1
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan tôi đã độc lập nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
dưới sự hướng dẫn nhiệt tình, tận tâm của giáo viên hướng dẫn. Những tài
liệu tôi sử dụng đều được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo. Nếu vi
phạm tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Ngƣời cam đoan
Trƣơng Vĩnh Xuân
2
1.1. S cn thit hon thin chớnh quyn a phng trc yờu cu
xõy dng nh nc phỏp quyn Vit nam
13
1.1.1 Chớnh quyn a phng
13
1.1.2 Xõy dng chớnh quyn a phng phc v nhõn dõn
16
1.1.2.1 c lp, t qun, v t chu trỏch nhim (c phõn cp).
16
1.1.2.2 Phỏt huy dõn ch
20
1.1.2.3 Bo v quyn v li ớch ca nhõn dõn
23
1.1.3 Hon thin chớnh quyn a phng l bc tip ni trong xõy
dng nh nc phỏp quyn
25
1.2. Nhng yờu cu cp thit t ra i vi t chc v hot ng ca
UBND tnh trong Nh nc phỏp quyn Vit Nam
27
1.2.1 y ban nhõn dõn tnh mt thit ch quyn lc nh nc a
phng
27
1.2.2 T chc v hot ng ca y ban nhõn dõn tnh theo phỏp lut
hin hnh
30
1.2.2.1 Nhn thc v y ban nhõn dõn, y ban nhân dân tỉnh
30
1.2.2.2 Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân tỉnh theo pháp luật
hiện hành
31
nhân dân tỉnh đối với việc xây dựng, trình và thực thi kế hoạch, chính sách
ở địa phương
48
1.2.3.2.2 Đề cao vai trò trách nhiệm cá nhân Chủ tịch ủy ban
nhân dân tỉnh trong hoạt động của ủy ban nhân dân tỉnh
50
1.2.3.2.3 Hoạt động của Ủy ban nh©n d©n tØnh ®i ®«i víi c¬ chÕ
thÞ tr-êng
52
CHƢƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN
DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP HIỆN NAY DƢỚI GÓC NHÌN NHÀ
NƢỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM
54
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên của tỉnh Đồng Tháp
54
2.1.1 Địa chính trị
54
2.1.2 Địa kinh tế
55
2.2 Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp hiện
nay
57 5
2.2.1 Cỏc nguyờn tc c bn trong t chc v hot ng ca y ban nhõn
dõn tnh ng Thỏp
57
2.2.2 T chc v hot ng ca y ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp
62
khc phc
94
CHNG 3: PHNG HNG NHM HON THIN T
CHC V HOT NG CA Y BAN NHN DN TNH
NG THP TRONG NH NC PHP QUYN VIT NAM
96
3.1 Quan im ch o ca ng nhm hon thin t chc v
96 6
hot ng ca y ban nhõn dõn tnh
3.2 Phng hng hon thin t chc v hot ng ca y ban
nhõn dõn tnh ng Thỏp trong xõy dng Nh nc phỏp
quyn Vit Nam
98
3.3 Nhng xut hon thin t chc v hot ng ca y ban
nhân dân tỉnh Đồng Tháp
99
3.3.1 Những vấn đề có tầm vĩ mô
100
3.3.1.1 Đẩy mạnh phân cấp cho chính quyền tỉnh
100
3.3.1.2 Cơ cấu số l-ợng các thành viên ủy ban nhân dân tỉnh theo
h-ớng năng động và hiệu quả
101
3.3.1.3 T chc cỏc c quan chuyờn mụn nng ng, linh hot
117
3.3.2.5 Nâng cao chất lượng cuộc họp
118
3.3.2.6 Thực hiện có hiệu quả cải cách hành chính
118
KẾT LUẬN
121
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
125 8
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam
xác định: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới sự lãnh
đạo của Đảng. Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ
của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”. Việc định
hướng mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền khẳng định quyết tâm của
Đảng trong việc đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát
huy dân chủ, tăng cường pháp chế.
Cùng với quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà
nước, việc tập trung chấn chỉnh cơ cấu tổ chức, quy chế hoạt động của chính
quyền Nhà nước các cấp làm cho bộ máy tinh gọn, đảm bảo sự điều hành
thống nhất, thông suốt có hiệu lực từ Trung ương đến địa phương là trọng tâm
của việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Cơ quan hành chính cao nhất ở địa phương – UBND tỉnh có vai trò
quan trọng, đóng góp và thúc đẩy thi hành thống nhất trong địa phương các
chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chế độ, các qui định, hướng dẫn của
pháp quyền có tính chất như những cơ sở lý luận đóng góp vào sự nghiệp đổi
mới tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước.
Xuất phát từ những yêu cầu đó, căn cứ thực trạng tổ chức và hoạt động
của UBND tỉnh Đồng Tháp, chúng ta tham chiếu, tổng kết thực tiễn và đề ra
một số phương hướng nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh
Đồng Tháp, tạo sự đồng bộ, thống nhất quản lý toàn bộ hoạt động kinh tế, văn
hoá và đời sống của nhân dân trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 10
Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài luận văn “Tổ chức và hoạt động của
UBND tỉnh trƣớc yêu cầu xây dựng nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam (Qua
thực tiễn tỉnh Đồng Tháp).
2. Tình hình nghiên cứu:
Trong những năm gần đây, yêu cầu hoàn thiện tổ chức và hoạt động
của Chính quyền địa phương trở thành vấn đề cấp bách. Với vai trò đầu tàu
của cấp chính quyền tỉnh, UBND tỉnh trong Chính quyền địa phương phải
được đề cập và hoàn thiện trước tiên, song song cùng với HĐND tỉnh. Đây là
vấn đề trọng tâm cải cách bộ máy nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng
Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, Nội dung
này đã có một số công trình nghiên cứu như:
PGS. TS. Nguyễn Đăng Dung: Bàn về cải cách chính quyền Nhà nước
ở địa phương, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 9/2003;
PGS. TS Nguyễn Đăng Dung, Chuyên đề Tổ chức và hoạt động của
chính quyền địa phương, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ Tư
pháp, Hà Nội, 2001.
PGS. TSKH. Đào Trí Úc: Vấn đề Nhà nước pháp quyền và sự cần thiết
xây dựng mô hình tổng thể bộ máy Nhà nước ta, Tạp chí cộng sản số
tỉnh Đồng Tháp trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện
nay.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, luận văn phải giải quyết các nhiệm vụ
sau: 12
- Chính quyền địa phương và sự cần thiết hoàn thiện chính quyền địa
phương trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
- Tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh theo pháp luật hiện hành.
- Xây dựng những yêu cầu đặt ra đối với tổ chức và hoạt động của
UBND tỉnh trước trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
- Tham chiếu những yêu cầu và đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt
động của UBND tỉnh Đồng Tháp.
- Đề xuất một số phương hướng nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt
động của UBND tỉnh Đồng Tháp.
5. Phạm vi nghiên cứu
Dựa vào nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu thực
trạng UBND tỉnh xoay quanh các vấn đề: chính quyền địa phương mà trọng
tâm là UBND tỉnh trong Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, những yêu cầu
đối với tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh, thực trạng tổ chức và hoạt động
của UBND tỉnh Đồng Tháp để làm rõ mục đích nghiên cứu của luận văn.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn chủ yếu trên cơ sở Chủ nghĩa
Mác – Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm đường lối của Đảng.
Từ phương pháp luận đó, phương pháp nghiên cứu cụ thể của luận văn
:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thực tiễn của UBND tỉnh Đồng Tháp.
Quyền lực nhà nước là tập trung, thống nhất, có hiệu lực trên từng đơn
vị, toàn bộ lãnh thổ của quốc gia. Nhà nước dựa trên những điều kiện lãnh
thổ, truyền thống, lịch sử, văn hoá, dân tộc mà chia đất nước thành những
đơn vị lãnh thổ nhất định. Đây là cơ sở để quyền lực nhà nước mang tính hiện
thực, trực tiếp trong quản lý xã hội. Quản lý đời sống kinh tế - xã hội của một
vùng dân cư hiệu quả, mang lại lợi ích cho nhân dân là yêu cầu của bất kỳ nhà
nước nào, kể cả Việt nam. Đáp ứng yêu cầu đó, trên từng đơn vị lãnh thổ,
quyền lực nhà nước được tổ chức, thực hiện bởi một bộ máy hữu hiệu, chặt
chẽ. Đó là chính quyền địa phương.
Trong nhà nước XHCN, vì bản chất của dân, do dân, vì dân việc tổ
chức thực hiện quyền lực nhà nước trên từng vùng lãnh thổ địa phương là
nhằm tổ chức cho nhân dân trên các vùng lãnh thổ khác nhau của đất nước
tham gia, tiến tới thực hiện quyền nhà nước của mình [3, tr 8].
Đơn vị hành chính được hình thành từ hai yếu tố cơ bản: yếu tố lãnh
thổ và yếu tố dân cư. Tuỳ mức độ kết hợp của hai yếu tố này mà xuất hiện 15
đơn vị hành chính tự nhiên hay đơn vị hành chính lãnh thổ nhân tạo và tiến tới
tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ở những đơn vị đó khác nhau.
Đồng quan điểm này, theo Micheal P Barber: Chính quyền địa phương
có nghĩa là thẩm quyền quyết định và thực thi các vấn đề trong một giới hạn
địa lý và có thẩm quyền thấp hơn thẩm quyền chung của cả nước. (Local
government means authority to determine and to excute matters with-in a
restricted area inside and smaller than the whole state) [52, tr 1].
Nhưng cũng có quan điểm xác định chính quyền địa phương không dựa
trên cơ sở lãnh thổ mà dựa vào mức độ cung cấp dịch vụ: ““Chính quyền địa
phương” được hiểu là những đơn vị của chính quyền trực tiếp cung cấp dịch
vụ cho các công dân tại cấp trung gian thấp và thấp nhất” [24, tr 148].
Quan điểm chính quyền địa phương có tính chất chính thống và được
UBND [3, tr 13].
Hiện nay, dưới góc độ pháp lý và quan điểm chung chính quyền địa
phương được hiểu theo nghĩa hẹp [36]. Bởi vì hoạt động của các cơ quan tư
pháp, Viện kiểm sát tuy thực hiện trên một vùng lãnh thổ hành chính của địa
phương nhưng trên thực tế là nhân danh nhà nước và có hiệu lực trên cả nước.
Riêng HĐND và UBND chấp hành Hiến pháp, pháp luật, văn bản của các cơ
quan nhà nước cấp trên và trên cơ sở thực tiễn địa phương xây dựng chính
sách, chủ trương, kế hoạch quản lý kinh tế - xã hội trong phạm vi địa phương.
Trách nhiệm luôn đặt ra đối với HĐND và UBND. Do vậy, HĐND và UBND
không phải từ hai hệ thống mà là cơ cấu thống nhất của chính quyền địa
phương [34, tr 232].
Theo quy định của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), chính quyền địa phương được
tổ chức thành các cấp hành chính lãnh thổ. Dưới sự thống nhất quản lý của
Chính phủ, chính quyền địa phương chủ động thực hiện các nội dung công 17
việc của địa phương trong khuôn khổ pháp luật nhà nước, tôn trọng lợi ích
của quốc gia. Ở nước ta hiện nay, chính quyền địa phương gồm ba cấp:
1. Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
2. Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
3. Xã, phường, thị trấn.
Như vậy, khi nhận thức về chính quyền địa phương ở Việt Nam bao gồm
tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND cả ba cấp hành chính đã hiến định.
Chính quyền địa phương hiện nay thực hiện các chức năng chủ yếu:
Đảm bảo việc thi hành thống nhất trong địa phương các luật, văn
bản pháp quy của nhà nước, các chế độ chính sách, các quy định của chính
phủ để đảm bảo lợi ích quốc gia và duy trì trật tự pháp luật ở địa phương.
Thực hiện chức năng “tự quản” ở địa phương để đảm bảo các nhu
Vì vậy, để đáp ứng điều kiện xã hội mới phải thực hiện phân cấp trong
quản lý hành chính nhà nước. Chỉ có phân cấp, chính quyền địa phương tận
dụng tốt lợi ích, điều kiện và đem lại hiệu quả trong khi quyết định những vấn
đề của địa phương.
Chính quyền địa phương gồm hai cơ quan trong hệ thống thống nhất:
HĐND và UBND. Trong đó, HĐND là cơ quan đại diện của nhân dân, do
nhân dân trực tiếp bầu ra. UBND là cơ quan chấp hành của cơ quan đại diện
nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
HĐND là cơ quan chịu trách nhiệm trước nhân dân và cùng với UBND
chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên. Theo quy định của Hiến
pháp, luật, văn bản cơ quan nhà nước cấp trên, HĐND thông qua xây dựng kế
hoạch, hoạch định chính sách, quyết định những chủ trương, biện pháp quan
trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa
phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh Do đó, nếu không 19
dành cho HĐND phạm vi độc lập và tự quản tương đối (được phân cấp),
HĐND không thể thể hiện hết được chức năng, quyền hạn của mình đối với
địa phương (trước nhân dân) và càng không thể thực hiện được nghĩa vụ của
địa phương đối với trung ương.
Dưới nhiều góc độ, phân cấp giữa chính quyền trung ương và chính
quyền địa phương được đề cập với nội dung khác nhau. Trong nhà nước pháp
quyền Việt Nam, phân cấp phải được xác định đó là sự chuyển giao từ chính
quyền trung ương (Chính phủ) cho chính quyền địa phương quyền quyết định
hành chính và tài chính. Cách tiếp cận này là phù hợp, bởi vì, HĐND trong
chính quyền địa phương ở Việt Nam là cơ quan được thành lập bởi cộng đồng
dân cư ở địa phương và chính quyền cấp trên (hoặc Chính phủ đối với cấp
tỉnh) chỉ tham gia vào việc thành lập chính quyền địa phương có tính chất hạn
chế, chủ yếu là phê chuẩn. Ở Việt Nam hiện nay, quy định đó từng bước tiến
phát triển kinh tế mà mình thông qua. Do vậy, phải xác định rõ vai trò của
HĐND là cơ quan chịu trách nhiệm cơ bản, tăng cường tự chủ trong hoạt
động bằng cách nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND, đại biểu HĐND đối
với hoạt động và báo cáo của UBND, khắc phục tính hình thức của HĐND.
Sự độc lập của HĐND là nền tảng cho độc lập của UBND. Muốn UBND thực
sự độc lập, trước hết phải đảm bảo độc lập, tự chịu trách nhiệm từ cơ quan
bầu ra UBND: HĐND.
Chính quyền địa phương được phân cấp dựa trên những nội dung:
- Quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp, từng cơ
quan trong tổ chức chính quyền địa phương.
- Đảm bảo trao quyền quyết định các hoạt động quản lý hành chính nhà
nước trong phạm vị địa phương cho các cấp chính quyền trên cơ sở luật định.
- Sự phân cấp phải được luật định. 21
Tiểu kết: Phân cấp trong Nhà nước pháp quyền XHCN là yêu cầu cấp
thiết của chính quyền địa phương, vừa đáp ứng yêu cầu đặt ra đối với chính
quyền địa phương, vừa đáp ứng yêu cầu vận động phát triển của xã hội và
đảm bảo tính độc lập, tự quản tương đối gắn liền với trách nhiệm của chính
quyền địa phương.
1.1.2.2 Phát huy dân chủ
Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (sửa đổi năm 2001) có ghi:
“Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền của dân, do
dân, vì dân. Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân ” (điều 2). Trong mối quan
hệ giữa nhà nước và nhân dân, nhân dân là chủ thể quyền lực, nhân dân giao
cho nhà nước đại diện thực hiện quyền lực thống nhất trong cả nước. Chính
quyền địa phương là nơi trực tiếp thực hiện pháp luật, chính sách của cả nước,
trực tiếp xác định hiệu quả thực hiện quyền lực nhà nước, đảm bảo quản lý xã
(điều 39).
Bên cạnh trực tiếp, nhân dân còn gián tiếp thực hiện quyền của mình
qua cơ quan đại diện - cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương là HĐND.
HĐND quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm
năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội,
củng cố quốc phòng - an ninh, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước.
HĐND thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của thường trực HĐND,
UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp ở địa phương,
giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND, giám sát việc tuân theo
pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ
trang nhân dân và công dân ở địa phương (điều 1). 23
Thông quan cơ quan chấp hành của HĐND – UBND, các chủ trương,
biện pháp và các chính sách khác được thực hiện góp phần đảm bảo sự chỉ đạo,
quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở.
Phát huy dân chủ ở địa phương phải gắn liền phân cấp hành chính giữa
chính quyền trung ương và chính quyền địa phương. Phân cấp cho chính
quyền địa phương là cơ sở để nhân dân tham gia và quyết định chính sách ở
địa phương. Sự tham gia của nhân dân trong quá trình ra quyết định, giám sát
việc thực thi quyết định quản lý hành chính nhà nước là biểu hiện cao của
phân cấp trong việc thực thi hoạt động quản lý hành chính trên địa bàn lãnh
thổ [32, tr 135].
Phát huy cơ chế dân chủ phải gắn với cơ chế kiểm soát từ phía các cơ
quan nhà nước ở địa phương mà trọng tâm là HĐND, định hướng nhân dân
tham gia vào hoạt động của cơ quan nhà nước ở địa phương. Mặc khác, cần
tăng cường giám sát từ phía nhân dân, tránh sự lạm quyền và nhũng nhiễu từ
phía cán bộ, cơ quan nhà nước, góp phần đấu tranh chống tiêu cực.
quyền XHCN phải hướng tới mục đích xem con người là giá trị cao nhất và
cũng là mục tiêu phục vụ duy nhất mà trước hết là người lao động. Phải đảm
bảo trên thực tế quyền con người và quyền công dân của mỗi người [39, tr
380].
Chính quyền trung ương là nơi đề ra chính sách, lập quy để cụ thể hoá
pháp luật, làm cho pháp luật có “đời sống” thực tế. Theo lẽ thường, Nhà nước
pháp quyền chỉ đặt ra yêu cầu đối việc tổ chức, cải cách ở chính quyền trung
ương và các cơ quan nhà nước khác ở trung ương. Nhưng giá trị hiện thực của
Nhà nước pháp quyền lại được thực tế hoá ở địa phương. Địa phương là cái
đích thể nghiệm, đánh giá mục tiêu nhà nước pháp quyền hướng tới và xây
dựng. 25
Cùng với phân cấp mạnh mẽ cho chính quyền địa phương, nhà nước
(trong đó có chính quyền địa phương) đảm bảo và không ngừng phát huy
quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu nước,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc và có điều kiện phát triển toàn diện [6, điều 3].
Để đạt được mục tiêu đó, chính quyền địa phương không phải bảo vệ
quyền, lợi ích của nhân dân bằng những lời nói suông của lãnh đạo, những
mỹ từ của kế hoạch, chính sách, mà phải kết hợp nhuần nhuyễn trên hai mặt:
quy định của pháp luật và hiệu quả thực tiễn.
Theo quy định của pháp luật, Chính quyền địa phương có nhiệm vụ to
lớn là xây dựng kế hoạch phát triển ở địa phương. Quyền to lớn đó dành cho
HĐND các cấp của chính quyền địa phương. HĐND thông qua cử tri của
mình ghi nhận những yêu cầu, phản ánh của cử tri (nhân dân) để quyết định
tại các kỳ họp. Những vấn đề được HĐND quyết định hầu hết là phù hợp với
lòng dân, xuất phát từ ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân, có ý nghĩa
thiết thực ở địa phương [50, tr 34].