóa - xã hội ở nước ngoài đã nêu nhiều ý kiến sâu sắc về nhân cách, phẩm
chất, về tài năng trí tuệ của Hồ Chí Minh. Ngay từ năm 1923, lúc Hồ Chí
Chí Minh đã có sự gắn bó thống nhất giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và
quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Năm 1930, trong Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng, Người xác định phương hướng chiến lược của
cách mạng Việt Nam là: làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách
mạng để đi tới xã hội cộng sản.
Tư tưởng Hồ Chí Minh vừa phản ánh quy luật khách quan của sự
nghiệp giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản, vừa phản ánh mối
quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng
giai cấp và giải phóng con người. Hồ Chí Minh đã nói: "Yêu Tổ quốc, yêu
24
nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã
hội thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu
mạnh thêm" [11, tr.173]. Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu và
của các nhà cách mạng có xu hướng tư sản đương thời, Người đã đến với học
thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, lựa chọn con đường cách mạng
vô sản và quyết tâm đưa dân tộc Việt Nam đi theo con đường đó.
Con đường cách mạng vô sản, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, bao
hàm những nội dung: Tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc và dần dần
từng bước "đi tới xã hội cộng sản"; Lực lượng lãnh đạo cách mạng là giai cấp
công nhân mà đội tiền phong của nó là Đảng Cộng sản; Lực lượng cách mạng
là khối đoàn kết toàn dân, nòng cốt là liên minh giữa giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và lao động trí óc; Sự nghiệp cách mạng của Việt Nam là
một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, cho nên phải đoàn kết quốc
tế.
1.3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Hồ Chí Minh tiếp thu những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác -
Lênin về chủ nghĩa xã hội, đã vận dụng và phát triển một cách sáng tạo, đưa
ra nhiều kiến giải mới nhằm bổ sung vào lý luận Mác - Lênin, phù hợp với
truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt
Nam, trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin coi cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng và có sự tổng kết những kinh nghiệm thành công và
thất bại của các phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện đại đoàn kết dân tộc phải có
các nội dung: Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, bảo đảm thành công
của cách mạng; Đại đoàn kết toàn dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của
cách mạng; Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân; Đại đoàn kết dân