MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu……………………………
01
2
Tình hình nghiên cứu đề tài…………………………………….
03
3
Mục đích nghiên cứu………… ……………………………….
06
4
Phương pháp nghiên cứu……………………………………….
06
5
Giới hạn phạm vi nghiên cứu…………………………………
06
6
Tính mới của đề tài……………………………………………
07
7
Kết cấu đề tài…………………………………………………
07
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN
THANH TRA NHÀ NƢỚC
1.1.
Quan niệm về thanh tra………………………………………
08
1.1.1.
NHÀ NƢỚC TỈNH SƠN LA
2.1.
Những yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động thanh tra
nhà nƣớc tỉnh Sơn La…………………………………………
37
2.1.1.
Điều kiện tự nhiên ……………………………………………
37
2.1.2.
Về tình hình kinh tế, xã hội ………… ……………………….
39
2.1.3.
Sự tác động của nền kinh tế thị trường…………………………
40
2.2.
Thực trạng tổ chức thanh tra nhà nƣớc tỉnh Sơn La……….
41
2.2.1.
Quá trình hình thành và phát triển ……………………………
41
2.2.2.
Về cơ cấu tổ chức ……………. ……………………………
42
2.2.3.
Cơ cấu về nhân sự …………… ……………………………
45
2.3.4.
Nhận xét chung… ……………………………… …………
46
2.3.
72
3.2.
Một số giải pháp cụ thể ……….……………………………
73
3.2.1.
Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về thanh tra…………
73
3.2.2.
Kiện toàn tổ chức Thanh tra nhà nước tỉnh một cách hợp lý phù
hợp với yêu cầu cải hành chính nhà nước và thực tế ở địa
phương…………………………………………………………
75
3.2.3.
Đổi mới việc tuyển dụng, sử dụng và phát triển đội ngũ cán bộ,
thanh tra viên vững vàng trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ….
78
3.2.4.
Đổi mới hoạt động thanh tra…………………………………
80
3.2.5.
Ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào hoạt động thanh tra
82
KẾT LUẬN
84
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
chức thanh tra không ngừng lớn mạnh và phát triển, hoạt động thanh tra không
ngừng được mở rộng, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi những
nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong từng thời kỳ.
Kể từ khi tổ chức và hoạt động thanh tra được chính thức quy định tại các
văn bản quy phạm pháp luật chuyên biệt như Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 và
Luật Thanh tra năm 2004 và hiện nay chúng ta có Luật Thanh tra 2010 công tác
thanh tra đã góp phần quan trọng trong việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý các
sai phạm trong việc quản lý đời sống kinh tế, xã hội; đã kiến nghị xử lý và đề
xuất nhiều biện pháp để chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước như đất đai, đầu
tư xây dựng cơ bản, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; thực hiện chính sách pháp
2
luật về thuế, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; đồng thời kiến nghị với cấp có
thẩm quyền sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, pháp luật nhằm khắc phục
những khiếm khuyết, sơ hở trong công tác quản lý, góp phần phát triển kinh tế
và tăng cường trật tự, kỷ cương xã hội.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tổ chức và hoạt động thanh tra
thời gian qua cũng còn bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập như: Tổ chức thanh tra
còn dàn trải, thiếu tập trung, không thống nhất, hoạt động thanh tra còn chồng
chéo, trùng lặp cả về phạm vi, đối tượng. Quyền hạn thanh tra còn bị hạn chế,
các kết luận, kiến nghị thanh tra chưa được thực thi một cách nghiêm chỉnh và
còn thiếu những biện pháp cứng rắn, chế tài đủ mạnh. Một số cán bộ thanh tra
chưa đáp ứng được yêu cầu về trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo
đức và bản lĩnh chính trị trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Những yếu kém,
bất cập trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả công tác thanh
tra, làm cho công tác thanh tra chưa đáp ứng được yêu cầu của quản lý và mong
mỏi của nhân dân trong công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
Cùng với việc tiến hành cải cách bộ máy nhà nước, phục vụ yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội theo đường lối đổi mới của Đảng, việc đổi mới tổ chức
định hướng và giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của Ngành trong cơ
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mang tính toàn diện, khả thi,
trong đó có các kiến nghị về sửa đổi và bổ sung Luật thanh tra. Cụ thể: Xây
dựng và hoàn thiện tổ chức của ngành Thanh tra đồng bộ, thông suốt và có tính
liên kết chặt chẽ; tăng cường thẩm quyền, phân định rành mạch chức năng,
nhiệm vụ của các cơ quan thanh tra phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và cải cách hành chính; Đổi mới phương
thức nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của ngành Thanh tra trong
từng lĩnh vực cụ thể đảm bảo tính khách quan, kịp thời, chính xác, hiệu quả của
công tác thanh tra; Đổi mới việc tuyển dụng, sử dụng và phát triển công chức
nhằm tạo dựng tính chuyên nghiệp, nhạy bén, bản lĩnh chính trị vững vàng cho
đội ngũ cán bộ thanh tra. Bên cạnh các giải pháp, đề tài cũng đưa ra các kiến
nghị cụ thể nhằm hoàn thiện thể chế cũng như năng lực hoạt động của ngành
4
Thanh tra trong điều kiện kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, cải cách hành chính và hội nhập quốc tế hiện nay.
- “Cơ sở xác định trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp
trong công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham
nhũng” đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, năm 2010 do đồng chí Nguyễn Tuấn
Khanh - Trưởng phòng nghiên cứu và đào tạo, Viện khoa học Thanh tra làm chủ
nhiệm. Đề tài nêu lên một số cơ sở lý luận của vấn đề trách nhiệm pháp lý của
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại,
tố cáo và phòng chống tham nhũng; đánh giá thực trạng thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thực trạng thanh tra trách
nhiệm, đưa ra định hướng giải quyết, hệ thống giải pháp và một số kiến nghị cụ
thể.
- “Một số giải pháp nhằm hạn chế trùng lắp, chồng chéo trong hoạt động
thanh tra” đề tài khoa học cấp cơ sở, do đồng chí Lê Đức Trung, Phó trưởng
phòng Quản lý Khoa học, Viện Khoa học Thanh tra làm chủ nhiệm. Đề tài làm
ta trong giai đoạn hiện nay – thực trạng và giải pháp„ của nghiên cứu sinh
Trịnh Xuân Thiện. Luận án đã đề cập đến những vấn đề bất cập trong tổ chức và
hoạt động của các tổ chức thanh tra sau khi Luật thanh tra 2004 có hiệu lực thi
hành, trong đó đề cập cụ thể tới 4 tổ chức: thanh tra nhà nước, thanh tra chuyên
ngành, Ban thanh tra nhân dân và thanh tra của thủ trưởng đơn vị.
Luận văn thạc sỹ “Nâng cao hiệu quả hoạt động của thanh tra chuyên
ngành” của học viên Nguyễn Thị Kim Ngọc; “Vai trò của thanh tra Nhà nước
trong quản lý việc thực hiện dự án ở nước ta hiện nay” của học viên Nguyễn
Thanh Hải; “Đổi mới tổ chức và hoạt động của thanh tra chuyên ngành giáo
dục” của học viên Bùi Ngọc Âu….Tuy nhiên, các đề tài này chỉ tập trung phân
tích thực trạng về hoạt động thanh tra chuyên ngành hoặc vai trò của thanh tra
nhà nước trong lĩnh vực cụ thể, chưa có đề tài nào nghiên cứu về tổ chức và hoạt
động thanh tra nhà nước cấp tỉnh trong giai đoạn hiện nay.
Trên cơ sở kết quả các nghiên cứu trước đây và các quy định của pháp
luật hiện hành, em cho rằng việc chọn nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần làm
phong phú và sâu sắc thêm những luận cứ khoa học, cũng như cơ sở thực tiễn
6
cho việc đổi mới tổ chức, hoạt động Thanh tra nhà nước tỉnh mà nhu cầu khách
quan cuộc sống đang đặt ra.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu với mục đích nhằm đảm bảo công tác thanh tra nhà
nước cấp tỉnh nói chung và Thanh tra nhà nước tỉnh Sơn La nói riêng có được
một cơ sở lý luận vững chắc để chuẩn hóa về tổ chức bộ máy và hoạt động thanh
tra nhà nước cấp tỉnh. Phân tích thực trạng về tổ chức và hoạt động của thanh tra
nhà nước tỉnh Sơn La nhằm tìm ra những ưu điểm và hạn chế, từ đó kiến nghị
phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra hành
chính. Qua đó kiến nghị, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về
thanh tra và các văn bản hướng dẫn có liên quan để phù hợp với tình hình thực
tế.
tỉnh đảm bảo về các mặt: Hoàn thiện về bộ máy, hoạt động có hiệu quả, đảm bảo
tốt về nguồn nhân lực và có thể nhân rộng sang các tỉnh thành khác của cả nước.
7. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
chia làm 03 chương như sau:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh tra
nhà nước.
Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của thanh tra nhà nước tỉnh
Sơn La.
Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động thanh
tra nhà nước tỉnh Sơn La.
8
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN THANH TRA NHÀ NƢỚC
1.1. Quan niệm về thanh tra
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm
1.1.1.1. Khái niệm
Theo tài liệu về “Các Tổng thanh tra” của Pháp thì thuật ngữ “inspection”
giữ việc can gián Vua và đàn hặc các quan. [42, tr.172]
Thời kỳ Việt Nam độc lập: Thuật ngữ “thanh tra” lần đầu tiên xuất hiện
tại Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Ban
thanh tra đặc biệt. Sắc lệnh nêu rõ: “Chính phủ sẽ thành lập ngay một Ban thanh
tra đặc biệt, có uỷ nhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên
của Uỷ ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ” [16, tr.1]. Cũng từ Sắc lệnh
này quyền thanh tra được xác định và chính thức giao cho Chính phủ.
Sau đó khái niệm “thanh tra” được đề cập trong các Hiến pháp Việt Nam
và các văn bản pháp luật khác, khẳng định thanh tra là một hoạt động đặc biệt
không thể thiếu trong quản lý nhà nước. Hiến pháp Việt Nam năm 1946 chưa sử
dụng thuật ngữ “thanh tra”. Hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa được giao cho
một cơ quan chuyên trách nào mà được giao cho Ban thường vụ của Nghị viện.
Hiến pháp năm 1959 đã đề cập đến một số nội dung về kiểm tra việc thi hành
các quyết định quản lý nhà nước. Hiến pháp năm 1980 thuật ngữ thanh tra được
sử dụng với nội dung là một chức năng của cơ quan quản lý nhà nước. Hiến
pháp năm 1992 khái niệm thanh tra được thể hiện rõ hơn tại các Điều 112, 115,
116 và 124. Khoản 7 Điều 112 quy định Chính phủ có nhiệm vụ “tổ chức và
lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra
nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; công tác giải
quyết khiếu nại tố cáo của công dân” [5, tr.181]. Văn bản pháp lý đầu tiên của
hoạt động thanh tra là Pháp lệnh thanh tra năm 1990. Pháp lệnh đã cụ thể hoá
các quy định của Hiến pháp và khẳng định thanh tra là một chức năng thiết yếu
của cơ quan quản lý nhà nước. Điều 1 Pháp lệnh thanh tra quy định: “Thanh tra
là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước; là phương thức bảo
10
đảm pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực hiện quyền dân
chủ xã hội chủ nghĩa” [13, tr.1].
Theo quy định của Luật Thanh tra năm 2004 đã được thông qua tại kỳ họp
thứ 5 Quốc hội khóa IX thì “Thanh tra nhà nước là việc xem xét, đánh giá, xử lý
cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới (trong mối quan hệ trực thuộc) nhằm
xem xét, đánh giá mọi mặt hoạt động của cấp dưới khi thấy cần thiết hoặc trong
trường hợp cần kiểm tra một vấn đề cụ thể nào đó. Vì vậy, khi tiến hành kiểm
tra, cơ quan cấp trên hoặc thủ trưởng cơ quan có quyền áp dụng các biện pháp
cưỡng chế kỷ luật, biện pháp bồi thường thiệt hại vật chất hoặc áp dụng các biện
pháp tác động tích cực với đối tượng bị kiểm tra như động viên khen thưởng về
vật chất hoặc tinh thần; ii) Kiểm tra là hoạt động của các tổ chức chính trị - xã
hội như kiểm tra của Đảng, kiểm tra, giám sát của các tổ chức xã hội đối với
hoạt động hành chính nhà nước. Hoạt động này ít mang tính quyền lực nhà nước
và không trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế mà chỉ áp dụng các biện
pháp tác động mang tính xã hội. Như vậy, xét về chủ thể thì phạm vi chủ thể tiến
hành hoạt động kiểm tra đa dạng hơn thanh tra rất nhiều. Rõ ràng, giữa kiểm tra
và thanh tra có một mảng giao thoa về chủ thể, đó là Nhà nước. Bởi vì, kiểm tra
và thanh tra đều là một chức năng chung của quản lý nhà nước, là hoạt động
mang tính chất “phản hồi” của chủ trình quản lý. Qua thanh tra và kiểm tra
người ta có thể phân tích, đánh giá, theo dõi quá trình thực hiện các mục tiêu,
nhiệm vụ, quản lý đã đề ra. Quan hệ giữa “thanh tra” và “kiểm tra” là quan hệ
giữa “cái chung” và “cái riêng”, là mối quan hệ đan chéo. Nếu hiểu theo nghĩa
rộng thì kiểm tra bao hàm cả thanh tra, hay nói cách khác thanh tra là một loại
hình đặc biệt của kiểm tra mà ở đó luôn luôn do một loại chủ thể là Nhà nước
tiến hành và luôn mang tính quyền lực nhà nước, với sự độc lập tương đối.
Ngược lại, nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì thanh tra cũng bao hàm kiểm tra. Các
hoạt động, các thao tác nghiệp vụ trong một cuộc thanh tra thường chính là kiểm
tra (kiểm tra sổ sách, giấy tờ, tài liệu; kiểm tra kho quỹ; so sánh, đối chiếu, đánh
giá các số liệu thu thập được trong quá trình thanh tra…). Như vậy, giữa thanh
tra và kiểm tra giống nhau về mục đích, bản chất đều là những hoạt động xem
xét việc thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật, nhưng khác nhau về phạm
vi, chủ thể, phương thức thực hiện. Tuy nhiên, việc so sánh và phân định sự
12
13
Có thể nói, cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát là “cái bóng” của cơ chế
quản lý và thể chế chính trị, các phương thức này đều là những hoạt động xem
xét, đánh giá một việc gì đó đúng hay sai so với quy định nhưng dưới những góc
độ khác nhau, mức độ xử lý khác nhau, chủ thể và khách thể khác nhau. Vấn đề
đặt ra hiện nay là phải xác định vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ
quan có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát một cách thật hợp lý nhằm khắc
phục tình trạng chồng chéo, trùng lắp, vừa dàn trải, gây khó khăn, phiền hà cho
đối tượng bị thanh tra, kiểm tra, giám sát và làm giảm hiệu lực, hiệu quả của
hoạt động quản lý nhà nước.
1.1.1.2. Đặc điểm của thanh tra
Thứ nhất, thanh tra luôn gắn với quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước và thanh tra có điểm chung là nhân danh quyền lực nhà
nước thực hiện sự tác động lên các đối tượng quản lý. Với tư cách là một chức
năng thiết yếu của quản lý nhà nước, thanh tra gắn liền với hoạt động quản lý
nhà nước. Lênin đã viết: “Quản lý đồng thời phải có thanh tra, quản lý và thanh
tra là một chứ không phải là hai” [28, tr.35]. Như vậy, quản lý nhà nước và thanh
tra có mối quan hệ mật thiết với nhau. Thanh tra chỉ xuất hiện khi có nhà nước
và ở đâu có quản lý nhà nước thì ở đó có thanh tra. Trong mối quan hệ này, quản
lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra (thể hiện ở việc
xác định đường lối, chủ trương, quy định thẩm quyền của các cơ quan thanh tra;
sử dụng các kết quả, thông tin từ phía cơ quan thanh tra). Hơn nữa, hoạt động
chấp hành của quản lý nhà nước thường bao hàm cả sự điều hành, cho nên trong
quá trình chấp hành các văn bản pháp luật đòi hỏi phải có sự kiểm tra nghiêm
ngặt của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, xét về mặt cơ cấu,
chức năng của quản lý thì thanh tra chỉ là phương tiện, công cụ để quản lý nhà
nước.
Ngoài ra, với tư cách là một khâu trong chu trình quản lý, thanh tra bị
ràng buộc, chế ước bởi quản lý nhưng đồng thời lại tác động trở lại, góp phần
đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu
lực, hiệu quả của hoạt động quản lý Nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [7, tr.1]. Vì thế, hoạt
động thanh tra phải mang tính khách quan. Tính khách quan của hoạt động
15
thanh tra được biểu hiện ở chỗ mọi hoạt động thanh tra đều dựa trên cơ sở pháp
luật và phải tuân theo pháp luật. Không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào được
can thiệp trái pháp luật vào hoạt động thanh tra. Mọi nhận định, đánh giá trong
quá trình thanh tra và đưa ra kết luận thanh tra phải dựa trên chứng cứ có thật, sự
kiện thực tế, không bình luận chủ quan. Tính khách quan đảm bảo hoạt động
thanh tra được minh bạch, khách quan, công bằng.
Thứ tư, thanh tra có tính độc lập tương đối
Tính độc lập tương đối là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của
thanh tra. Khác với hoạt động kiểm tra thường do bản thân các cơ quan quản lý
nhà nước tự tiến hành, hoạt động thanh tra thường được tiến hành bởi một cơ
quan chuyên trách có nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định. Vì vậy, khi
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, ngoài việc đảm bảo sự phối kết hợp
nhịp nhàng với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước, hoạt động thanh tra
còn có tính độc lập tương đối trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Luật Thanh tra
2010 đã tập trung tăng cường các nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra
cũng như người đứng đầu các cơ quan này: Các cơ quan thanh tra có quyền chủ
động tiến hành thanh tra theo kế hoạch đã được phê duyệt; Thủ trưởng cơ quan
thanh tra tự quyết định thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật và
chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Việc bổ sung quyền này nhằm tăng
cường tính chủ động cho người đứng đầu các cơ quan thanh tra trong việc thực
hiện nhiệm vụ thanh tra, bảo đảm tính linh hoạt, nhanh nhạy của thanh tra trong
điều kiện phát triển kinh tế xã hội hiện nay; Thủ trưởng cơ quan thanh tra có
quyền yêu cầu thủ trưởng cơ quan chuyên môn cùng cấp hoặc Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp dưới trực tiếp tiến hành thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi
nắm bắt được tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao của các đối tượng thuộc
quyền quản lý, từ đó đề ra các biện pháp khắc phục, sửa chữa cũng như các biện
pháp tác động phù hợp nhằm phát huy, nhân rộng những điển hình tích cực.
Bên cạnh đó, thanh tra còn có vai trò quan trọng trong việc giúp cơ quan
quản lý nhà nước hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách. Một trong những
yêu cầu quan trọng nhất của việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, đó là xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, rõ
ràng, minh bạch, phù hợp với yêu cầu phát triển khách quan của nền kinh tế và
17
đảm bảo tính công bằng cho các chủ thể kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay hệ thống
pháp luật nước ta còn một số lĩnh vực còn thiếu và chưa chặt chẽ, một số cơ chế
chính sách không đi vào thực tế đã phát sinh những sơ hở, dễ bị lợi dụng để trục
lợi làm ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển của đất nước. Qua hoạt động thanh tra,
những sai sót, gian lận trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp
luật được phát hiện và khắc phục kịp thời; những lỗ hổng, sự bất hợp lý trong
các chủ trương, chính sách pháp luật được điều chỉnh hợp lý.
Thứ hai, thanh tra là phương thức bảo đảm pháp chế, kỷ luật trong quản
lý nhà nước
Một trong những nguyên tắc cơ bản của hệ thống chính trị và bộ máy nhà
nước ta là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Điều 12, Hiến pháp 1992 sửa
đổi, bổ sung năm 2001 quy định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và
không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa". Nội dung của nguyên tắc
pháp chế là sự bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ một cách tuyệt đối, không
có một thực thể nào đứng trên pháp luật hay đứng ngoài pháp luật.
Trong hoạt động quản lý nhà nước, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
thể hiện qua các yêu cầu cơ bản sau đây :
- Hệ thống chính sách, pháp luật phải hoàn chỉnh, thống nhất tạo thành cơ
sở pháp lý vững chắc cho hoạt động quản lý nhà nước. Tính tối cao của Hiến
pháp, giá trị của các đạo luật phải được đề lên hàng đầu, giá trị của các văn bản
lý kịp thời những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, cán bộ, công
chức nhà nước, thanh tra góp phần bảo đảm trật tự kỷ cương trong quản lý, làm
trong sạch bộ máy nhà nước.
Như vậy, hoạt động bảo đảm pháp chế không những phải trở thành một
chức năng quan trọng của mọi cơ quan quản lý, mà trong bộ máy Nhà nước và
nhất là trong bộ máy quản lý cần phải có những cơ quan, tổ chức chuyên nghiệp
thực hiện chức năng này, trong đó có cơ quan Thanh tra nhà nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người luôn đề cao vai trò của công tác thanh
tra trong việc bảo đảm pháp chế, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật, đấu tranh chống các
biểu hiện tiêu cực trong bộ máy nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:
Lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý mà thiếu sự kiểm tra, thanh tra thì đó
19
chính là nguyên nhân của bệnh quan liêu, dẫn đến tham ô, lãng phí. Trong bài
nói chuyện tại Hội nghị cán bộ thanh tra toàn miền Bắc năm 1960, Người chỉ rõ:
“lãng phí, quan liêu, mệnh lệnh trong cơ quan nhà nước, trong cán bộ lãnh đạo
còn nhiều. Ví dụ như dùng người không cẩn thận, dùng ẩu, không biết rõ lý lịch
tốt xấu, nên một số phần tử xấu chui vào cơ quan ăn trộm, ăn cắp tài sản của
Nhà nước, của nhân dân. Một số cán bộ phụ trách làm việc như “ông quan” ngày
xưa, chỉ ngồi bàn giấy, không đi sát thực tế, không hiểu tình hình của cải trong
kho còn thừa, thiếu bao nhiêu, thứ nào bị hư hỏng, thứ nào còn dùng được;
không hiểu rõ cán bộ, nhân viên của mình làm việc tốt hay xấu để khen thưởng,
cất nhắc người tốt, giáo dục người kém, tẩy trừ những phần tử xấu xa”. Để
chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh, Người cho rằng chỉ có một cách, đó là kiểm
tra, kiểm soát. Người khẳng định: Người lãnh đạo phải “kiểm soát kết quả công
việc cán bộ của mình”, “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết
các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng hay không; muốn biết
ai ra sức làm, ai làm cho qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát" và
“kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm soát khéo về
sau khuyết điểm nhất định bớt đi” [26, tr.135].
hiện quyền làm chủ của mình trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ
quan Nhà nước".
- Nhờ có hoạt động thanh tra mà những sơ hở, yếu kém trong cơ chế
chính sách, hệ thống pháp luật, nhất là những vấn đề liên quan đến quyền dân
chủ của nhân dân được phát hiện kịp thời. Từ đó, Đảng và Nhà nước có biện
pháp chấn chỉnh, hoàn thiện tạo cơ sở chính trị, pháp lý cho việc đảm bảo và
thực hiện các quyền dân chủ của nhân dân.
- Trong việc thực hiện các chủ trương đường lối, chính sách pháp luật về
quyền dân chủ của nhân dân, nhờ có phạm vi hoạt động rộng khắp trong tất cả
các lĩnh vực quản lý của nhà nước, thanh tra góp phần đấu tranh phòng, chống
các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm bảo vệ các quyền tự do, lợi ích hợp
pháp của công dân. Có thể nói, hơn ở đâu hết, trong việc tổ chức thực hiện các
quyền dân chủ của nhân dân, hoạt động thanh tra giữ một vai trò quan trọng vì
"Chúng ta có chính sách đúng, có pháp luật phù hợp với thực tiễn nhưng nếu
không thanh tra, kiểm tra việc thực hiện thì các chủ trương, pháp luật đó sẽ
21
không đi vào đời sống và nạn tham nhũng, sách nhiễu, phiền hà dân vẫn sẽ xảy
ra".
- Thông qua khiếu nại, tố cáo của công dân và việc thẩm tra, xác minh
giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan thanh tra thì những hành vi tham
nhũng, tiêu cực, hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quyền dân chủ của nhân
dân bị phát hiện và xử lý. Nhờ đó, các quyền dân chủ, lợi ích hợp pháp của nhân
dân được bảo vệ, lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước được củng
cố, Nhà nước có thêm thông tin về hoạt động của bộ máy, đội ngũ cán bộ công
chức của mình, từ đó có biện pháp chấn chỉnh về cơ chế chính sách và tổ chức,
bộ máy, hướng tới mục tiêu ngày càng phục vụ nhân dân tốt hơn.
Thứ tư, thanh tra là một biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý những
hành vi vi phạm pháp luật
Mục đích của thanh tra không chỉ phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật mà