Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
Trờng Đại Học S Phạm TP. Hồ Chí Minh
Quách Văn Dũng Vai Trò Của Tây Ninh trong cuộc
KHáNG chiến chống Mỹ và chế độ tay
sai ở miền Nam Việt Nam
(1954-1975)
Luận văn thạc sĩ Lịch sử
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54
Luận văn thạc sĩ Lịch sử
Ngời hớng dẫn khoa Học
TS. Lê Phụng Hoàng Thành phố Hồ Chí Minh- 2007Lời cảm ơn
Trớc hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trờng Đại học S phạm Thành
phố Hồ Chí Minh, phòng Khoa học Công nghệ - Sau đại học, Th viện Trờng. Tôi xin trân
trọng cảm ơn quý thầy cô Khoa Sử trờng Đại học s phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp
Chơng 2: Vai trò của Tây Ninh trong giai đoạn
chiến tranh đặc biệt (1961-1965) ............................................... 34
2.1. Tây Ninh đẩy mạnh xây dựng lực lợng kháng chiến ....................................... 34
2.2. Tây Ninh là căn cứ của các cơ quan đầu não lãnh đạo cuộc kháng chiến
ở miền Nam ....................................................................................................... 38
2.3 Quân dân Tây Ninh chống Chiến tranh đặc biệt (1961-1965) ........................... 53
2.3.1. Mỹ- Diệm thực hiện Chiến tranh đặc biệt ở Tây Ninh.............................. 53
2.3.2. Quân dân Tây Ninh chống Chiến tranh đặc biệt ....................................... 58
Chơng 3: Vai trò của Tây Ninh trong giai đoạn
chiến tranh cục bộ của Mỹ (1965-1968) ................................ 62
3.1. Chiến tranh cục bộ của Mỹ tiến hành trên đất Tây Ninh .................................. 62
3.1.1. Mỹ triển khai Chiến tranh cục bộ ............................................................. 62
3.1.2. Khó khăn của ta khi Mỹ triển khai Chiến tranh cục bộ ........................... 64
3.2. Tây Ninh củng cố và phát triển vùng kháng chiến ........................................... 65
3.3. Quân dân Tây Ninh góp phần đánh bại Chiến tranh cục bộ của Mỹ ............... 70
3.3.1. Quân dân Tây Ninh góp phần đánh bại cuộc phản công mủa khô 1965-1966 70
3.3.2. Quân dân Tây Ninh góp phần đánh bại cuộc phản công mủa khô 1966-1967 75
3.3.3. Quân dân Tây Ninh góp phần đánh bại các cuộc hành quân lớn ............. 78
3.4. Tây Ninh trong Tổng tiến công và nổi dậy năm Mậu Thân 1968 ..................... 89
Chơng 4: Vai trò của Tây Ninh trong giai đoạn việt nam
hoá chiến tranh và sau hiệp định paris (1969-1975) ...... 96
4.1. Tây Ninh chống trả chiến lợc Việt Nam hoá chiến tranh ................................ 96
4.1.1. Chiến lợc Việt Nam hoá chiến tranh....................................................... 96
4.1.2. Tây Ninh đẩy mạnh phát triển lực lợng kháng chiến............................98
4.1.3. Tây Ninh đánh bại Việt Nam hoá chiến tranh......................................... 103
4.2 Tây Ninh chống trả kế hoạch tràn ngập lãnh thổ của chính quyền Sài Gòn ..... 105
4.2.1. Kế hoạch Tràn ngập lãnh thổ ................................................................. 105
4.2.2. Xây dựng vùng giải phóng ...................................................................... 106
4.2.3. Quân dân Tây Ninhliên tục tấn công và nổi dậy tự lực giải phóng ......... 110
kết luận ................................................................................................................. 118
chống Pháp và nhân dân có truyền thống yêu n
ớc. Khu căn cứ Dơng Minh Châu- Bắc Tây
Ninh mở rộng lên sát vùng biên giới Campuchia, còn còn đợc gọi là căn cứ khu B. Khu căn
cứ là một vùng rừng rậm, bằng phẳng, có chiều sâu tiện lợi để xây dựng các căn cứ lớn. Việc
khu căn cứ dựa lng vào biên giới Campuchia cũng có nhiều thuận lợi vì thời gian này Chính
phủ Sihanuc đang thực hiện chính sách ngoại giao ốc đảo hoà bình, chủ trơng quan hệ
hữu hảo với các nớc láng giềng mà không phân biệt chế độ chính trị nhằm duy trì một đất
nớc hoà bình giữa một bán đảo chiến tranh. Ngoài ra, đồng bào Việt kiều ở Campuchia
đang sinh sống sát biên giới- nơi Xứ uỷ thờng xuyên qua lại hoạt động, họ rất tích cực ủng
3
hộ cách mạng; trong khi vùng ruột Bắc Tây Ninh hầu nh không có dân thì có một số ít xóm
dân vùng ven nh Lò Gò, Xóm Giữa, Tà Păngđã theo cách mạng thời kháng chiến chống
Pháp nên là chỗ dựa quan trọng cho việc tiếp tế và bảo vệ căn cứ.
Do vị trí, điều kiện tự nhiên, dân c quan trọng và thuận lợi nên chúng ta đã xây dựng
ở Tây Ninh những cơ sở chính trị, những căn cứ vững chắc nhằm tạo nên thế đứng chân lợi
hại để ta có thể thờng xuyên tiến công trực tiếp trung tâm đầu não của địch tại Sài Gòn và
hỗ trợ đắc lực cho phong trào đấu tranh của nhân dân trên khắp các đô thị miền Nam. Vì thế,
Khu căn cứ Dơng Minh Châu tỉnh Tây Ninh đợc chọn làm căn cứ Quân uỷ và Bộ Chỉ huy
Miền, căn cứ Trung ơng Cục miền Nam, căn cứ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam
Việt Nam, căn cứ Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam để trực tiếp
lãnh đạo cách mạng miền Nam trong cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc.
Khu B tuy xa Trung bộ hơn khu A (chiến khu Đ) nhng rất thuận tiện trong liên lạc ra Bắc,
xuống khu VII (Sài Gòn- Gia Định), khu VIII và khu IX (đồng bằng sông Cửu Long); thuận
lợi trong công tác hậu cần.
Vị trí chiến lợc quan trọng của Tây Ninh còn đợc chính quyền Diệm- Nhu xác
nhận bằng sự kiện: ngày 15-10-1963, nguỵ quyền Sài Gòn cắt huyện Trảng Bàng của Tây
Ninh, huyện Đức Hoà và Đức Huệ của Long An, huyện Củ Chi của tỉnh Gia Định thành lập
tỉnh mới lấy tên là tỉnh Hậu Nghĩa để củng cố tuyến phòng thủ Tây Bắc Sài Gòn, đối phó với
giữ gìn, xây dựng, phát triển quê hơng Tây Ninh cùng sánh vai với các địa phơng trong cả
nớc thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc.
Với lý do trên và bản thân là ngời đợc sinh ra, lớn lên trên đất Tây Ninh giàu
truyền thống nên tôi chọn đề tài Vai trò của Tây Ninh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
và chế độ tay sai ở miền Nam Việt Nam (1954-1975) để nghiên cứu. Đề tài hy vọng góp
phần nhỏ vào hiểu thêm lịch sử Tây Ninh, đồng thời nó là nguồn t liệu giáo dục của địa
phơng.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
*Cuộc chiến tranh xâm lợc của Mỹ ở Việt Nam và cuộc chiến tranh cách mạng mà
nhân dân Việt Nam tiến hành chống Mỹ thực chất là một cuộc đụng đầu lịch sử. Vì thế, khi
Mỹ thất bại tại Việt Nam, giới nghiên cứu trong và ngoài nớc- kể cả nớc Mỹ- đã quan tâm
nghiên cứu về cuộc chiến tranh này và đã cho ra đời nhiều công trình, nhiều tác phẩm với
những cái nhìn từ nhiều góc độ khác nhau của cuộc chiến nh :
Giáo s Trần Nhâm với Cuộc đấu trí ở tầm cao của trí tuệ Việt Nam. Tác phẩm
phân tích về cuộc chiến tranh chống Mỹ mà Việt Nam giành thắng lợi cuối cùng là một cuộc
đấu về trí của Việt Nam về mọi mặt với đế quốc Mỹ để từng bớc đánh bại các âm mu
chiến lợc của Mỹ.
Đại tớng Văn Tiến Dũng với Về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc. Tác phẩm
này là sự bổ sung, hoàn chỉnh của hai cuốn sách mà tác giả viết trớc đó: Bớc ngoặt lớn
của cuộc kháng chiến chống Mỹ, viết năm 1989; Cuộc kháng chiến chống Mỹ- Toàn
thắng, viết năm 1991. Nội dung chủ yếu của tác phẩm là: thứ nhất, nói về nhiệm vụ đánh
thắng quân viễn chinh Mỹ và đánh bại chiến lợc Chiến tranh cục bộ của chúng đã tạo ra
5
bớc ngoặt có tính chiến lợc của cuộc kháng chiến chống Mỹ; thứ hai, nói về việc đánh bại
chiến lợc Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, làm thất
bại hoàn toàn âm mu xâm lợc của Mỹ đối với Việt Nam.
Viện lịch sử quân sự với Đại thắng mùa Xuân 1975 nguyên nhân và bài học;
Nguyễn Huy Toàn với 30 năm chiến tranh cách mạng Việt nam 1945-1975; Đại tớng Lê
6
điểm thực hiện. Quá trình đó còn là những chiến công oanh liệt, là những trang sử hào hùng
trong lịch sử dân tộc và lịch sử địa phơng Tây Ninh.
Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Tây Ninh với Ba thế hệ xanh- Một
chặng đờng. Đây là một ký sự lịch sử ghi lại quá trình chiến đấu đầy khó khăn gian khổ
nhng rất anh hùng của tuổi trẻ và nhân dân Tây Ninh để Tây Ninh có đợc một lịch sử
trung dũng kiên cờng. Công trình là một tập hợp những hồi ký của những ngời đã từng
trực tiếp tham gia chiến đấu trong chiến tranh và là cán bộ lãnh đạo của Tỉnh khi chiến tranh
kết thúc.
Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh với công trình Địa chí Tây Ninh. Công trình này do
Sở Văn hoá- Thông tin Tây Ninh kết hợp Viện khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ
Chí Minh thực hiên dới dạng tỉnh chí. Nội dung chủ yếu của công trình là ghi chép, miêu
tả, giới thiệu những hình ảnh- sự kiện cơ bản nhng khá toàn diện về vùng đất Tây Ninh xa
và nay. Đó là: giới thiệu về đặc điểm của tự nhiên; các cộng đồng c dân đã từng có mặt,
sinh sống trên đất Tây Ninh; ghi lại quá trình hình thành, thay đổi địa giới hành chính của
tỉnh và các địa phơng trong tỉnh qua từng thời kỳ lịch sử; hệ thống lại truyền thống kiên
cờng bất khuất, sự hy sinh anh dũng của quân dân trong tỉnh qua các thời kỳ lịch sử chống
ngoại xâm; giới thiệu về quá trình hình thành và phát triển về kinh tế, đời sống, văn hoá, xã
hội, những con ngời và di tích lịch sửcủa Tây Ninh.
Ban khoa học lịch sử quân sự Tỉnh đội Tây Ninh với Lịch sử lực lợng võ trang tỉnh
Tây Ninh (1945-1975) (2 tập). Công trình nghiên cứu đã phát hoạ lại bức tranh quá trình
hình thành, phát triển, chiến đấu và trởng thành của lực lợng võ trang Tây Ninh đới sự
lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tây Ninh. Đặc biệt, Tập 2 của công trình đã nghiên cứu rất chi
tiết, cụ thể về cuộc chiến đấu của lực lợng vũ trang Tây Ninh chống lại các chiến lợc
chiến tranh xâm l
ợc của Mỹ, lập nên những chiến thắng trên đất Tây Ninh.
Ban Tuyên huấn của Huyện uỷ các huyện- thị xã trong tỉnh đều nghiên cứu biên soạn
về Lịch sử cách mạng của địa phơng mình. Nội dung các công trình này chủ yếu là nói về
quá trình xây dựng và chiến đấu của địa phơng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ dới sự
lãnh đạo của Đảng bộ địa phơng.
năm 1975.
Không gian nghiên cứu đợc xác định là địa bàn tỉnh Tây Ninh theo sự phân chia
ranh giới của chính quyền Sài Gòn.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các vấn đề:
-Vị trí chiến lợc của Tây Ninh trong cuộc kháng chiến và những thắng lợi của quân
dân Tây Ninh đánh bại cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành trên đất Tây Ninh.
-Những đóng góp của Tây Ninh trên các lĩnh vực để tạo thế và lực cho cách mạng
giành thắng lợi.
-Phân tích khái quát mối liên hệ giữa địa phơng (Tây Ninh) với miền Nam trong
chiến tranh để xác định sự đóng góp của địa phơng vào thắng lợi chung.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
8
Với để tài Vai trò của Tây Ninh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và chế độ tay sai
ở miền Nam Việt Nam (1954-1975), tác giả xác định những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản
sau:
-Nghiên cứu lý luận liên quan đến chiến tranh; những văn bản chỉ đạo, lãnh đạo tiến
hành cuộc chiến tranh chống Mỹ của Đảng; mối quan hệ lịch sử địa phơng- lịch sử dân tộc
trong tiến trình phát triển lịch sử.
-Nghiên cứu cuộc chiến tranh Mỹ tiến hành ở miền Nam từ năm 1954 đến năm 1975.
-Những thắng lợi của quân dân miền Nam đánh bại cuộc chiến tranh xâm lợc của
Mỹ dới sự lãnh đạo của Đảng từ năm 1954 đến năm 1975.
-Vai trò của Tây Ninh và những thắng lợi của quân dân Tây Ninh trong cuộc chiến
tranh chống Mỹ và tay sai ở miền Nam từ 1954 đến 1975 dới sự lãnh đạo của Đảng bộ Tây
Ninh.
-Phân tích, khái quát để thấy đợc những đóng góp của Tây Ninh vào thắng lợi của
cuộc chiến tranh chống Mỹ và tay sai ở miền Nam.
5. Phơng pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, trong quá trình nghiên cứu tác giả đã sử dụng những quan điểm
cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở phơng pháp luận cho việc xem xét, đánh giá
Tiến hành nghiên cứu đề tài Vai trò của Tây Ninh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
và chế độ tay sai ở miền Nam Việt Nam (1954-1975) nhằm:
-Hiểu rõ hơn về cuộc chiến tranh xâm lợc của Mỹ tiến hành ở miền Nam.
-Thấy đợc Quân dân miền Nam nói chung và Tây Ninh nói riêng đã tiến hành cuộc
chiến tranh nhân dân chống lại chiến tranh xâm lợc của Mỹ và chế độ tay sai đi đến thắng
lợi nh thế nào?
-Thấy đợc những đóng góp của Tây Ninh vào thắng lợi của cuộc chiến tranh chống
Mỹ và chế độ tay sai ở miền Nam, góp phần đa lịch sử dân tộc sang trang mới.
-Góp phần làm sáng tỏ về lịch sử địa phơng và sử dụng nó làm t liệu giáo dục của
địa phơng.
7. Cấu trúc luận văn:
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có bốn
chơng:
Chơng 1: Tình hình Tây Ninh đến trớc năm 1960.
Chơng 2: Vai trò của Tây Ninh trong giai đoạn từ năm 1961 đến 1965.
Ch
ơng 3: Vai trò của Tây Ninh trong giai đoạn từ năm 1965 đến 1968.
Chơng 4: Vai trò của Tây Ninh trong giai đoạn từ năm 1969 đến 1975.
10
Chơng 1
Tình hình Tây Ninh đến trớc năm 1960
1.1. Sơ lợc quá trình thành lập tỉnh Tây Ninh
1.1.1.Thời kỳ từ năm 1945 về trớc
Vào đầu thế kỷ XVII, mảnh đất Tây Ninh vẫn còn là một vùng rừng rậm hoang vu và
đầy thú dữ, dân c bản địa rất tha thớt. Với điều kiện tự nhiên về địa hình, đất đai, khí hậu,
sông ngòi, rừng nguyên sinh và các nguồn tài nguyên khác nên đây là nơi có tiềm năng vô
tận mở rộng vòng tay chào đón những c dân đến đây mở đất. Đến năm 1658, những tộc
ngời Việt đầu tiên mới đến đây khai hoang lập ấp và làm ăn sinh sống ở vùng Trảng Bàng
tạo sức mạnh cho các chiến trờng. Tháng 5-1951, Uỷ ban hành chánh kháng chiến Nam bộ
quyết định nhập hai huyện Đức Hoà và Trung Huyện của tỉnh Chợ Lớn với tỉnh Gia Định và
tỉnh Tây Ninh thành tỉnh Gia Định Ninh. Tỉnh này tồn tại cho đến năm 1954.
Cũng trong năm 1951, khu căn cứ địa Trà Vong đợc mở rộng thành huyện căn cứ
địa Dơng Minh Châu thuộc Phân liên khu miền Đông và Xứ uỷ Nam bộ chỉ đạo kháng
chiến. Để thuận lợi hơn trong chỉ đạo kháng chiến, huyện Khăn Xuyên đợc nhập vào huyện
Châu thành năm 1953.
Nh vậy, đến năm 1954, tỉnh Tây Ninh có ba huyện: Châu Thành, Trảng Bàng và
Dơng Minh Châu.
1.1.3. Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975
*Về phía chính quyền nguỵ Sài Gòn:
Từ sau Hiệp định Geneva đến cuối năm 1955, chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn giữ
nguyên trạng ranh giới hành chính cũ của tỉnh Tây Ninh. Nhng từ đầu năm 1956 trở đi,
nguỵ quyền đã nhiều lần thay đổi ranh giới các quận, xã của tỉnh.
Năm 1956, ấp Phớc Chỉ (huyện Trảng Bàng) bị cắt để nhập về tỉnh Long An do vị trí
giao thông không thuận lợi.
Theo Nghị định 01/BNV/HC-NĐ ngày 3-1-1957, nguỵ quyền Sài Gòn chia tỉnh Tây
Ninh làm ba quận: Châu Thành có 6 tổng; Gò Dầu Hạ có 3 tổng; Trảng Bàng có 1 tổng. Sau
đó, các tổng và xã cũng có sự thay đổi.
Do địa bàn rộng, khó khăn trong quản lý nên năm 1959, chúng chia quận Châu Thành
ra làm hai quận là Phớc Ninh và Phú Khơng; chia quận Gò Dầu Hạ ra làm hai quận là
Hiếu Thiện và Khiêm Hanh.
Năm 1961, quận Trảng Bàng đổi tên thành quận Phú Đức. Năm 1963, cắt xã Bến Củi
của quận Khiêm Hanh để sáp nhập vào huyện Tri Tâm của tỉnh Bình Dơng.
Đến tháng 10-1963, để tăng cờng tuyến phòng thủ hớng Tây Bắc Sài Gòn, nguỵ
quyền đã tách hai quận Đức Hoà và Đức Huệ của tỉnh Long An nhập với quận Phú Đức của
tỉnh Tây Ninh và Củ Chi của Gia Định lập ra tỉnh Hậu Nghĩa.
Với quyết định này của nguỵ quyền thì ranh giới Tây Ninh có sự thay đổi lớn là mất
huyện Trảng Bàng cũ, tỉnh chỉ còn có 4 quận với 8 tổng gồm 46 xã.
1.1.4. Thời kỳ từ năm 1975 đến nay
Trên cơ sở những huyện đợc thành lập trong kháng chiến, năm 1989, Tây Ninh lập
thêm huyện Tân Châu từ một phần đất của huyện Tân Biên và Dơng Minh Châu. Hiện nay
tỉnh Tây Ninh có 1 thị xã và 8 huyện.
13
1.2 Vị trí chiến lợc của Tây Ninh:
Miền Đông Nam bộ ở vào vị trí chuyển tiếp giữa cao nguyên miền Nam với đồng
bằng sông Cửu Long, lng dựa vào dãy Trờng Sơn và vùng rừng núi Nam Đông Dơng,
mặt hớng xuống đồng bằng và biển Đông. Miền Đông Nam bộ có vị trí chiến lựơc quan
trọng cả về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa xã hội và giao lu quốc tế.
Trong thời kỳ 1945-1975, đối với thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nơi đây luôn luôn là
địa bàn mang ý nghĩa sống còn của cuộc chiến tranh xâm lợc. Vùng này tập trung nhiều
tiềm lực kinh tế, hải cảng, sân bay và hệ thống đờng giao thông thủy bộ quan trọng. Đặc
biệt nằm giữa địa bàn miền Đông Nam bộ, thành phố Sài Gòn là đại bản doanh của quân
viễn chinh xâm lợc; là thủ phủ, trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa của chế độ
ngụy quyền; nơi phát ra và chỉ đạo thực hiện các chủ trơng chiến lợc, các kế hoạch- biện
pháp và thủ đoạn chiến thuật của cuộc chiến tranh; nơi bố trí phần lớn lực lợng quân sự với
những đơn vị cơ động chiến lợc sừng sỏ và hệ thống kho tàng dự trữ vật chất kĩ thuật nuôi
sống guồng máy cuộc chiến tranh xâm lợc.
Đối với ta, miền Đông Nam bộ có 3 vùng chiến lợc hoàn chỉnh (đô thị, nông thôn
đồng bằng, nông thôn rừng núi), có hải cảng và bờ biển, có đờng biên giới. Đông Nam bộ
là nơi tập trung với tỉ lệ cao công nhân công nghiệp, công nhân các đồn điền cao su, đồng
bào các dân tộc thiểu số ; nơi hội tụ truyền thống dân tộc và bản lĩnh của những ngời tiên
phong mở đất, có tinh thần đấu tranh kiên cờng trong công cuộc chinh phục thiên nhiên và
chống giặc ngoại xâm; là địa bàn thể hiện sự vận dụng đầy đủ đờng lối quân sự, chính trị
của Đảng ta về tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân toàn diện; là địa bàn có điều
kiện thể hiện một cách trực tiếp truyền thống đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung của hai
dân tộc Việt Nam- Campuchia. Sài Gòn- miền Đông Nam bộ là nơi mở đầu và kết thúc cuộc
kháng chiến chống xâm lợc thời kỳ 1945-1975.
quân bảo vệ căn cứ Xứ ủy. Bộ T lệnh Phân liên khu miền Đông trớc đóng ở chiến khu Đ,
sau cũng dời về căn cứ Dơng Minh Châu.
Địa thế rừng của Tây Ninh rất thuận lợi cho cách mạng miền Nam xây dựng căn cứ,
ém quân, giao thông liên lạc với các khu căn cứ cách mạng ở miền Nam. Trong chiến tranh,
Mỹ-ngụy đã dùng bom đạn và chất độc hóa học phá hoại rừng Tây Ninh nhằm triệt hạ nguồn
lơng thực, khu căn cứ cách mạng, nơi đã từng che chở cho bộ đội nhng làm cho chúng
khiếp sợ.
Trong kháng chiến chống Mỹ, căn cứ Dơng Minh Châu là nơi tập kết-huấn luyện-
thành lập các đơn vị chủ lực của miền Đông Nam bộ nh S đoàn 5, 7, 9 và Trung đoàn 4
độc lập của Miền. Huyện căn cứ Dơng Minh Châu có thế liên hoàn với các căn cứ Bời Lời
của Trảng Bàng; với Bến Đình, Bến Dợc của Củ Chi; với căn cứ Rừng Nhum, Hòa Hội của
Châu Thành tạo thế chân kiềng vững chắc và là bàn đạp để đánh địch có ý nghĩa chiến lợc
trong kháng chiến.
Tây Ninh có đờng biên giới với nớc Campuchia dài 232km. Phía Bắc và phía Tây
của tỉnh giáp các tỉnh Svayriêng, Kôngpôngchàm thuộc vùng Đông Bắc Campuchia. Khu
vực đờng biên giới giũa 2 nớc bằng phẳng, toàn rừng rậm và đồng bằng, có đờng giao
thông thủy bộ thuận tiện; trong lịch sử, nhân dân hai nớc vùng giáp biên có tập quán
15
thờng xuyên qua lại buôn bán làm ăn và có truyền thống đoàn kết đấu tranh chống áp bức-
chống ngoại xâm nên rất thuận lợi trong việc xây dựng căn cứ kháng chiến, di chuyển ém
quân, tiếp tế hậu cần từ miền Bắc vàoso với chiến khu Đ.
Ngoài ra, từ năm 1954 đến năm 1970 chính phủ Campuchia do Sihanuc đứng đầu đã
thực hiện đờng lối hoà bình, trung lập, không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc chính
trị nào. Thế nhng, vào tháng 3-1970, bọn tay sai của Mỹ làm đảo chính lật đổ Sihanuc, đa
Lonnon lên nắm quyền thì nơi đây diễn ra sự phối hợp chiến đấu của 2 dân tộc Việt Nam và
Campuchia cùng chống kẻ thù chung.
Chính điều kiện thuận lợi nêu trên mà Đảng, trực tiếp là Trung ơng Cục, Tỉnh uỷ
Tây Ninh chọn vùng Bắc Tây Ninh làm căn cứ cách mạng, làm nơi đứng chân của các cơ
quan đầu não lãnh đạo cuộc kháng chiến ở miền Nam.
Chính vì trị trí đặc biệt quan trọng này mà Trảng Bàng có lúc bị Mỹ- nguỵ tách khỏi Tây
Ninh, còn ta thì nhập vào đặc khu Sài Gòn- Chợ Lớn.
Vị trí chiến lợc hết sức quan trọng của tỉnh Tây Ninh trong cuộc chiến tranh xâm
lợc của Mỹ- nguỵ ở miền Nam đợc Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nói với các tớng lĩnh
thuộc quyền tại một cuộc họp cấp cao ngày 2-1-1966 của cái gọi là Hội đồng tớng lĩnh,
có tớng Westmoreland- T lệnh các lực lợng quân viễn chinh Mỹ ở Miền Nam Việt Nam
tham dự, Tổng thống xác định Các ông phải nhớ rằng trên toàn bộ 3 vùng chiến thuật, vùng
ngoại vi Thủ đô nơi mà tôi quan tâm nhất là Tây Ninh- chiến trờng này ở vào giai đoạn nào
cũng ác liệt nhất. Phía sau biên địa là Cam-bốt- thánh đờng của Việt cộng, nơi lý tởng cho
Bắc Việt tuồn ngời, tuồn súng đạn, lơng thực vào xâm nhập; nơi chính quyền Bắc Việt
mặc cả với ông Sihanuc, rừng rậm phía Bắc và Tây Bắc tỉnh này là đặc khu của Việt cộng
miền Nam. Chúng ta không thể chấp nhận để Việt cộng đóng đô ở một nơi chỉ cách chúng ta
không đầy 100 cây số. Không chấp nhận tức là chúng ta phải đánh, đánh bằng mọi hoả khí
chúng ta có, đánh bằng Quân lực Việt Nam và bằng lực lợng đồng minh. Tôi cũng tái
khẳng định với các ông rằng: đây là chiến trờng ta phải đánh và phải giữ cho đến khi toàn
thắng Cộng sản ở miền Nam [18, tr.657].
Tây Ninh là vùng đất có truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm từ lâu đời; là căn cứ
đầu não lãnh đạo cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp của Nam bộ. Vì thế, tr
ớc khi hội
nghị Giơnevơ diễn ra, đế quốc Mỹ đã cử tớng Collins dẫn đầu một phái đoàn quân sự và
chính trị sang Việt Nam thị sát tình hình thì Collins đã đến khảo sát Tây Ninh. Ngay khi
Hiệp định Geneva có hiệu lực, Ngô Đình Diệm đa Nguyễn Văn Vàng về làm Tỉnh trởng;
đa 2 tên quan lại Pháp là Đỗ Tờng Thanh làm quận trởng Trảng Bàng và Lâm Văn Huê
làm quận trởng Châu Thành, tiến hành tổ chức lại bộ máy hành chính, t pháp.
Đi đôi với việc xây dựng bộ máy cai trị, Mỹ- Diệm nhanh chóng xây dựng lực lợng
vũ trang từ xã trở lên. Chúng bắt thanh niên vào dân vệ và lập Dân vệ đoàn, đôn dân vệ lên
bảo an và thành lập các s đoàn chủ lực mới. Tháng 9-1954, Diệm cấp tốc đa trung đoàn
39 thuộc s đoàn chủ lực 13 lên lập căn cứ Tua Hai (còn gọi là thành Nguyễn Thái Học),
cách thị xã Tây Ninh 7 km về hớng Bắc trên đờng lên biên giới Campuchia; đồng thời còn
Tri Phơng giữ đại đồn Chí Hoà; ở vùng Bến Cầu, Lãnh binh Két liên tục đánh địch bằng
hình thức du kích chiến, ban đêm tấn công vào các đồn bót lẻ của Pháp gây nhiều thiệt hại
cho địch; phong trào Thiên địa hội do ông Hồ Văn Ch- Hơng cả đầu tiên của làng An
Tịnh- tổ chức hoạt động chống Pháp. Phong trào quần chúng nổi dậy hoặc ngấm ngầm tổ
18
chức chuẩn bị chống Pháp âm ỉ cho đến ngày có ánh sáng của Đảng Cộng sản Việt Nam rọi
vào Tây Ninh.
Những đốm lửa cách mạng đợc nhen nhóm rồi bùng lên lan rộng khắp tỉnh. Từ tổ
chức Cộng sản Gò Chai, Suối Đá đến những hoạt động của cán bộ đảng viên ở Phớc Chỉ,
Long Khánh, Giồng Nần, Quán Cơm , phong trào cách mạng Tây Ninh đã vợt qua bao
khó khăn, thử thách để xây dựng đội ngũ, tập hợp quần chúng xung quanh Đảng. Đó là sự
chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa Nam kỳ 23-11-1940, đó là thời kỳ chuẩn bị cho tổng khởi
nghĩa cùng cả nớc làm nên Cách mạng tháng Tám năm 1945. Bão táp cách mạng của trên
20 triệu đồng bào cả nớc từ Bắc chí Nam dới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ đã làm nên
cuộc tổng khởi nghĩa long trời lở đất giành chính quyền về tay nhân dân, trong không khí
tng bừng của ngày Quốc khánh 2-9, Bác Hồ đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập
trớc quốc dân đồng bào và thế giới khai sinh nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - Nhà nớc
công nông đầu tiên ở Đông Nam á. Nhng chỉ một tháng sau ngày Quốc khánh, quân dân
Tây Ninh đã phải chuẩn bị cầm súng chiến đấu để bảo vệ chính quyền và giữ vững thành quả
cách mạng. Ngày 8-11-1945, thực dân Pháp đánh chiếm Tây Ninh, bọn phản động- bọn cơ
hội ngóc đầu dậy, quân dân Tây Ninh phải đa con em mình gia nhập lực lợng vũ trang
cách mạng, dang rộng vòng tay đón những đoàn quân Nam tiến cùng đồng bào Nam bộ
tiến hành toàn quốc kháng chiến và thực sự bớc vào cuộc kháng chiến trờng kỳ đầy gian
khổ hy sinh. Quân dân Tây Ninh từ một Chi đội 11 đã xây dựng thành Trung đoàn 311 làm
nòng cốt cho các lực lợng võ trang 3 thứ quân - xây dựng căn cứ địa và chiến khu vững
chắc, củng cố khối đoàn kết toàn dân trong mặt trận Việt Minh, thực hành sản xuất và kháng
chiến- kiến quốc để góp phần cùng cả nớc làm nên chiến thắng Điện Biên chấn động địa
cầu, chấm dứt ách đô hộ ngót một thế kỷ của thực dân Pháp, xứng danh Đất miền Nam
thành đồng Tổ quốc, nơi tuyến đầu đi trớc về sau. Từ đây, Ngời chiến sĩ xung kích của
lớn [18, tr 54]. Bởi thế, chúng ta không có gì ngạc nhiên khi Tây Ninh trở thành một trong
những tỉnh trọng điểm thí điểm chiến lợc chiến tranh của Mỹ- nguỵ và giai đoạn nào chúng
cũng tập trung đánh phá ác liệt nhất. Ngay từ những năm 1955- 1956, Mỹ- Diệm chủ trơng
phải bình định cho đợc Tây Ninh, kiểm soát cho đợc vùng biên giới, địch tập trung xây
dựng hệ thống đờng ngang- dọc, thọc sâu vào khu căn cứ của ta. Để phục vụ cho âm mu
này, nguỵ quyền tỉnh chủ tr
ơng bắt dân đi làm xâu và tuyên truyền trong quần chúng là đi
đắp đờng để Chính phủ mở mang đờng sá, kiến thiết đất nớc.
Thời Mỹ- Diệm nhằm mục đích biến Tây Ninh thành một tiền đồn vững chắc để bảo
vệ cửa ngõ Tây Bắc Sài Gòn, đế quốc Mỹ đã đổ vào đây rất nhiều bom đạn, chất độc hóa học
và các phơng tiện chiến tranh khác hình thành nên một hệ thống đồn bót và căn cứ quân sự
khắp tỉnh. Ngoài việc dùng bom napan và chất độc hóa học hủy diệt rừng, Mỹ- Diệm còn
cho bọn cai thầu khai thác rừng với ý đồ khai hoang phá rừng, phá căn cứ cách mạng và xẻ
đờng ngang dọc chia nhỏ vùng rừng phục vụ cho âm mu quân sự của chúng.
20
Trong khoảng thời gian từ tháng 7-1956 đến tháng 2-1957, ở Tây Ninh địch tiến hành
chiến dịch Trơng Tấn Bửu, đây là một chiến dịch đối với Tây Ninh có thể gọi là những
cuộc càn quét, khủng bố dã man trắng trợn nhất, bằng những thủ đoạn trả thù hèn hạ nhất.
Cuối năm 1956, nguỵ quyền Diệm đa tên Nguyễn Văn Khoái từ Gia Định lên thay tên
Châu Ngọc Thôi làm tỉnh trởng với 2 lý do: Một là tên Thôi trong thời gian cầm quyền ở
Tây Ninh đã tỏ ra bất lực và có dấu hiệu theo đuôi dân trong các thủ đoạn cớp trá hình, bắt
ngời kháng chiến cũ bị dân đấu tranh vạch mặt không dám thẳng tay còn chần chừ. Hai là
đa tên Lê Văn Khoái lên làm tỉnh trởng vì ông ta có kinh nghiệm đàn áp dân ở Gia Định
và có thâm thù với Cộng sản. Đầu năm 1957, nguỵ quyền Tây Ninh cho rà xét lại thành phần
lý lịch tề nguỵ từ ấp- xã đến quận- tỉnh. Chúng sa thải, bắt bớ những ngời chúng tình nghi
là có liên lạc với ta hoặc có thái độ lng chừng, làm việc tiêu cực nhằm rúng ép số còn lại.
Thay vào đó chúng đa bọn cán bộ, công dân vụ, cán bộ thông tin và những tên trong Tổng
đoàn dân vệ về làm uỷ viên cảnh sát ở các Hội đồng hơng chính xã hoặc các trởng, phó
đoàn dân vệ. Phần lớn bọn này là những tên phản động đội lốt Công giáo di dân có chính
cộng, diệt cộng không đem lại kết quả hữu hiệu lý do địa hình rừng rậm, biên giới, chúng
(chỉ lực lợng cách mạng) dễ lẫn trốn lại đợc dân chúng thân cộng che chở. Thiết nghĩ, đối
với một tỉnh lẻ biên thuỳ nh Tây Ninh ta phải có biện pháp mạnh hơn [18, tr.68].
Năm 1959, Mỹ- Diệm ngày càng phát xít hoá bộ máy chính quyền. Chúng ban hành
luật 10/59, công khai lê máy chém đi khắp miền Nam giết hại ngời yêu nớc. Một bầu
không khí ngột ngạt bao trùm tại Tây Ninh khi chúng lập Toà án đặc biệt công khai xử chém
đồng chí Hoàng Lê Kha nhằm uy hiếp tinh thần quần chúng; thế nhng, sự kiện này càng
làm cho lòng căm phẫn của mọi ngời lên cao và quyết vùng lên tìm lối thoát.
1.4.2. Quân dân Tây Ninh chống Chiến tranh một phía
Sau Hiệp định Geneva, phong trào đấu tranh của quần chúng đòi thi hành Hiệp định,
đòi ruộng đất phát triển mạnh trong tỉnh và địch đã thẳng tay đàn áp làm tổn thất lực lợng
ta tổn thất do kẻ thù gây ra rất lớn, ta phải mất nhiều thời gian để gầy dựng lại cơ sở nh
những năm 1955-1956, nhng qua cọ sát với địch, ta càng khẳng định lòng dân đối với cách
mạng. Sức dân nh sức nớc, địch càng đè ép mạnh bao nhiêu thì sức bật dậy bung ra càng
lớn bấy nhiêu. Điều đó chắc chắn sẽ xảy ra trong một tơng lai không xa [18, tr.68].
Địch càng ra sức đánh phá, kìm kẹp, nhân dân ta càng căm thù, càng đoàn kết đấu
tranh. ở nhiều nơi, nguỵ quyền sai bọn dân vệ đến từng nhà bắt dân tập trung học tập tố
cộng, bắt nhân dân ly khai Cộng sản, bắt phụ nữ làm giấy ly dị chồng, làm giấy từ con,
rúng ép ngời kháng chiến cũ ly khai Cộng sản. Bà con ta viện đủ mọi lý do để phản đối
nh: bận lo làm ăn xa, bân con đau, cha mẹ ốm không đi học tập. Nếu bị cỡng ép đến nơi
tập trung thì tìm cách chen lấn nhau, cãi nhau ầm ĩ hoặc để trẻ con la khóc làm mất trật tự.
Trong những năm 1954 đến 1958, địch tăng cờng bắt lính, kìm kẹp, đàn áp dã man
ngời kháng chiến- nhân dân; vừa khủng bố vừa mua chuộc để chia rẽ làm suy yếu lực lợng
cách mạng. Trong tình thế cực kỳ khó khăn, phong trào cách mạng nh sắp tan rã, ngời dân
22
Tây Ninh hàng ngày phải đơng đầu với sự tàn bạo của kẻ thù, nhng với truyền thống bất
khuất và đợc sự giáo dục của Đảng nên đồng bào càng quyết tâm đứng lên chống lại chúng
bằng nhiều hình thức.
hạn chế địch gây tội ác, chú ý bạo lực trong lúc này là ở những trờng hợp thật cần thiết.