Chuyên đề thực tập
LỜI CAM ĐOAN
Qua quá trình thực tập và nghiên cứu tại ngân hàng thương mại cổ phần dầu
khí toàn cầu chi nhánh Ba Đình.Tôi đã viết chuyên đề thực tập" Nâng cao hiệu quả
hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần dầu khí toàn cầu
GPBank đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Ba Đình " .Tôi xin cam
đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi mà không hề sao chép tài liệu của bất kỳ
ai.Mọi sai sót về chuyên đề tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
SVTH: Nguyễn Đình Dương Lớp: Kế Hoạch - 49A
Chuyên đề thực tập
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy giáo, cô giáo khoa
Kế hoach - Phát triển trường Đại học Kinh tế Quốc dân, nhờ sự giảng dạy tận tình
của các thầy giáo, cô giáo mà em đã có được một nền tảng kiến thức cần thiết để
phục vụ cho nghiên cứu và lý luận của mình.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo PGS.TS Ngô Thắng Lợi
đã hết lòng hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình nghiên cứu để em có thể hoàn
thành tốt nội dung của bài viết này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cán bộ nhân viên đang công tác tại
Ngân hàng thương mại cổ phẩn Dầu khí toàn cầu chi nhánh Ba Đình, đặc biệt là
phòng Quan hệ khách hàng của chi nhánh đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho em để
em hoàn thành chuyên đề thực tập này.
SVTH: Nguyễn Đình Dương Lớp: Kế Hoạch - 49A
Chuyên đề thực tập
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SVTH: Nguyễn Đình Dương Lớp: Kế Hoạch - 49A
Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
Những năm gần đây, với việc nhà nước ta khuyến khích mọi thành phần kinh
Chuyên đề thực tập
cầu GPBank đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Ba Đình"
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề thực tập gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hiệu quả hoạt động tín dụng đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng của
GPbank đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Ba Đình.
Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng ngân
hàng của GPbank đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Ba Đình.
SVTH: Nguyễn Đình Dương Lớp: Kế Hoạch - 49A
2
Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNVVN
1.1)Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.1)Ngân hàng thương mại
Căn cứ theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10; luật các tổ
chức tín dụng năm 2010(luật số : 47/2010/QH12) thì:
Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng có thể thực hiện được tất
cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của
Pháp luật Việt Nam nhằm mục tiêu lợi nhuận.Theo số lượng cổ đông thì Ngân hàng
thương mại có 2 hình thức:
Ngân hàng thương mại nhà nước, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên được thành lập do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ(duy
nhất 1 cổ đông).
Ngân hàng thương mại trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức
công ty cổ phần gọi là Ngân hang thương mại cổ phần(có ít nhất từ 2 cổ đông trở
lên).
Mở tài khoản: Ngân hàng thương mại phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân
hàng Nhà nước và duy trì trên tài khoản tiền gửi này số dư bình quân không thấp
hơn mức dự trữ bắt buộc; Ngân hàng thương mại được phép mở tài khoản thanh
toán tại tổ chức tín dụng khác hay tài khoản thanh toán ở nước ngoài theo quy định
của pháp luật về ngoại hối.
Tổ chức và tham gia các hệ thống thanh toán: Ngân hàng thương mại được tổ
chức thanh toán nội bộ, tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng quốc gia, được
tham gia hệ thống thanh toán quốc tế sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp
thuận.
Góp vốn, mua cổ phần: Ngân hàng thương mại chỉ được dùng vốn điều lệ và
quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần theo quy định của Pháp luật Việt nam.
SVTH: Nguyễn Đình Dương Lớp: Kế Hoạch - 49A
4
Chuyên đề thực tập
Tham gia thị trường tiền tệ: Ngân hàng thương mại được tham gia đấu thầu tín
phiếu Kho bạc, mua, bán công cụ chuyển nhượng, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu
Kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ có giá khác trên thị trường
tiền tệ.
Kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối và sản phẩm phái sinh: Ngân hàng
thương mại được kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho khách hàng ở trong nước và
nước ngoài sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
Nghiệp vụ ủy thác và đại lý: Ngân hàng thương mại được quyền ủy thác, nhận
ủy thác, đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo
hiểm, quản lý tài sản theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng thương mại:
Dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn ngân hàng, tài chính; các dịch vụ quản lý, bảo
quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn.
Tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn mua, bán, hợp nhất, sáp nhập doanh
nghiệp và tư vấn đầu tư.
Mua, bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp.
Cho thuê : là việc Ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản cho khách hàng theo
những điều khoản nhất định, sau một thời gian nhất định khách hàng phải trả cả gốc
và lãi cho Ngân hàng.
1.1.3.4) Phân loại theo mục đích sử dụng
Cho vay bất động sản : là loại vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng
bất động sản và nhà ở,đất đại, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương
nghiệp, dịch vụ.
Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh : Là cho vay để bổ xung, ứng vốn lưu
động cho các doanh nghiệp kinh doanh.
Cho vay cá nhân : Là cho cá nhân vay phục vụ mục đích tiêu dùng cá nhân
cho các hàng hóa đắt tiền.
1.1.3.5) Phân loại theo tài sản đảm bảo
Tín dụng có tài sản đảm bảo : Khách hàng khi vay vốn của Ngân hàng có tài
sản của chính khách hàng hoặc có tài sản đảm bảo của bên thứ ba để đảm bảo với
Ngân hàng về khoản vốn vay.
SVTH: Nguyễn Đình Dương Lớp: Kế Hoạch - 49A
6
Chuyên đề thực tập
Tín dụng không có tài sản đảm bảo : loại tín dụng này thường được cung cấp
cho khách hàng có uy tín cao hoặc các khoản vay theo chỉ thị của Chính Phủ mà
Chính Phủ yêu cầu không cần tài sản đảm bảo.
1.2)Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Như trên,chúng ta đã tìm hiểu khái niệm Ngân hàng thương mại và các hoạt
động tín dụng của ngân hàng thương mại.Để hình thành được một quan hệ tín dụng
thì ngoài một bên là ngân hàng thì cần ít nhất một bên nữa là đối tác của ngân hàng
mà theo đề tài này thì đó là doanh nghiệp vừa và nhỏ,vậy nên chúng ta cần tìm hiểu
về DNVVN.
1.2.1)Khái niệm
Căn cứ theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ
quy định về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thì " Doanh nghiệp nhỏ và
tỷ đồng
từ trên 200
người đến
300 người
II. Công nghiệp
và xây dựng
10 người trở
xuống
20 tỷ
đồng trở
xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến
300 người
III. Thương mại
và dịch vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
50 người
từ trên 10 tỷ
đồng đến 50
xe máy, ô tô, tiếp đến là các ngành chế biến, xây dựng và các ngành còn lại như
kinh doanh tài sản, tư vấn, khách sạn, nhà hàng Tùy từng loại hình Doanh nghiệp
mà nhu cầu về nguồn vốn của họ lại khác nhau.Ví dụ như đối với Doanh nghiệp
ngành thương mại,do đặc điểm của mình nên vòng quay vốn của các doanh nghiệp
này nhanh hơn so với các doanh nghiệp khác cho nên nếu họ có nhu cầu vay vốn thì
SVTH: Nguyễn Đình Dương Lớp: Kế Hoạch - 49A
8
Chuyên đề thực tập
thường là vay ngắn hạn.Hay như đối với Doanh nghiệp chế biến, thường là Doanh
nghiệp kinh doanh phụ thuộc nhiều vào thời vụ, nên nhu cầu vốn của họ cũng phụ
thuộc vào thời vụ kinh doanh của Doanh nghiệp.Doanh nghiệp nào nằm trong nhóm
ngành sử dụng nhiều đến hàm lượng máy móc, công nghệ cao thì thường nhu cầu
vốn sẽ cao hơn những doanh nghiệp nằm trong nhóm ngành sử dụng hàm lượng
máy móc, công nghệ ít hơn.
1.2.2.2)Khả năng tiếp cận thông tín tín dụng còn hạn chế
Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ rất yếu kém trong tiếp cận thông tin và các
dịch vụ tín dụng ngân hàng để hỗ trợ kinh doanh. Nguyên nhân một phần là do các
ngân hàng chưa quảng bá tốt các dịch vụ của mình, một phần là do chất lượng
nguồn nhân lực của DN còn thấp, hạn chế về trình độ chuyên môn, tin học, ngoại
ngữ của giám đốc và đội ngũ quản lý doanh nghiệp, một phần là do chậm tiếp
nhận thông tin liên tục thay đổi của thị trường tín dụng nhất là sau khủng hoảng
tài chính toàn cầu vào năm 2008.Vì thế, đôi khi họ vẫn loay hoay trong việc tiếp
cận nguồn vốn bên ngoài.
1.2.2.3)Tính rủi ro trong hoạt động sản xuất - kinh doanh
Trong tình hình hiện nay, với luật đầu tư và luật doanh nghiệp mới, có rất
nhiều các công ty ra đời với quy mô vừa và nhỏ. Sự ra đời của những doanh nghiệp
này đã cho thấy những tác dụng về nhiều mặt của nó đối với đời sống kinh tế xã hội
đất nước. Chúng tạo được nhiều việc làm, tận dụng được nhiêu nguồn lực và hiệu
quả trong kinh doanh qua đó đóng góp rất lớn vào GDP.
Sự hiệu quả của thành phần kinh tế vừa và nhỏ dường như là một mâu
cần được xóa bỏ dần.
Mô hình quản lý, sản xuất kinh doanh teo mô hình gia đình trị không chỉ đối
với DNVVN mà còn đối với cả doanh nghiệp lớn. Tuy nhiên bài viết chỉ đưa ra
những ví dụ về mô hình này tại các DNVVN.
Thứ nhất, trong quản lý, DNVVN thường có mô hình quản lý bố mẹ - con, anh
– em đảm nhận các chức vụ quản lý trong công ty. Việc này gây khó khăn trong
việc quản lý, ra lệnh, định hướng chiến lược kinh sản xuất kinh doanh. Một số công
ty có tên tuổi hiện nay xuất phát từ những doanh nghiệp nhỏ. Họ khởi nghiệp bằng
hoạt động sản xuất, buôn bán nhỏ và sau đó có một vài thành công nhất định, dần
dần làm nâng cao uy tính và quy mô doanh nghiệp
Với xuất phát điểm đó, việc họ không có tổ chức hệ thống quản lý bài bản là
chuyện đương nhiên. Điều này đã trở thành “truyền thống” để các lớp lãnh đạo,
SVTH: Nguyễn Đình Dương Lớp: Kế Hoạch - 49A
10
Chuyên đề thực tập
quản lý sau “kế thừa” công việc chủ chốt ở các công ty đó được giao cho người
trong gia đình, hoặc những người thân tín đảm nhiệm, thường là không có hệ thống
hoạch định, lãnh đạo và kiểm tra chặt chẽ. Lãnh đạo và quản lý tại các công ty này
thường mang đậm dấu ấn cá nhân, phụ thuộc vào quan hệ cá nhân đó. Thông
thường người nào làm được việc thì thường ôm hoặc bị đẩy cho qua nhiều việc đến
dộ làm không xuể. Trong khi có người không phải làm gì cả. Các DNVVN thường
không xây dựng cơ cấu tổ chức các phòng ban, quy trình, quy chế quản lý, tiêu
chuẩn đánh giá, quy chế tính lương, quy chế phân quyền, phân cấp… thì có hiện
tượng: các phòng ban không tích cực hỗ trợ nhau, thiếu đồng bộ dẫn đến tình trạng
tị nạnh, đổ trách nhiệm cho nhau…
Thứ hai: đó là việc sử dụng nhiều hệ thống sổ sách không minh bạch giữa
công ty và gia đình, giữa hệ thống sổ sách kế toán nộp cho cơ quan thuế và hệ thống
số sách kế toán thực.
Chính những lý do trên, mà khi doanh nghiệp đứng ra vay vốn của ngân hàng thì
hầu hết người chủ doanh nghiệp sẽ là người chịu trách nhiệm cao nhất và duy nhất cho
Tín dụng đối với DNVVN phải đảm bảo nguyên tắc trả cả gốc lẫn lãi.Hoạt
động cho vay luôn tiềm ẩn rủi ro, để đảm bảo an toàn hiệu quả trong cho vay và
tránh rủi ro Luật pháp đã qui định những vấn đề về nguyên tắc cho vay, các hạn
chế để đảm bảo an toàn tín dụng, hợp đồng tín dụng, xét duyệt cho vay, kiểm tra
việc sử dụng vốn vay. Ðể hoạt động cho vay của ngân hàng được lành mạnh và
có hiệu quả, các NHTM phải làm tốt việc kiểm tra, đánh giá khả năng hoàn trả
vốn vay của người vay vốn.
Do điều kiện khách quan mà vốn tự có của DNVVN rất ít nên không đủ sức
tài trợ hoạt động mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ,thiết bị cho nên vốn của
Ngân hàng mà Doanh nghiệp sử dụng thường để mở rộng hoạt động sản xuất.
Doanh nghiệp phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được thoả thuận
với Ngân hàng, không trái với quy định của pháp luật. Luật pháp quy định phạm vi
hoạt động cho các NH, và mỗi NH đều có mục đích và phạm vi hoạt động riêng. Do
vậy, khi cho cấp tín dụng trong phạm vi hoạt động của mình, NH yêu cầu DN phải
sử dụng vốn đúng mục đích như đã thoả thuận với NH.
Cho vay dựa trên tài sản bảo đảm là việc cho vay vốn của NHTM mà theo đó
nghĩa vụ trả nợ của khách hàng được cam kết thực hiện bằng tài sản thế chấp, cầm
cố, tài sản hình thành từ vốn vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Việc
SVTH: Nguyễn Đình Dương Lớp: Kế Hoạch - 49A
12
Chuyên đề thực tập
cho vay có tài sản bảo đảm áp dụng đối với khách hàng không có uy tín cao đối với
ngân hàng.Nếu Ngân hàng không dựa vào tài sản bảo đảm thì Ngân hàng sẽ dựa vào
uy tín của khách hàng(đó là người trung thực trong kinh doanh, khả năng tài chính
lành mạnh, có tín nhiệm với ngân hàng trong việc sử dụng vốn vay, hoàn trả nợ
vay…)
Các DNVVN ở Việt Nam thường là mới thành lập, ít có uy tín đối với các
Ngân hàng nên việc vay vốn của Ngân hàng sẽ cần phải có tài sản đảm bảo và tùy
từng Ngân hàng thì sẽ quy định số lượng vốn được vay trên tổng giá trị định giá (do
nhân viên của Ngân hàng định giá) của tài sản được đảm bảo.
Thấu chi doanh nghiệp
: Doanh nghiệp có thể chủ động trong việc bù đắp
sự thiếu hụt nguồn vốn tạm thời nhờ được phép chi vượt số tiền có trên tài
khoản tiền gửi.
Tài trợ dự án : Ngân hàng sẽ cung cấp tài chính cho dự án đầu tư trong đó
Ngân hàng căn cứ chủ yếu vào dòng tiền phát sinh từ dự án để hoàn tất trách nhiệm
tài chính, và căn cứ vào chính tài sản và năng lực sinh lợi của dự án là giá trị bảo
đảm các trách nhiệm tài chính.
Dịch vụ bảo lãnh: Theo yêu cầu của DN, Ngân hàng phát hành một cam kết
bằng văn bản với một bên thứ ba do khách hàng chỉ định (bên được bảo lãnh) về
việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho DN khi DN không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên thụ hưởng bảo lãnh. DN phải nhận nợ
và hoàn trả cho Ngân hàng số tiền đã được trả thay.Các loại bảo lãnh:
Bảo lãnh dự thầu.
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước.
Bảo lãnh thanh toán.
Bảo lãnh vay vốn.
Bảo lãnh đảm bảo chất lượng SP.
Bảo lãnh đối ứng.
SVTH: Nguyễn Đình Dương Lớp: Kế Hoạch - 49A
14
Chuyên đề thực tập
Xác nhận bảo lãnh.
Dịch vụ thanh toán trong và ngoài nước:Ngân hàng nhận chuyển tiền cho các
DN để thanh toán các khoản thu chi của doanh nghiệp trong phạm vi lãnh thổ và
liên quốc gia.Các loại thanh toán như : Thanh toán mua nguyên vật liệu, thanh toán
tiền lương nhân viên qua thẻ tín dụng
Sản phẩm tiền gửi và giấy tờ có giá; Ngân hàng nhận gửi và nhận tài sản đảm
tiêu dùng cá nhân cho các hàng hóa đắt tiền.Khoản vay này không dành cho
DNVVN.
Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: Là cho vay để bổ xung, ứng vốn lưu
động cho các doanh nghiệp kinh doanh. Đối với từng loại hình doanh nghiệp và
tùy từng nhu cầu vốn của doanh nghiệp mà ngân hàng có các khoản vay thích
hợp cho DN:
Cho vay dựa trên hàng tồn kho và các khoản phải thu: Dành cho DN muốn bổ
sung vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nhưng thiếu tài
sản bảo đảm.
Cho vay doanh nghiệp xây lắp : Dành cho khách hàng là doanh nghiệp xây lắp
với những sản phẩm cho vay : Cho vay vốn lưu động thi công công trình, Cho vay
đầu tư máy móc thiết bị, các loại bảo lãnh
Cho vay khách hàng ngành phân phối: Ngân hàng sẽ hỗ trợ về tài chính để xây
dựng cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động kinh doanh hay hỗ trợ vốn lưu động và
cung cấp các dịch vụ Ngân hàng để phục vụ cho quá trình luân chuyển hàng hoá,
tiền tệ của khách hàng ngành phân phối.
Cho vay khách hàng ngành dược và y tế : nhằm hỗ trợ các bệnh viện, các
doanh nghiệp trong ngành dược và y tế về tài trợ vốn đầu tư, xây dựng và mua sắm
các thiết bị y tế.
Cho vay khách hàng ngành Công nghệ thông tin - Viễn thông : Dành cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ cung cấp vật tư, thiết bị, dịch vụ thuộc ngành Công nghệ
thông tin - Viễn thông; dành cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cho
các đơn vị hành chính sự nghiệp có sử dụng Ngân sách nhà nước, các Ngân hàng, tổ
chức tài chính…
Phân loại theo tài sản đảm bảo: Gồm có tín dụng có tài sản đảm bảo và tín
dụng không có tài sản đảm bảo.Thông thường, tín dụng giữa Ngân hàng và các
SVTH: Nguyễn Đình Dương Lớp: Kế Hoạch - 49A
16
Chuyên đề thực tập
DNVVN là loại tín dụng có tài sản đảm bảo.
về thì Ngân hàng sẽ bị thua lỗ.
Tổng dư nợ đối với DNVVN nếu được so sánh qua các thời kỳ còn phản ánh
sự tăng giảm chủng loại và quy mô tín dụng ngân hàng đối với DNVVN.
Chỉ tiêu Tổng dư nợ nếu đứng một mình thì sẽ có ít ý nghĩa nhưng ta có thể
kết hợp với các chỉ số khác để xem xét các vấn đề khác.
-Chỉ tiêu Tỷ lệ dư nợ đối với DNVVN trên tổng nguồn vốn cho vay
Chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ đối với DNVVN là số tương đối được tính theo công thức:
Dư nợ DNVVN
Tỷ lệ dư nợ DNVVN = x100
Tổng nguồn vốn cho vay
Chỉ tiêu này cho biết tỷ trọng đầu tư vào cho DNVVN vay của Ngân hàng so
với tổng nguồn vốn cho vay, hay là dư nợ cho DNVVN vay chiếm bao nhiêu phần
trăm trong tổng nguồn vốn cho vay được sử dụng của Ngân hàng. Chỉ tiêu này luôn
nhỏ hơn 1.Chỉ tiêu này càng cao càng tốt nhưng nếu cao quá thì Ngân hàng có nguy
cơ mất cân bằng giữa các khách hàng.
1.4.2.2)Các chỉ về tiêu lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN.
-Chỉ tiêu về tổng lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN;
Chỉ tiêu này là số tuyệt đối phản ánh tổng lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng
đối với DNVVN trong một thời gian nhất định( tháng, quý hay năm).Chỉ số này
phản ánh quy mô về lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng cho các DNVVN.Chỉ
số này càng lớn chứng tỏ hiệu quả hoạt động tín dụng đối với DNVVN càng cao,
ngân hàng thu được càng nhiều lợi nhuận từ việc cho DNVVN vay và ngược lại.Chỉ
tiêu này còn được xem xét qua các năm để thấy được tốc độ tăng trưởng lợi nhuận
từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN.
-Chỉ tiêu tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN trên tổng lợi
nhuận của ngân hàng: Chỉ tiêu này là số tương đối được tính theo công thức:
Tổng LN(DNVVN)
SVTH: Nguyễn Đình Dương Lớp: Kế Hoạch - 49A
18
Chuyên đề thực tập
cùng một thời điểm hoặc ngược lại.
Nợ xấu:
Theo Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 (có hiệu lực ngày
17/03/2005) của Thống đốc NHNN VN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của
quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 thì nợ xấu là các khoản nợ quá hạn từ 91
ngày trở lên.
Hoặc theo cách hiểu về mặt lợi ích của ngân hàng thì nợ xấu là nợ mà khách hàng
không có khả năng trả nợ và việc phát mãi tài sản đảm bảo không đủ hoặc dự án của
khách hàng không thực hiện được và không có nguồn trả nợ. Nợ xấu có thể xuất hiện
vào bất kỳ thời gian nào trong thời hạn cho vay một khi đã được xác định là khách
hàng không có khả năng trả nợ và các tài sản thế chấp không đủ để trả cho ngân hàng.
Cách thức xem xét chỉ tiêu nợ xấu cũng khá giống như chỉ tiêu nợ quá hạn;
Chỉ tiêu tổng nợ xấu của DNVVN: là số tuyệt đối phản ánh chất lượng hoạt
động tín dụng của các khoản vay của DNVVN.Chỉ số càng thấp thì càng tốt.
Chỉ tiêu tỷ lệ Nợ xấu của Ngân hàng đối với DNVVN:
Tổng nợ xấu (DNVVN)
TL nợ xấu (DNVVN) = x100
Tổng dư nợ đối với DNVVN
Nợ xấu tiêu cực hơn nợ quá hạn, việc phát sinh các khoản nợ xấu là một
nguy cơ phá sản đối với ngân hàng cho nên các ngân hàng đặc biệt tránh phát sinh
các khoản nợ xấu.
1.4.2.4)Các chỉ tiêu về thời hạn tín dụng đối với DNVVN
Thời hạn tín dụng đối với DNVVN gồm có: Ngắn hạn,trung hạn và dài
hạn.Tuy nhiên,tín dụng dài hạn đối với DNVVN rất ít cho nên gộp lại với tín dụng
trung hạn.Chỉ tiêu đánh giá là tỷ lệ tín dụng ngắn hạn trên tổng dư nợ đối với
DNVVN.
Dư nợ tín dụng ngắn hạn
SVTH: Nguyễn Đình Dương Lớp: Kế Hoạch - 49A
20
Với sự phát triển nhanh chóng, Chi nhánh Ba Đình không ngừng mở rộng
phạm vi hoạt động, khai trương thêm nhiều phòng giao dịch trực thuộc, tuyển
dụng thêm đội ngũ nhân sự, phát triển thêm các sản phẩm mới phục vụ nhu cầu của
khách hàng.
Hiện nay, trụ sở của Chi nhánh Ba Đình ở tầng 5 tòa nhà Hanoi Toserco- 273
Kim mã-Ba Đình- Hà Nội với số lượng nhân viên là 110 người và có 10 phòng giao
dịch trực thuộc. Chi nhánh Ba Đình hoạt động kinh doanh đầy đủ các sản phẩm tín
dụng theo quy định của GPBank.
2.1.2) Cơ cấu tổ chức và hoạt động
Chi nhánh GPBank- Ba Đình được thành lập chưa lâu tuy nhiên, với sự phát
triển nhanh chóng GPBank- Ba Đình đã từng bước đi vào hoạt động ổn định, cơ cấu
tổ chức ngày càng được hoàn thiện theo hướng tinh gọn và hợp lý.
Sau đây là sơ đồ tổ chức hoạt động của GPBank chi nhánh Ba Đình:
SVTH: Nguyễn Đình Dương Lớp: Kế Hoạch - 49A
22