Tổ chức và hoạt động của thanh tra lao động, thương binh và xã hội thực trạng và giải pháp - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HỒNG DIỆP

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA
LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2009

Ch-ơng 1: khái quát chung về thanh tra và thanh tra lao
động, th-ơng binh và xã hội
6
1.1.
Quan niệm chung về thanh tra
6
1.1.1
Khái niệm thanh tra
6
1.1.2
Thanh tra hành chính
10
1.1.3
Thanh tra chuyên ngành
11
1.1.4
Thanh tra - ph-ơng thức đảm bảo pháp chế và kỷ luật, kỷ c-ơng trong hoạt động
quản lý nhà n-ớc
13
1.1.5
Thanh tra là một nội dung, một chức năng thiết yếu của quản lý nhà n-ớc
14
1.1.6
Phân biệt thanh tra với các ph-ơng thức kiểm soát khác
16
1.6.1.1.
Phân biệt thanh tra với kiểm tra
16
1.6.1.2.
Phân biệt thanh tra với giám sát

Hoạt động của Thanh tra lao động, th-ơng binh và xã hội
23
1.2.6.1.
Hoạt động của thanh tra hành chính
23
1.2.6.2.
Hoạt động thanh tra chuyên ngành
24
1.2.6.3.
Hình thức thanh tra
25
1.2.6.4.
Ph-ơng thức hoạt động thanh tra
26
1.2.7.
Nhận xét chung về mô hình tổ chức, hoạt động của Thanh tra lao động, th-ơng
binh và xã hội
26
1.3.
Tham khảo mô hình tổ chức và hoạt động của thanh tra lao động một số quốc
gia điển hình trên thế giới
27
1.3.1.
Mô hình Thanh tra lao động ở áo
27
1.3.2.
Mô hình Thanh tra lao động ở Pháp
28
1.3.3.
Mô hình Thanh tra lao động Liên bang Nga

42
2.2.1.1.
Tham m-u Thủ tr-ởng đề ra chủ tr-ơng, chính sách, nhiệm vụ kế hoạch, công
tác phòng, chống tham nhũng
42
2.2.1.2.
Kết quả hoạt động tiếp công dân, xử lý th- đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo
42
2.2.2.
Kết quả hoạt động thanh tra hành chính
43
2.2.3.
Kết quả hoạt động thanh tra chuyên ngành
44
2.2.3.1.
Kết quả hoạt động thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động
44
2.2.3.2.
Kết quả công tác thanh tra việc thực hiện chính sách -u đãi Ng-ời có công với
cách mạng và các chính sách xã hội khác
47
2.2.4.
Quan hệ phối hợp với các cơ quan nhà n-ớc khác trong lĩnh vực phòng ngừa,
đấu tranh chống vi phạm pháp luật phát sinh trong hoạt động quản lý nhà n-ớc
50
2.3.
Những tồn tại, hạn chế trong tổ chức và hoạt động của Thanh tra lao động,
th-ơng binh và xã hội
51
2.3.1.

Ch-ơng 3: PhƯƠng h-ớng và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt
động của thanh tra lao động, th-ơng binh và xã hội
64
3.1.
Đổi mới tổ chức và hoạt động của thanh tra lao động th-ơng binh và xã hội là
yêu cầu khách quan
64
3.1.1.
Bảo đảm thực hiện quyền, lợi ích của những đối t-ợng quản lý và h-ởng chính
sách thuộc lĩnh vực lao động - th-ơng binh và xã hội
64
3.1.2.
Bảo đảm nguyên tắc pháp chế, kỷ luật, kỷ c-ơng trong hoạt động của ngành Lao
động - Th-ơng binh và Xã hội
65
3.1.3.
Khắc phục sự phức tạp và những tồn tại, thiếu sót của hoạt động lao động -
th-ơng binh và xã hội
67
3.1.4.
Phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính
69
3.2.
Ph-ơng h-ớng đổi mới tổ chức và hoạt động của Thanh tra lao động - th-ơng
binh và xã hội
70
3.2.1.
Quán triệt sâu sắc các chỉ đạo của Đảng và Nhà n-ớc về chính sách, định h-ớng
đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra và công tác thanh tra nói chung
70

3.3.3.
Nâng cao hiệu quả thanh tra
86
3.3.4.
Nâng cao năng lực Thanh tra lao động - th-ơng binh và xã hội
87
3.3.4.1.
Tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi d-ỡng đội ngũ thanh tra viên ngành lao động -
th-ơng binh và xã hội có năng lực chuyên môn, tuân thủ pháp luật, đạo đức công vụ
87
3.3.4.2.
Thực hiện các chế độ đãi ngộ hợp lý đối với đội ngũ thanh tra viên
89
3.3.5.
Tăng c-ờng mối quan hệ phối hợp với các cơ quan, tổ chức khác trong hoạt động giám
sát, kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động của ngành Lao động - Th-ơng binh và Xã hội

3.3.5.1.
Phối hợp chặt chẽ với tổ chức Công đoàn, Phòng Th-ơng mại Công nghiệp Việt
Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam trong việc thực hiện pháp luật lao động
90
3.3.5.2.
Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị khác trong việc thanh tra các chính
sách xã hội
92
3.3.6.
Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân trong hoạt động Thanh tra lao
động, th-ơng binh và xã hội
93


chính phủ quản lý nhà nƣớc về lao động và các vấn đề xã hội. Thanh tra Bộ
Lao động - Thƣơng binh và Xã hội là cơ quan của Bộ Lao động - Thƣơng
binh và Xã hội, có chức năng tham mƣu và giúp Bộ trƣởng thanh tra phát
hiện, xử lý những vi phạm pháp luật phát sinh trong lĩnh vực lao động và giải
quyết các vấn đề xã hội.
Trải qua hơn 60 năm xây dựng và trƣởng thành, Thanh tra lao động,
thƣơng binh và xã hội đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của
ngành Lao động - Thƣơng binh và Xã hội và sự lớn mạnh không ngừng của
hệ thống thanh tra nhà nƣớc. Mỗi năm, thanh tra ngành đã thực hiện nhiều 2
cuộc thanh tra ở tất cả các lĩnh vực quản lý, đặc biệt là lĩnh vực lao động, thực
hiện chính sách đối với ngƣời có công với cách mạng, chính sách bảo hiểm xã
hội. Qua các cuộc thanh tra đã phát hiện, ngăn chặn, xử lý, kiến nghị xử lý
nhiều vi phạm, thu hồi cho ngân sách nhà nƣớc hàng tỷ đồng chi sai đối tƣ-
ợng, chi không đúng mục đích… có nhiều kiến nghị đối với cơ quan quản lý
nhà nƣớc để sửa đổi, bổ sung chính sách cho phù hợp.
Tuy nhiên, trƣớc sự đòi hỏi ngày càng cao của nhu cầu quản lý nhà
nƣớc và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, đặc biệt trƣớc đòi
hỏi của cơ chế thị trƣờng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập
kinh tế quốc tế, Thanh tra lao động, thƣơng binh và xã hội còn nhiều hạn chế
về tổ chức, hoạt động, số lƣợng, chất lƣợng, nguồn nhân lực, chế độ, chính
sách nhìn chung chƣa đáp ứng đƣợc so với yêu cầu. Nhiều hiện tƣợng tiêu
cực đã và đang xảy ra trong quá trình thực hiện các chính sách của Nhà nƣớc
nhƣ tình trạng vi phạm pháp luật lao động; lập hồ sơ giả về đối tƣợng ngƣời
có công để hƣởng các chế độ ƣu đãi của Nhà nƣớc; lừa đảo trong xuất khẩu
lao động; sử dụng chƣa đúng mục đích nguồn kinh phí từ các chƣơng trình
viện trợ nhân đạo để giải quyết các vấn đề xã hội chƣa đƣợc kịp thời phát
hiện, chấn chỉnh, xử lý.

cả về cơ sở pháp lý và tổ chức thực hiện nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động
của Thanh tra ngành Lao động - Thƣơng binh và Xã hội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Làm rõ khái niệm, đặc điểm về thanh tra, tổ chức thanh tra và tổ chức,
hoạt động của Thanh tra lao động, thƣơng binh và xã hội; đồng thời nêu lên
thực trạng tổ chức và hoạt động của Thanh tra lao động, thƣơng binh và xã
hội có tham khảo mô hình tổ chức của bộ, ngành khác trong nƣớc và một số
nƣớc trên thế giới, trên cơ sở đó, nêu ra mô hình tổ chức và hoạt động mới và
các điều kiện, giải pháp để thực hiện mô hình đó nhằm mục đích cuối cùng là
đổi mới, nâng cao hiệu lực và hiệu quả của quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực
lao động, thƣơng binh và xã hội. 4
* Nhiệm vụ
Để đạt đƣợc mục đích trên, tác giả luận văn đặt ra và giải quyết các
nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn về khái niệm thanh tra và
thanh tra chuyên ngành; tổ chức, hoạt động của Thanh tra lao động, thƣơng
binh và xã hội, phân tích một số mô hình thanh tra của các nƣớc trên thế giới,
đặc biệt là mô hình tổ chức thanh tra lao động.
- Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của Thanh tra lao động,
thƣơng binh và xã hội kể từ khi có Luật Thanh tra năm 2004.
- Nêu phƣơng hƣớng và đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm đổi mới tổ
chức và hoạt động của Thanh tra lao động, thƣơng binh và xã hội.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Gồm những vấn đề sau:
- Khái niệm cơ bản về thanh tra, kiểm tra nói chung và thực trạng tổ

văn
Kết quả nghiên cứu và những đề xuất đƣợc nêu trong luận văn có ý
nghĩa cả về lý luận và thực tiễn trong việc đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp
đổi mới tổ chức và hoạt động của Thanh tra lao động, thƣơng binh và xã hội,
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác thanh tra lao động, thƣơng binh xã hội
trong tình hình mới.
Thông qua nghiên cứu đề tài này, tác giả luận văn đề xuất một số ý
tƣởng về tổ chức và hoạt động của Thanh tra lao động, thƣơng binh và xã hội,
có vận dụng mô hình tổ chức thanh tra của một số bộ, ngành khác trong hệ
thống thanh tra của nhà nƣớc và một số nƣớc trên thế giới nhằm mục đích
cuối cùng là nâng cao hiệu lực và hiệu quả công tác thanh tra lao động,
thƣơng binh và xã hội nơi tác giả luận văn đang công tác. 6
Luận văn có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho tất cả các
cán bộ, công chức trong ngành Lao động - Thƣơng binh và Xã hội hoặc bất
kỳ ai quan tâm đến công tác thanh tra.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Khái quát chung về thanh tra và Thanh tra lao động, thƣơng
binh và xã hội
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Thanh tra lao động,
thƣơng binh và xã hội
Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động
của Thanh tra lao động, thƣơng binh và xã hội. 7

tra, giám sát của các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức xã hội, của công dân đối với
hoạt động hành chính nhà nƣớc (chức năng giám sát của Quốc hội và các cơ
quan dân cử, giám sát của nhân dân, chức năng kiểm sát của Viện Kiểm sát
các cấp, chức năng kiểm tra của Đảng và các tổ chức chính trị, xã hội).
Ngoài ra, tên gọi thanh tra còn đƣợc dùng để chỉ một số tổ chức khác
không hoàn toàn đúng tính chất và nhiệm vụ của nó nhƣ thanh tra nhân dân,
thanh tra thủ trƣởng.
Về mặt lý luận cũng nhƣ thực tiễn, khái niệm thanh tra đƣợc xét đến
trên nhiều khía cạnh khác nhau:
Một là, thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phƣơng,
cơ quan, xí nghiệp. Thanh tra đƣợc hiểu là công việc của con ngƣời: Ngƣời
làm nhiệm vụ thanh tra [50].
Hai là, thanh tra là phạm trù dùng chỉ hoạt động của các tổ chức thuộc
Tổng thanh tra Nhà nƣớc và Thanh tra Nhà nƣớc chuyên ngành (thanh tra bộ,
thanh tra sở) [27].

Ba là, thanh tra là một trong các hình thức cụ thể của kiểm tra nhằm
bảo đảm pháp chế và kỷ luật nhà nƣớc [42].
Theo quy định của Luật Thanh tra năm 2004 thì: "Thanh tra Nhà nƣớc
là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nƣớc đối với việc
thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu
sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục đƣợc pháp luật quy định" [14].
Từ các quan niệm trên cho thấy thanh tra có các đặc điểm nhƣ sau:
Thứ nhất, Thanh tra là hoạt động của chủ thể quản lý mang quyền lực
Nhà nƣớc tác động đến các đối tƣợng trong mối liên hệ phụ thuộc, quan hệ
phục tùng chấp hành điều hành.
Thứ hai, Thanh tra là một khâu của hoạt động quản lý, đồng thời lại
là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nƣớc. Hoạt động thanh tra
10
Hai là, hoạt động thanh tra hƣớng vào việc kiểm soát hoạt động của
các cơ quan nhà nƣớc, công chức nhà nƣớc, bảo đảm cho nó thực hiện chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo đúng quy định của pháp luật. Chính
vì vậy, cơ quan thanh tra đƣợc tổ chức tƣơng đối độc lập với các cơ quan
quản lý nhà nƣớc, phụ thuộc và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ trƣởng cơ
quan hành chính nhà nƣớc cùng cấp và sự hƣớng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ
của cơ quan thanh tra cấp trên để đảm bảo có thể hoạt động một cách khách
quan, có một cái nhìn "từ bên ngoài". Nội dung chủ yếu của hoạt động thanh
tra là xem xét trách nhiệm quản lý của các cơ quan nhà nƣớc (các cơ quan,
ban, ngành, địa phƣơng) trong việc thực hiện chức trách, công vụ của cán bộ,
công chức nhà nƣớc, phát hiện và xử lý những vi phạm về nghĩa vụ hành
chính, điều chỉnh kịp thời những bất hợp lý trong quá trình điều hành và quản
lý của bộ máy nhà nƣớc. Khi tiến hành hoạt động thanh tra thì những hành vi
vi phạm thƣờng đƣợc xử lý bằng các biện pháp kỷ luật hành chính (khiển
trách, cảnh cáo, hạ bậc lƣơng, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc ) (xem sơ
đồ về hai hướng hoạt động chính của thanh tra Việt Nam ở phụ lục 1).
Căn cứ vào hai hƣớng hoạt động này, ngƣời ta phân loại thanh tra
thành hai loại đó là thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.
1.1.2. Thanh tra hành chính
Là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nƣớc theo cấp hành
chính đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ
chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp [14].
Thanh tra hành chính là loại hình thanh tra hƣớng vào các chủ thể quản
lý nhà nƣớc (là các cơ quan nhà nƣớc và công chức nhà nƣớc). Chức năng của
loại hình thanh tra này là xem xét việc chấp hành pháp luật của các cơ quan
quản lý nhà nƣớc và công chức nhà nƣớc. Tiêu biểu cho loại hình này là cơ
quan Tổng Thanh tra Hành chính của Pháp, Bộ Giám sát Hành chính Ai Cập,
Bộ Giám sát Hành chính Trung Quốc, Ban Thanh tra và Kiểm toán Hàn Quốc…

12
chức năng thanh tra (chẳng hạn, Cục Môi trƣờng Thụy Điển có 80% công
việc là thanh tra).
Về chức năng, nhiệm vụ của thanh tra chuyên ngành còn có nhiều ý
kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, thanh tra luôn luôn gắn liền với thủ
trƣởng cơ quan quản lý nhà nƣớc. Ở đâu có cơ quan quản lý nhà nƣớc ở đó có
cơ quan thanh tra. Nhiệm vụ của cơ quan thanh tra là giúp thủ trƣởng cơ quan
quản lý nhà nƣớc kiểm tra, thanh tra các đơn vị, cá nhân thuộc thẩm quyền
quản lý trực tiếp của mình để xem xét, đánh giá các đơn vị, cá nhân thực hiện
chức năng, nhiệm vụ nhƣ thế nào. Với chức năng này, thì chỉ có hoạt động
thanh tra hành chính, còn việc kiểm tra việc thực hiện pháp luật đã có các cơ
quan chức năng khác.
Ý kiến khác cho rằng: thanh tra đƣợc tổ chức ở các cơ quan quản lý
nhà nƣớc chuyên ngành nhƣ Bộ ở Trung ƣơng và Sở ở các địa phƣơng nhằm
mục đích giúp cho Thủ trƣởng các cơ quan đó kiểm tra, giám sát việc thực
hiện các quy tắc, quy phạm kỹ thuật của ngành hoặc các chính sách, pháp luật
thuộc phạm vi quản lý nhà nƣớc của ngành đó. Chính vì vậy, cơ quan thanh
tra chuyên ngành có chức năng thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy tắc,
quy phạm và những quy tắc quản lý của ngành. Qua thanh tra, kiểm tra có
những kiến nghị đối với thủ trƣởng cơ quan mình về sửa đổi, bổ sung các quy
định đƣợc ban hành cho phù hợp với thực tế và đồng thời áp dụng các hình
thức xử phạt hành chính đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định
của ngành.
Thanh tra chuyên ngành trở thành cần thiết trong hoạt động quản lý là vì:
Thứ nhất, những kế hoạch, chính sách, pháp luật dù có đúng đắn và
phù hợp với thực tiễn đến mấy cũng không thể đƣợc thực hiện một cách nghiêm
chỉnh nếu không có thanh tra, kiểm tra của Bộ, ngành chức năng; các nhà
quản lý và các đối tƣợng thừa hành đều có thể mắc sai lầm, chƣa tính đến tình

1.1.4. Thanh tra - phƣơng thức đảm bảo pháp chế và kỷ luật, kỷ
cƣơng trong hoạt động quản lý nhà nƣớc 14
- Trƣớc hết, thanh tra có đối tƣợng là các cơ quan nhà nƣớc, cán bộ,
công chức trong các cơ quan nhà nƣớc. Do vậy, chức năng nhiệm vụ của các
cơ quan thanh tra là thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật,
nhiệm vụ, kế hoạch nhà nƣớc của các cơ quan nhà nƣớc, cán bộ, công chức nhà
nƣớc từ Trung ƣơng đến địa phƣơng. Qua thanh tra phát hiện, ngăn ngừa các
hiện tƣợng tham ô, lãng phí, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch vi phạm quy
định pháp luật liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà nhà nƣớc
trao quyền. Ngoài ra, qua thanh tra sẽ phát hiện những sai sót, khiếm khuyết
trong chỉ đạo, điều hành của Nhà nƣớc, từ đó kiến nghị các biện pháp khắc phục,
sửa chữa hoặc các phƣơng pháp quản lý nhà nƣớc thích hợp, xử lý các cá
nhân, cơ quan vi phạm bằng các hình thức kỷ luật của nhà nƣớc. Chính vì vậy
thanh tra là phƣơng thức đảm bảo kỷ luật, kỷ cƣơng trong hoạt động quản lý
nhà nƣớc.
- Thanh tra còn có đối tƣợng thanh tra là cá nhân, tổ chức chịu sự điều
chỉnh của pháp luật. Ở vai trò này, thanh tra có nhiệm vụ kiểm tra, xem xét
việc chấp hành các chính sách, pháp luật của cá nhân, tổ chức từ đó một mặt
kiến nghị sửa đổi bổ sung chính sách, pháp luật cho phù hợp, một mặt xử phạt
các hành vi vi phạm chính sách, pháp luật đó. Tác dụng của thanh tra là đảm
bảo cho mọi cá nhân, tổ chức đều tuân thủ pháp luật và pháp luật phải phù
hợp với cuộc sống.
Những sai sót, bất hợp lý của những kế hoạch, chính sách, pháp luật
và biện pháp quản lý đang thực hiện đƣợc thanh tra phát hiện sẽ giúp cho các
chủ thể quản lý xem xét lại, tìm ra biện pháp, cơ chế, chính sách quản lý cho
phù hợp. Nhƣ vậy, thanh tra, kiểm tra giúp cho hoạt động quản lý luôn luôn
đƣợc đổi mới, làm cho chất lƣợng hoạt động quản lý đƣợc nâng lên.

rõ mục đích của thanh tra là theo dõi, xem xét, việc nào làm chƣa đúng giúp
họ làm cho đúng, đó mới là bản chất của công tác thanh tra.
Các nghị quyết của Đại hội Đảng đều khẳng định vai trò quan trọng
của công tác thanh tra trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc. Chỉ thị
số 38/CT ngày 20/2/1984 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng nhấn mạnh: "Tổ 16
chc Thanh tra l cụng c c lc ca ng v chớnh quyn trong vic kim
tra s chp hnh ng li, chớnh sỏch ca ng, phỏp lut, k hoch ca Nh
nc". Trong cỏc Ngh quyt Hi ngh Trung ng 8 (khúa VII), Trung ng 3
v Trung ng 7 (khúa VIII), Vn kin i hi ng VIII, IX, X u khng
nh: Thanh tra l mt ni dung quan trng ca qun lý nhm thit lp k
cng xó hi, tng cng hiu qu qun lý nh nc.
Nh vy, t lý lun ca ch ngha Mỏc - Lờnin n quan im ca
Ch tch H Chớ Minh, ca ng v Nh nc u khng nh v trớ, vai trũ
quan trng ca cụng tỏc thanh tra trong hot ng qun lý nh nc.
Cú th khỏi quỏt chu trỡnh qun lý nh nc theo s i õy:
S 1.1. Chu trỡnh qun lý nh nc

Chu trỡnh qun lý nh nc gm ba khõu c bn: ban hnh chớnh sỏch,
phỏp lut, t chc thc hin chớnh sỏch, phỏp lut ó ban hnh v thanh tra, kim
tra vic thc hin chớnh sỏch phỏp lut sa i, b sung chớnh sỏch phỏp lut
cho phự hp vi thc t hoc ban hnh chớnh sỏch, phỏp lut mi. õy l mt
chu trỡnh khộp kớn, bt k õu cú qun lý nh nc thỡ ú phi cú thanh tra,
kim tra. Trong phm vi chc nng ca mỡnh, cỏc c quan qun lý nh nc cú
Tổ chứC
thựC hiệN
pháp luậT


thanh tra, kiểm tra để nhằm phát huy nhân tố tích cực, nêu gƣơng những điển
hình tốt, đồng thời thông qua thanh tra, kiểm tra để phòng ngừa, hạn chế và xử lý
vi phạm từ đó góp phần thúc đẩy và hoàn thành nhiệm vụ trong hoạt động quản
lý. Thanh tra, kiểm tra nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cƣờng pháp chế,
bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Thứ hai, Thanh tra, kiểm tra giống nhau ở phƣơng pháp và tôn chỉ
hoạt động. Hoạt động thanh tra, kiểm tra phải dựa trên những công cụ, căn cứ
mà pháp luật cho phép. Qua thanh tra, kiểm tra phải xác định đƣợc sự thật
khách quan, phải có kết luận chính xác dựa trên những sự thật khách quan đó.
Thứ ba, thanh tra, kiểm tra giống nhau ở phƣơng thức tiến hành. Cả
thanh tra và kiểm tra đều có thể tiến hành theo hai phƣơng thức là đột xuất
hoặc theo kế hoạch đã đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt. 18
Những điểm khác nhau (xem bảng so sánh bên dƣới)
Bảng 1.1. So sánh những điểm khác nhau giữa thanh tra và kiểm tra
Tiêu chí
Thanh tra
Kiểm tra
Nội dung
Đa dạng, phức tạp
Thƣờng đơn giản
Chủ thể
cơ quan hành chính nhà nƣớc
(mang tính quyền lực công)
Đa dạng: Cơ quan nhà nƣớc, tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị
xã hội, …
Tính chất

kiểm tra theo vụ việc. Hoạt động giám sát của Tòa án nhân dân các cấp đối
với hoạt động quản lý nhà nƣớc đƣợc thực hiện thông qua hoạt động xét xử
các vụ án hình sự, kinh tế, dân sự, lao động, hành chính… 19
Kết quả hoạt động giám sát của Tòa án qua hoạt động xét xử là kiểm
tra tính hợp pháp của hoạt động quản lý và hành vi của ngƣời có chức vụ. Tòa
Hành chính đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 1996 là một hình thức kiểm tra,
giám sát mới đối với hoạt động hành chính ở Việt Nam Các tổ chức chính
trị-xã hội là một bộ phận hợp thành của hệ thống chính trị. Hoạt động giám
sát của xã hội và công dân là một trong các biện pháp bảo đảm tính đúng đắn
của quản lý nhà nƣớc. Các tổ chức xã hội và công dân thực hiện giám sát
thông qua các hoạt động xây dựng pháp luật, tham gia góp ý, kiến nghị về các
hoạt động của nhà nƣớc, thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo…
Nhƣ vậy giám sát đƣợc quan niệm là việc theo dõi, kiểm tra xem xét
của chủ thể bên ngoài hệ thống đối với hệ thống. Giữa các cơ quan, cá nhân
thực hiện quyền giám sát và chịu sự giám sát thƣờng không có mối liên hệ
trực tiếp.
1.1.6.3. Về kiểm soát
Quản lý nhà nƣớc diễn ra trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế - xã
hội. Đó là hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đƣợc nhà nƣớc trao
quyền. Tất cả các hoạt động đó Nhà nƣớc cần phải kiểm tra xem xét, điều
chỉnh. Nhà nƣớc cần phải có cơ chế, tổ chức kiểm tra, xem xét tạo nên một hệ
thống tiếp nhận xử lý thông tin hoàn chỉnh phù hợp tính chất của chế độ chính
trị. Kiểm soát là cơ chế tổ chức, kiểm tra xem xét nhằm phát hiện, ngăn chặn
sai phạm, việc làm trái với qui định đã ban hành (ví dụ kiểm soát văn bản).
Kiểm soát là hoạt động xem xét của ngƣời có thẩm quyền về các việc làm trên
cơ sở đối chiếu với các quy định đã có để đi đến điều chỉnh các việc làm.
Kiểm soát hoạt động quản lý nhà nƣớc đƣợc đặt ra nhằm bảo đảm tính đúng

Thanh tra lao động, thƣơng binh và xã hội là một cơ quan trong hệ thống tổ
chức của ngành lao động, thƣơng binh và xã hội, một bộ phận của tổ chức
thanh tra nhà nƣớc.
1.2.1.2. Cơ sở thực tiễn 21
Thanh tra lao động, thƣơng binh và xã hội đã đƣợc thành lập và hoạt
động từ ngày 23/11/1945 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 64-SL
thành lập Ban Thanh tra đặc biệt và Tòa án đặc biệt, Bộ Lao động đã có bộ
phận đảm nhiệm công tác thanh tra, kiểm tra việc thi hành các luật lệ lao
động. Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, Thanh tra lao động, thƣơng binh và xã
hội đã có sự tách, nhập theo sự biến động về tổ chức của Bộ Lao động, Bộ
Thƣơng binh và Xã hội. Đến nay, Thanh tra lao động, thƣơng binh và xã hội
đƣợc tổ chức từ Trung ƣơng đến địa phƣơng. Ở Trung ƣơng có Thanh tra Bộ,
Thanh tra Tổng cục Dạy nghề, ở 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng có
Thanh tra Sở thực hiện công tác thanh tra hành chính và thanh tra chuyên
ngành trong phạm vi quản lý nhà nƣớc của Giám đốc Sở Lao động - Thƣơng
binh và Xã hội. Ngoài việc thành lập và hoạt động theo Luật Thanh tra, Nghị
định số 31, Nghị định số 186, Thanh tra lao động, thƣơng binh và xã hội trên
thực tế còn đƣợc tổ chức và hoạt động theo quyết định của Bộ trƣởng Bộ Lao
động - Thƣơng binh và Xã hội về thanh tra viên phụ trách vùng và sử dụng
phiếu tự kiểm tra thực hiện pháp luật lao động. Kết quả trong hai năm 2006,
2007 và thí điểm năm 2005, bằng việc áp dụng phƣơng thức thanh tra viên
phụ trách vùng và sử dụng phiếu tự kiểm tra tại doanh nghiệp cho thấy hiệu
quả công tác thanh tra nâng cao rõ rệt và số lƣợng doanh nghiệp đƣợc kiểm
soát hoạt động tuân thủ pháp luật lao động tăng lên gấp nhiều lần.
1.2.2. Vị trí, chức năng của Thanh tra lao động, thƣơng binh và xã hội
Thanh tra lao động, thƣơng binh và xã hội là tổ chức thanh tra thuộc
ngành lao động, thƣơng binh và xã hội; ở Trung ƣơng có Thanh tra Bộ Lao

Tổng cục Dạy nghề.
Theo quy định tại Nghị định số 31/NĐ-CP ngày 29/3/2006 của Chính
phủ về tổ chức và hoạt động của Thanh tra lao động, thƣơng binh và xã hội,
có thể tóm tắt các nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản của Thanh tra lao động,
thƣơng binh và xã hội nhƣ sau: Thanh tra việc thực hiện chính sách pháp luật
về lao động, ngƣời có công và xã hội của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trên 23
phạm vi cả nƣớc; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động theo quy định của
pháp luật; thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ
quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của Bộ trƣởng Bộ Lao động -
Thƣơng binh và Xã hội; Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động,
ngƣời có công và xã hội; Kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền đình chỉ hành
vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân; kiến nghị hủy bỏ quyết
định trái pháp luật về lao động, ngƣời có công và xã hội khi có đủ căn cứ cho
rằng hành vi hoặc quyết định đó gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nƣớc, quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân; Thực hiện hiện nhiệm vụ phòng ngừa và đấu
tranh chống tham nhũng thuộc lĩnh vực lao động, ngƣời có công và xã hội.
1.2.5. Tổ chức của Thanh tra lao động, thƣơng binh và xã hội
Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội có Thanh tra bộ và Thanh tra
Tổng cục Dạy nghề.
Thanh tra bộ chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ trƣởng Bộ Lao
động - Thƣơng binh và Xã hội, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hƣớng dẫn về công
tác, tổ chức và nghiệp vụ thanh tra của Thanh tra Chính phủ theo qui định của
pháp luật;
Thanh tra Tổng cục Dạy nghề chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của
Tổng cục trƣởng Tổng cục Dạy nghề, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hƣớng dẫn
về công tác, tổ chức, nghiệp vụ thanh tra hành chính và thanh tra chuyên
ngành của Thanh tra bộ;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status