BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
o0o
MẠC TIẾN HƯNG
NGHIÊN CỨU, THIẾT KẾ CHẾ TẠO
MÔ HÌNH HỆ THỐNG LÁI Ô TÔ TRỢ LỰC ĐIỆN
CÓ KẾT NỐI MÁY TÍNH ĐỂ PHỤC VỤ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa - 2014
Khánh Hòa - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Khánh Hòa, ngày …… tháng …… năm 2014
Người nghiên cứu
Mạc Tiến Hưng
ii
LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn:
TS Phùng Minh Lộc – Giảng viên khoa Kỹ thuật giao thông Trường Đại học
Nha Trang, người hướng dẫn luận văn.
Quý Thầy, Cô khoa Kỹ thuật giao thông Trường Đại học Nha Trang.
Các bạn học viên lớp cao học Cơ khí động lực khóa 2012-2014, Trường Đại
học Nha Trang – Khánh Hòa.
Đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt khóa học
cũng như thực hiện đề tài này.
Khánh Hòa, ngày …. tháng … năm 2014
Người nghiên cứu
2.4.1. Cấu trúc tổng quát HTL trợ lực thuỷ lực: 14
2.4.2. Mô hình toán học HTL trợ lực thuỷ lực: 14
2.4.3. Đặc tính trợ lực lái: 15
2.4.4. Giải pháp điều khiển thay đổi hệ số trợ lực lái: 16
2.4.5. Hệ thống lái trợ lực thủy lực điều khiển điện : 16
iv
2.5. Hệ thống lái trợ lực điện : 16
2.5.1. Trợ lực trên trục lái: 18
2.5.2. Trợ lực trên cơ cấu lái ô tô: 26
2.5.3. Cảm biến trong hệ thống lái trợ lực điện : 29
2.5.3.1. Cảm biến tốc độ đánh lái: có 2 loại 30
2.5.3.2. Cảm biến mô men lái: có 3 loại 31
2.5.3.3. Cảm biến tốc độ ô tô: Gồm 4 loại 33
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ CÁC BÀI THỰC HÀNH TRÊN MÔ HÌNH HỆ THỐNG
LÁI Ô TÔ TRỢ LỰC ĐIỆN 36
3.1. Bài 1: Cấu tạo và Nguyên lý hoạt động hệ thống lái trợ lực điện 36
3.1.1. Cấu tạo của hệ thống lái trợ lực điện: 36
3.1.2. Vận hành thiết bị để tìm hiểu nguyên lý hoạt động của hệ thống : 36
3.2. Bài 2: Các hư hỏng thường gặp và biện pháp khắc phục. 37
3.2.1. Một số nguyên nhân gây hư hỏng: 37
3.2.2. Tạo các Pan hư hỏng trên mô hình: 39
CHƯƠNG 4: THIẾT KẾ, CHẾ TẠO MÔ HÌNH HỆ THỐNG LÁI Ô TÔ TRỢ LỰC
ĐIỆN CÓ KẾT NỐI MÁY TÍNH. 40
4.1. Lựa chọn phương án: 40
4.1.1. Lựa chọn hệ thống lái trợ lực điện trên mô hình: 41
4.1.2. Lựa chọn phương án tạo mô men cản của mặt đường: 48
4.2. Thiết kế, chế tạo phần cơ khí của mô hình: 50
4.3.Thiết kế, chế tạo mạch điều khiển của mô hình: 53
4.3.1. Mạch tạo tín hiệu cảm biến tốc độ xe: 53
4.3.2. Thiết kế mạch giao tiếp máy tính: 54
ABS (Anti-lock Brake System): Hệ thống phanh chống hãm cứng bánh xe.
CAN (Controller Area Network): Vùng mạng điều khiển
ECU (Electronic Control Unit): Bộ điều khiển điện tử.
EPS (Electronic Power Steering): Hệ thống lái trợ lực điện
HPS (Hydraulic Power Steering) : Hệ thống lái trợ lực thủy lực
EHPS (Electronic Hydraulic Power Steering) : Hệ thống lái trợ lực thủy lực – điện
HTL: Hệ thống lái
HTP: Hệ thống phanh
4WD (Four Wheel Driver): Bốn bánh xe chủ động.
4WS (Four Wheel Steering): Hệ thống lái 4 bánh xe.
DTC (Diagnostic trouble code): Mã chẩn đoán hư hỏng.
DLC (Data link connector): Giắc cắm kết nối dữ liệu.
VI (Virtual Instrument): Thiết bị ảo
PPS (Progressive Power Steering): Bộ cường hoá tích cực
vii
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1.1. Mô hình thiết kế hộp ECU điều khiển hệ thống lái trợ lực điện 6
Hình 2.1. Ô tô quay vòng 9
Hình 2.2. Thông số kích thước ô tô hai trục, có hai bánh xe phía trước dẫn hướng 10
Hình 2.3. Kết cấu và phản lực ở một bánh xe dẫn hướng 11
Hình 2.4. Góc nghiêng trụ quay đứng trong mặt phẳng dọc của ô tô 12
Hình 2.5. Sơ đồ độ chụm của bánh xe dẫn hướng 13
Hình 2.6. Sơ đồ tổng quát hệ thống lái ô tô trợ lực thủy lực 14
Hình 2.7. Sơ đồ khối mô hình toán học HTL ô tô có trợ lực 14
Hình 2.8. Đồ thị đặc tính trợ lực 15
Hình 2.9. Hệ thống lái ô tô trợ lực điện với động cơ trợ lực bố trí trên trục lái 17
Hình 2.10. Hệ thống lái ô tô trợ lực điện với động cơ trợ lực bố trí trên cơ cấu lái và
được thiết rời 18
Hình 4.2. Hệ thống lái trợ lực điện trên xe Ford focus 2012 41
Hình 4.3. Hệ thống lái trợ lực điện trên xe Toyota Vios 42
Hình 4.4 . Hệ thống lái trợ lực điện trên xe Kia morning 44
Hình 4.5 . Hệ thống lái trợ lực điện trên xe Lexus 45
Hình 4.6 . Các bộ phận cơ bản của Hệ thống lái trợ lực điện trên xe Toyota Vios 2007 46
Hình 4.7. Sơ đồ đấu dây của cảm biến mô men xoắn 46
Hình 4.8 . Sơ đồ đấu dây của động cơ điện trợ lực 47
Hình 4.9 . Cơ cấu tạo mô men cản 49
Hình 4.10. Mạch điều xung cho li hợp điện từ 49
Hình 4.11 . Thiết kế Khung mô hình 50
Hình 4.12. Thiết kế Dẫn động lái 50
Hình 4.13. Mô phỏng lắp ráp các chi tiết 51
Hình 4.14. Bản vẽ lắp được xây dựng trên Solid Work 51
Hình 4.15. Mô hình thực tế nhìn từ phía sau 52
Hình 4.16. Mô hình thực tế nhìn từ phía trước 52
Hình 4.17. Tín hiệu tốc độ xe hồi về ECU trợ lực lái 53
Hình 4.18. Mạch giả lập tín hiệu tốc độ xe 54
Hình 4.19. Sơ đồ chân của các đầu cắm DB 9 và DB 25 56
Hình 4.20. Sơ đồ chân của vi mạch MAX 232 57
Hình 4.21. Sơ đồ khối của vi mạch MAX 232 57
Hình 4.22. Mạch giao tiếp máy tính 58
Hình 4.23. Sơ đồ chân và sơ đồ đóng gói của vi điều khiển Atmega16 59
Hình 4.24. Sơ đồ cấu trúc của vi điều khiển Atmega16 60
Hình 4.25. Sơ đồ nối dây mạch điều khiển 63
Hình 4.26. Board mạch in mạch điều khiển 64
Hình 4.27. Board mạch điều khiển sau khi chế tạo 64
ix
Hình 4.28. Sơ đồ nối dây mạch công suất động cơ 65
Hình 4.29. Board mạch in mạch công suất động cơ 66
Hình 4.30. Board mạch công suất động cơ sau khi chế tạo 66
xe
= 200 Km/h 93
Hình 5.16. Dữ liệu biểu bảng đã xuất sang excel trường hợp 6 tải = max, V
xe
= 200
Km/h 94
x
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Một số nguyên nhân hư hỏng của hệ thống lái ô tô trợ lực điện 37
Bảng 4.1. Bảng chỉ dẫn kỹ thuật 47
Bảng 4.2. Tên và các đường chức năng của các đường tín hiệu 56
Bảng 4.3. Mô tả các đặc tính quan trọng cho việc lập trình 74
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1 . Giới thiệu về vấn đề nghiên cứu:
Trong những năm gần đây, ngành công nghệ ô tô phát triển rất nhanh đặc biệt
là các hệ thống điều khiển cơ khí, thủy lực, khí nén… được thay thế điều khiển bằng
điện. Trong đó, hệ thống lái ô tô trợ lực bằng điện (Electric Power Steering – EPS) là
một trong những hệ thống đang được ứng dụng rất mạnh mẽ trên hầu hết các hãng xe
trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Hiện nay, tất cả những dòng xe của các
hãng như: Toyota, Kia, Honda, Ford, Mitsubishi, BMW, Lexus … đều đã sử dụng hệ
thống EPS”.
Hệ thống lái ô tô trợ lực bằng điện (EPS) làm việc trên cơ sở phụ thuộc năng
lượng của ắc quy, thực hiện các chức năng trợ lực thông thường nhưng có nhiều ưu
điểm nổi bật so với các hệ thống lái trợ lực truyền thống trước đây:
- Hệ thống EPS có kích thước nhỏ gọn, dễ lắp đặt, bảo dưỡng.
- Giảm tiêu tốn nhiên liệu, một số nghiên cứu cho thấy rằng nhiên liệu tiêu tốn
- Hệ thống lái ô tô trợ lực điện;
- Mô hình giảng dạy hệ thống lái trợ lực điện có giao tiếp máy tính thông qua
ngôn ngữ lập trình Visual Basic;
- Nghiên cứu ứng dụng ngôn ngữ lập trình Visual Basic.
5. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài là mô hình dạy học nên phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung nghiên
cứu lý thuyết về hệ thống lái ô tô trợ lực điện, mạch giao tiếp giữa máy tính với mô
hình thông qua ngôn ngữ lập trình Visual Basic, thiết kế giao diện mô phỏng trên máy
tính và thiết kế bố trí mô hình.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần cho phép tiếp cận các kiến thức điều
khiển hiện đại đang được áp dụng vào kỹ thuật ô tô, đây cũng là cơ sở để hình thành
các định hướng nghiên cứu trong ngành; các tiếp cận còn cho phép mở rộng các
nghiên cứu theo hướng nâng cao độ tin cậy hoặc cải thiện các hệ thống điều khiển hiện
đại áp dụng cho ngành kỹ thuật ô tô ở Việt Nam trong tương lai.
Nền công nghiệp ô tô hiện nay không ngừng phát triển, các thành tựu nghiên
cứu cơ - điện tử từng bước được ứng dụng vào các sản phẩm trong ngành và luôn đưa
ra hướng cải thiện các hệ thống trên ô tô do nhiều yếu tố khác nhau, trong đó quá trình
điện hóa trên xe đang hình thành và phát triển ở thị trường Việt Nam. Điều đó có
3
nghĩa sẽ cần nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật cao. Tuy nhiên, thực trạng của quá
trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng và trung cấp trong điều kiện hiện nay,
khó có thể trang bị đủ các trang thiết bị hiện đại phục vụ quá trình đào tạo. Sản phẩm
nghiên cứu về mô hình này là cơ hội để sinh viên phần nào tiếp cận được kiến thức cần
thiết và nâng cao khả năng tư duy lí luận trong chuyên môn nhằm đáp ứng được nhu
cầu công việc sau này.
Góp phần hiện đại hóa phương tiện và phương pháp dạy thực hành trong Giáo
dục và Đào tạo, từng bước nâng cao trình độ của sinh viên trước khi ra trường.
4
lực lái điện - thủy lực. Năm 1994, Volkswagen sản xuất Mark 3 Golf Ecomatic, với
một máy bơm điện. Kết cấu này cho phép hệ thống lái trợ lực sẽ vẫn hoạt động trong
khi động cơ đã được ngừng lại bởi máy tính để tiết kiệm nhiên liệu. Hệ thống điện -
thủy lực có thể được tìm thấy trong một số xe: Ford, Volkswagen, Audi, Peugeot,
Citroen, Seat, Suzuki, Opel, Mini, Toyota, Honda và Mazda.
5
Hệ thống lái ô tô trợ lực điện đầu tiên xuất hiện trên xe Suzuki Cervo trong
năm 1988.
Năm 2000, Honda tung ra S2000 Loại V được trang bị đầu tiên trên thế giới
hệ thống lái trợ lực điện thay đổi tỉ số truyền (VGS). Năm 2003, Toyota giới thiệu hệ
thống lái trợ lực điện trên xe Lexus LX 470 và Landcruiser Cygnus, và cũng kết hợp
hệ thống kiểm soát ổn định điện tử để thay đổi tỷ lệ bánh lái và lái hỗ trợ các cấp. Năm
2003, BMW trang bị hệ thống thống lái trợ lực điện trên dòng xe V.
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước:
Nhờ sự phát triển nhanh về khoa học kỹ thuật, trên thế giới đã có nhiều công
trình nghiên cứu về HTL ô tô nói chung và HTL ô tô trợ lực điện nói riêng và đã đưa
vào ứng dụng có hiệu quả, ngày càng được cải tiến và tối ưu hóa quá trình điều khiển
của hệ thống. Theo đó, nội dung chương trình và công nghệ chế tạo mô hình phục vụ
cho việc giảng dạy và nghiên cứu cũng được thực hiện hoàn thành và đánh giá tốt.
Trong công tác nghiên cứu, ở Việt Nam những năm gần đây cũng đã có một
số cán bộ khoa học công nghệ đi sâu nghiên cứu các hệ thống ô tô đặc biệt là HTL và
hệ thống phanh. Nhóm các cán bộ nghiên cứu của các trường Đại học cũng đã có
nhiều nỗ lực ứng dụng các phần mềm chuyên dụng như Alaska 2.3, Sap 90,
Simulink trong quá trình nghiên cứu ô tô. Việt Nam chúng ta đang xây dựng nền
công nghiệp ô tô ở giai đoạn lắp ráp và tiến hành chương trình nội địa hóa các cụm chi
tiết và phụ tùng ô tô xe máy. Trong đó cũng có một số công trình nghiên cứu đã được
công bố như:
* Thạc sĩ Lê Thanh Nhàn [4], Nghiên cứu thiết kế chế tạo ECU điều khiển trợ
lực lái điện (xem hình 1.1). Nội dung nghiên cứu chủ yếu của đề tài:
- Đề tài đã giới thiệu một cách khái quát các hệ thống lái điều khiển trợ lực,
Đề tài có nhiều tính năng mới nổi bật về ứng dụng phần mềm LabVIEW điều
khiển, tạo cảm giác lái dựa trên sức cản mặt đường. Tuy nhiên, đề tài cũng còn một số
hạn chế về kỹ thuật, an toàn như: Truyền động không thông qua trục lái nên tính năng
về độ tin cậy của hệ thống chưa cao, đề tài chỉ dừng lại ở mức độ mô hình và thực
nghiệm chưa ứng dụng được vào thực tế. Hình 1.1. Mô hình thiết kế
hộp ECU điều khiển hệ
thống lái trợ lực điện [4]
7
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu khác như: GS.TSKH Đỗ Sanh
cũng lãnh đạo một nhóm nghiên cứu về động học, động lực học trong đó có một phần
nghiên cứu về động học quay vòng xe ở tốc độ cao. Thạc sĩ Nguyễn Hồng Vũ với đề
tài tính toán động lực học quay vòng cho bánh xe dẫn hướng
Trong thời gian qua, việc giảng dạy về HTL ô tô có trợ lực điện ở nước ta còn
gặp nhiều khó khăn là do mảng thiết bị và mô hình dạy học của hệ thống chưa nhiều,
giá thành của các thiết bị ngoại nhập khá cao, nhiều trường khó có thể trang bị. Việc
nghiên cứu và chế tạo các mô hình phục vụ cho việc giảng dạy và nghiên cứu vẫn còn
ở quy mô nhỏ, phần lớn là do nhu cầu cấp thiết của công tác giảng dạy nên tự thiết kế
và thi công trên các thiết bị sẵn có. Một số công ty sản xuất đồ dùng dạy học ở nước ta
cũng đã nghiên cứu chế tạo nhiều thiết bị, mô hình dạy học về HTL ô tô có trợ lực
điện trên cơ sở các chi tiết và thiết bị nhập từ nước ngoài về, nhưng rất đơn giản, phần
lớn là chỉ dùng để dạy về cấu tạo và giới thiệu về nguyên lý hoạt động cơ bản của hệ
thống. Các mô hình này thiếu một số chức năng cần thiết để học tập và nghiên cứu trên
mô hình, như không quan sát được các chế độ hoạt động của hệ thống, không đo kiểm
được một số thông số cơ bản …
Nhìn chung, với các thiết bị và mô hình đã có, chưa thể đáp ứng được nhu cầu
giảng dạy và nghiên cứu ở nước ta hiện nay về hệ thống lái ô tô có trợ lực điện.
1.3. Mục tiêu của đề tài:
nối máy tính theo ngôn ngữ lập trình Visual Basic.
9
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1. Chức năng, nhiệm vụ của hệ thống lái
- Hệ thống lái có chức năng điều khiển quỹ đạo chuyển động của xe theo một
hướng nhất định tùy theo tác động của người lái. Việc điều khiển quỹ đạo chuyển động
của xe có thể là duy trì phương chuyển động hoặc thay đổi phương chuyển động hiện
tại của xe. Hai quá trình này được gọi chung là quay vòng xe.
- Hệ thống lái có nhiệm vụ dẫn hướng xe nhưng phải đảm bảo khi ô tô quay
vòng mà các bánh xe dẫn hướng không bị trượt lết hay trượt quay và luôn ổn định
trong suốt quá trình xe hoạt động.
2.2. Tính năng dẫn hướng của hệ thống lái
Tính năng dẫn hướng của ô tô dựa trên cơ sở lý thuyết sau:
Khi ô tô quay vòng thì đường vuông góc với véctơ vận tốc chuyển động của
tất cả các bánh xe phải gặp nhau tại một điểm (động học quay vòng).
Để đảm bảo khi ô tô quay vòng mà các bánh xe dẫn hướng không bị trượt lết
hay trượt quay thì đường vuông góc với véctơ vận tốc chuyển động của tất cả các bánh
xe phải gặp nhau tại một điểm (P). Điểm đó gọi là tâm quay tức thời (hình 2.1) Hình 2.1. Ô tô quay vòng [1]
a. Ô tô hai trục – 2 bánh xe phía trước dẫn hướng;
b. Ô tô hai trục – 2 bánh xe phía sau dẫn hướng;
c. Ô tô hai trục – 4 bánh xe dẫn hướng;
d. ô tô bốn trục – 4 bánh xe phía trước dẫn hướng.
Giả sử ô tô hai trục, trục trước dẫn hướng có thông số kích thước như hình 2.2
10
PC
AD
PD
CotgCotgβ
L
B
CotgCotgβ
Trong đó:
B – khoảng cách hai tâm trục trụ cam xoay;
L – khoảng cách hai tâm trục cầu
Như vậy: Trong ô tô có hai trục - hai bánh xe dẫn hướng phía trước, để các
bánh xe khi quay vòng không bị trượt lết hay trượt quay thì phải thỏa mãn biểu thức:
L
B
CotgCotgβ
Dẫn hướng của ô tô phải ổn định
Tính năng dẫn hướng của ô tô phải ổn định có nghĩa là các bánh xe dẫn hướng
có khả năng giữ được vị trí ban đầu ứng với ô tô chuyển động thẳng hoặc tự quay về vị
trí này sau khi các bánh xe dẫn hướng bị lệch.
Tính ổn định của bánh xe dẫn hướng được duy trì dưới tác dụng của các thành
phần:
Z
1
.sinβ.cosθ nằm trong mặt phẳng đi qua đường tâm của cam xoay;
Z
1
.sinβ.sinθ nằm trong mặt phẳng giữa của bánh xe dẫn hướng.
Như vậy, mômen ổn định được tạo ra bởi tác dụng của phản lực thẳng đứng
mặt đường Z
1
và độ nghiêng ngang β của trụ quay đứng:
M
Zβ
= b
n
.Z
1
.sinβ.sinθ
Với: b
n
- khoảng cách từ tâm mặt phẳng tựa của bánh xe đến trục của trụ quay
đứng
12
Nhận xét:
Muốn mômen ổn định M
Zβ
thì tăng góc β của bánh xe dẫn hướng. Ý nghĩa chủ
yếu của mômen này là làm cho các bánh xe dẫn hướng tự động quay về vị trí trung
gian sau khi thực hiện quay vòng.
Phản lực bên
yγ
=P
y
. r
b
.sinγ
M
yγ
có xu hướng làm quay bánh xe trở về vị trí trung gian khi lệch khỏi vị trí
này.
Khi quay vòng, người lái phải tạo ra thêm một lực để khắc phục mômen này,
vì vậy góc γ thường không lớn, trị số của góc γ đối với ô tô hiện nay là (0÷3)°.
Mômen ổn định M
yγ
không phụ thuộc vào góc xoay của bánh xe dẫn hướng.
Phản lực tiếp tuyến
13
Khi ô tô chuyển động thẳng, hai bánh xe dẫn hướng có thể chụm lại hoặc mở
ra (hình 2.5) do lực cản lăn tiếp tuyến với mặt đường gây nên.
Hình 2.5 thể hiện độ chụm của bánh xe dẫn hướng.
Hình 2.5. Sơ đồ độ chụm của bánh xe dẫn hướng [1]
Khi phía trước của hai bánh xe gần nhau hơn phía sau của hai bánh xe khi nhìn
từ trên xuống thì gọi là độ chụm đầu (sự bố trí ngược lại gọi là độ mở).
Độ chụm được xác định bằng hiệu số của hai khoảng cách giữa các đầu nút trước (A)
và sau (B) của vành bánh xe nằm ở chiều cao tâm bánh xe.
Công dụng của độ chụm: ngăn ngừa khả năng gây ra độ chụm âm do tác động
của lực cản lăn khi xuất hiện những khe hở và đàn hồi trong hệ thống trục trước và dẫn
động lái.
2.3. Công dụng và phân loại hệ thống lái trợ lực