i
LỜI CẢM ƠN Trong thời gian thực tập và hoàn thành báo cáo tôi đã nhận được rất nhiều sự
quan tâm, giúp đỡ, sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn: ThS. Lục Minh Diệp, của
Th.S Trương Quốc Thái, Th.S Đàm Bá Long cùng các anh chị kỹ sư và công nhân
của Trung tâm Nghiên cứu và Sản xuất Giống Hải sản Thanh Hóa.
Gia đình cùng bạn bè đã động viên và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình học tập.
Qua đây tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những sự giúp đỡ quý
báu đó.
Nha Trang, tháng 11 năm 2007
Sinh viên thực hiện:
TRỊNH THỊ THU ii
Các thuật ngữ viết tắt
ven biển như: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ
An, Quảng Bình, Nam Định, … Với hình thức nuôi xen hoặc đa canh các đối tượng
thủy sản. Mô hình nuôi một vụ cua, một vụ tôm sú được ứng dụng rộng rãi đã đem
lại hiệu qủa kinh tế cao và phần nào hạn chế được dịch bệnh tôm. Chính vì vậy nhu
cầu con giống ngày càng gia tăng nhưng nguồn cua giống được thu gom chủ yếu từ
tự nhiên chỉ đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu cua giống, còn lại 80% phải trông
chờ vào sinh sản nhân tạo [5].
Năm 2000, Trung tâm Nghiên cứu Thủy Sản III – Nha Trang đã thành công
trong việc nghiên cứu công nghệ sản xuất giống nhân tạo cua biển và đã chuyển
giao công nghệ này cho nhiều địa phương trong nước, góp phần giải quyết một
phần nhu cầu cua giống. Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn như tỉ lệ sống thấp,
không đồng đều và gần đây là dịch bệnh.
2
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi được Khoa NTTS – Trường Đại học Nha
Trang giao cho thực hiện đề tài: “Tìm hiểu kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cua
xanh (Scylla paramamosain Estempado, 1949.) tại Trung tâm Nghiên cứu và
Sản xuất Giống Hải sản Thanh Hóa”.
Với các nội dung chính sau:
1. Tìm hiểu hệ thống công trình, điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất tại
cơ sở.
2. Tìm hiểu kỹ thuật tuyển chọn, nuôi thành thục cua bố mẹ và cho đẻ.
3. Tìm hiểu kỹ thuật ương nuôi ấu trùng.
Hy vọng rằng kết quả đạt được trong quá trình thực hiện đề tài này giúp tôi
làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, củng cố kiến thức đã học, tiếp cận
với thực tế sản xuất để nâng cao tay nghề, đồng thời hiểu biết hơn về quy trình sản
xuất giống nhân tạo cua biển.
Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức bản thân còn hạn chế, bước đầu làm
quen với phương pháp nghiên cứu khoa học nên báo cáo không tránh khỏi những Hình 1.1: Hình ảnh cua xanh S. paramamosain
(Nguồn: )
4
Keenan (1998) đã chia giống Scylla thành 4 loài: S. serrata,
S. paramamosain, S. olivace và S .tranquebarica.
1.2. Một số đặc điểm sinh học của cua biển
1.2.1. Đặc điểm hình thái
Cua có thân hình dẹp theo hướng lưng bụng. Toàn bộ cơ thể được bao
bọc trong lớp vỏ kitin dày và được chia thành hai phần chính:
Phần đầu ngực: là sự liên hợp của 5 đốt đầu và 8 đốt ngực nằm phía dưới
mai. Do ranh giới giữa các đốt không rõ ràng nên việc phân biệt các đốt có thể dựa
vào số phụ bộ trên các đốt: đầu không có mắt, anten và phần phụ miệng. Mai cua to
và phía trước có nhiều răng. Trước mai có hai hốc mắt chứa mắt có cuống và hai
cặp râu nhỏ (a
1
) và râu lớn (a
2
). Trên mai chia thành nhiều vùng bằng những rãnh
trung gian, mỗi vùng là vị trí của mỗi cơ quan. Mặt bụng của phần đầu ngực có các
tấm bụng và làm thành vùng lõm ở giữa để chứa phần bụng gập vào (yếm cua) [2].
Các phần phụ của phần đầu ngực gồm: 1 đôi mắt, đôi râu 1, đôi râu 2, 3, đôi chân
hàm 1-2-3 và 5 đôi chân bò.
Phần bụng: (yếm cua) gập lại phía dưới phần đầu ngực. Phần bụng phân
đốt và tùy từng giới tính, hình dạng và sợ phân đốt cũng không giống nhau
Giai đoạn phát triển Thời gian (ngày) Đặc điểm phân biệt
Z1 4 - 5 Đôi mắt kép màu đen, chưa có cuống mắt
Z2 3 - 4
Mắt đã xuất hiện cuống mắt. Nhánh ngoài
của chân hàm I và II mang 6 lông tơ. Có 5
đốt bụng
Z3 3 - 4
Nhánh ngoài của chân hàm I mang 8 lông
tơ chân hàm II mang 9 lông tơ, đã hình
thành cuống mắt nhưng chưa phân đốt,
chưa có mầm chân bụng.
Z4 3 - 4
Hình thành mầm chân bụng, cuống mắt đã
phân đốt.
Z5 3 - 4
Chân bụng phát triển, chẻ đôi thành 2,
mép ngoài chân bụng có lông tơ.
Megalop 7 - 9
Mất gai lưng. Gai trán rất ngắn, mắt
to.Telson không còn chẻ 2 mà dạng bầu và
có nhiều lông trên chân đuôi. Chân bụng
rất phát triển và có nhiều lông trên các
nhánh. Ấu trùng xuất hiện 2 càng. 6
Giai đoạn cua bột (sau khi nở 25 - 30 ngày): cua có hình dạng như cua
trưởng thành, mặc dù giáp đầu ngực hơi tròn [2].
7
1.2.5. Đặc điểm sinh sản
- Tuổi và kích thước thành thục: Trong tự nhiên, cua biển thành thục ở độ
tuổi 1 - 1,5 năm với chiều rộng giáp đầu ngực (CW) thấp nhất là 83 - 144 mm, cua
chỉ tham gia sinh sản khi CW đạt từ 120 - 180 mm. Theo Prassad, 1989 thì cua cái
không bao giờ đạt đến 100% độ thành thục ở bất kỳ kích cỡ nào ( trích theo [1] )
- Mùa vụ sinh sản: Sự thành thục và sinh sản của các loài Scylla xảy ra hầu
như liên tục quanh năm với đỉnh cao theo mùa [2]. Theo nghiên cứu của Le Vay và
ctv ở Việt Nam loài S. paramamosain thành thục quanh năm, đỉnh cao cho sự thành
thục ở con cái là T9 -T10. Ở các quần thể vùng nhiệt đới, tỷ lệ thành thục cao hơn ở
con cái tăng lên vào mùa có lượng mưa cao. Có thể nói mối liên hệ giữa tỷ lệ này
với những thời kỳ có năng suất sinh học tăng ở các thủy vực ven bờ (Heasman và
ctv, 1985) [5]. Do vào mùa mưa hàm lượng các chất hữu cơ trong các thủy vực tăng lên.
Trong vùng cận nhiệt đới, tính mùa vụ trong sinh sản có liên quan mật thiết
hơn đến nhiệt độ và độ dài ngày, với một đỉnh cao sinh sản nổi bật xảy ra vào mùa
hè khi nhiệt độ nước tăng cao nhất [5].
1.3. Một số vấn đề cần quan tâm trong sản xuất giống nhân tạo cua biển
1.3.1. Thức ăn
Hiện nay thức ăn dùng để ương nuôi ấu trùng trong sản xuất hay nuôi thử
nghiệm chủ yếu là: Artemia, luân trùng, tảo, có nhiều nghiên cứu về việc sử dụng
loại thức ăn này trong việc ương ấu trùng cua. Trong đó vai trò của Artemia là rất
quan trọng, điều này được thấy rõ thông qua các nghiên cứu như: Ong (1964) sử
dụng một lọai thức ăn là nauplii Artemia để làm nguồn thức ăn ương ấu trùng cua
và có nhận xét rằng rằng ấu trùng Artemia dường như quá lớn và bơi lội quá nhanh
nên ấu trùng cua khó bắt được mồi. Trong khi đó, Dominisae (1974) thử ương ấu
trùng cua với luân trùng, nauplii Artemia và men bánh mì ở giai đoạn Zoea, dùng
nghêu và Artemia cỡ lớn cho giai đoạn Megalop. Brick (1974), Simon (1975) và
Chen (1980) dùng Artemia làm thức ăn cho ấu trùng cua đạt kết qủa tốt. Dùng luân
Lecithin 3
Cholesterol 1
Calcium phosphat 0,6
Khoáng 4
Vitamin 3
Zein 3
Dựa trên công thức thức ăn nhân tạo MBD( Microbound diet) của Genodepa,
May – Helen Holme và ctv (2006) đã nghiên cứu sử dụng các loại thức ăn trong
9
ương nuôi ấu trùng cua biển Scylla serrata. Tác giả kết luận: giai đoạn Megalop nếu
cho ăn thức ăn chế biến MBD trong đó Rotifer được thay bằng thịt mực hoăc thịt cá
thì tỉ lệ sống của ấu trùng cua đạt 60% giai đoạn Zoea 3 đến Zoea 4, cho ăn
Artemia tỉ lệ sống đạt 50%. Kết quả này đã mở ra một hướng phát triển mới cho sản
xuất nhân tạo giống cua biển: chế biến thức ăn từ thịt mực, thịt cá, khoáng chất,
vitamin, … thay thế cho nguồn thức ăn sống truyền thống: Artemia, Luân trùng, …
giá thành không cao mà vẫn đảm bảo cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho ấu trùng
cua, cho tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng vẫn hiệu quả. Tuy nhiên, kết quả này chưa
được áp dụng rộng rãi mà hiện nay việc ương cua vẫn dựa vào nguồn thức ăn chính
là nauplii Artemia.
1.3.2. Tập tính ăn nhau trong giai đọan ương ấu trùng cua
Hiện tượng này xảy ra ở tất cả các giai đoạn ấu trùng cua biển đặc biệt là giai
đoạn Megalops, giai đoạn bắt đầu xuất hiện càng đầu tiên [15]. Nguyên nhân sự ăn
nhau là do lột xác không đồng đều, ấu trùng lột xác trước ăn ấu trùng còn lại chưa
lột xác [7] và do thức ăn không thích hợp [10]. Nuôi Megalops với mật độ cao trong
bể ương làm trầm trọng thêm sự hao hụt do ăn thịt lẫn nhau. Hiện tượng này làm tỷ
lệ sống giảm vì Megalops là giai đoạn mà ấu trùng rất năng động, bơi lội tự do và
ăn mồi sống [10]. Sự phong phú thức ăn tự nhiên trong môi trường nuôi và mật độ
thưa có thể khắc phục được vấn đề này.
0
C và
chậm lại khi nhiệt độ thấp dưới 20
0
C. Nguyễn Cơ Thạch (2003) đã xác định nhiệt
độ từ 26 – 30
0
C, độ muối 25 – 30 ‰ là điều kiện thích hợp nhất cho sự phát triển
của ấu trùng cua biển. Giai đoạn ấu trùng cua biển có quá trình di cư (trôi theo dòng
nước) theo chiều hướng độ mặn giảm dần, giai đoạn Megalop có khuynh hướng lớn
nhanh khi độ mặn giảm còn 21 – 27 ‰ và chúng có khuynh hướng di chuyển vào
vùng nước lợ [15].
Ngoài yếu tố nhiệt độ, độ mặn thì ánh sáng cũng ảnh hưởng đến tốc độ sinh
trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng cua biển Scylla sp. Theo Wormhoudt và Humbert
(1994), đối với giáp xác, mức độ sáng tối ổn định, nhiệt độ giảm và sự đói ăn đều
làm chậm tần số lột xác. Ngược lại khi tăng nhiệt độ, chiều dài thời gian chiếu sáng
thích hợp sẽ kích thích quá trình lột xác. Ánh sáng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
11
bơi lội và khả năng bắt mồi của giáp xác (Sulkin, 1984). Một điều chắc chắn rằng
ấu trùng giáp xác là loài bắt mồi không cần sự hiện diện của ánh sáng nhưng không
loại trừ khả năng sự hiện diện của ánh sáng giúp chúng bắt mồi hiệu quả hơn [7].
Theo Minagava và Murano, 1993, tốc độ bắt mồi cuả ấu trùng Zoea cua Ranina
trong ngày cao cấp 2,6 – 2,8 lần so với vào ban đêm (trích từ [1]). Trong khi đó thì
Yatsuzuka, 1962 cho rằng tốc độ bắt mồi của ấu trùng ghẹ Portunus pelagicus
trong ngày cao gấp 3 đến 4 lần so với ban đêm ( trích từ [1] ). Ánh sáng giúp ấu
trùng dễ dàng tìm thấy mồi nhưng cũng dễ dàng phát hiện nhau nên hiện tượng ăn
nhau càng mạnh mẽ hơn.
Ánh sáng phản xạ từ mặt bể cũng ảnh hưởng đến tốc độ sinh trường và phát
bắt mồi của ấu trùng [8].
Mặc dù quy trình kỹ thuật sinh sản nhân tạo giống cua biển luôn được cải
tiến hoàn thiện nhưng cho đến này vẫn chưa thành công còn gặp nhiều trở ngại. Tỉ
lệ sống ấu trùng thấp và không ổn định [13]. Tại Philippine, tỉ lệ sống từ giai đoạn
Zoea1 đến cua bột đạt 3%, Indonexia từ Zoea 1 đến Megalop đạt 1,3-1,5%,
Megalop đến cua bột đạt 70-80%, Malaysia tỉ lệ sống đến cua bột là 1-2%, Úc 5-
19%, Nhật 15-25% [14] Những trở ngại mà sinh sản nhân tạo ở các nước gặp phải
là: Trứng trong qúa trình ấp bị nhiễm nấm, vi khuẩn, trứng không thụ tinh, kỹ thuật
nuôi thức ăn tươi sống cho ấu trùng cua không hiệu quả, ấu trùng không lột xác
được đặc biệt là từ giai đoạn Zoea 5 đến Megalop và một trong những trở ngại lớn
nhất là hiện tượng ăn thịt nhau trong quá trình ương ấu trùng [15].
3. Tình hình sản xuất giống cua biển ở Việt Nam
Từ những năm 1980, để giải quyết vấn đề cua giống, Bộ Khoa học Công
Nghệ - Môi trường (KHCN-MT) và Bộ Thủy Sản đã giao nhiệm vụ cho các Viện
nghiên cứu triển khai thực hiện việc nghiên cứu vấn đề này nhưng ở thời điểm đó
các nghiên cứu chủ yếu tập trung về xác định loài và một số đặc điểm sinh học làm
cơ sở cho nhũng nghiên cứu sau này [5]. Năm 1995, tác giả Hoàng Đức Đạt đã xuất
bản cuốn “Kỹ thuật nuôi cua biển” đây là tài liệu khá hoàn chỉnh về quy trình sản xuất
giống cua biển tại Việt Nam.
Từ năm 1998, Bộ KHCN-MT đã giao cho Trung tâm nghiên cứu thủy sản III
thực hiện đề tài “Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và xây dựng quy trình kỹ thuật sản
xuất giống cua xanh loài Scylla paramamosain”. Tiến hành nghiên cứu về sức sinh
13
sản thực tế cua mẹ, ảnh hưởng của độ mặn đến quá trình phát triển phôi, ảnh hưởng
của độ muối và thức ăn đến tỉ lệ sống và sự lột xác biến thái chuyển giai đoạn của
ấu trùng cua Xanh. Kết qủa nghiên cứu của đề tài đã được ứng dụng vào thực tế và
đã được chuyển giao cho các tỉnh như: Quảng Bình, Hải Phòng, Thanh Hoá, Nghệ
An,…Kết quả chính của đề tài và quy trình sản xuất cua nhân tạo có thể được tóm
là loại thức ăn rất phù hợp ở giai đoạn Zoea 1 và đầu Zoea 2 nhưng không phù hợp
ở các giai đoạn kế tiếp. Nauplii của Artemia cho ăn ở giai đoạn Zoea 2 đến đầu
Zoea 4, Artemia cho ăn từ đầu giai đoạn Zoea 4 đến hết Zoea 5. Tảo được cho ăn từ
đầu đến cuối Zoea, tảo là thức ăn gián tiếp ở các giai đọan ấu trùng Zoea. Ở giai
đoạn Megalops, 3 ngày đầu cho ăn Nauplius của Artemia, từ ngày thứ 3 trở đi cho
ấu trùng ăn Artemia sinh khối, từ ngày thứ 5 đến kết thúc giai đoạn Megalops kết
hợp sử dụng Artemia sinh khối và thức ăn chế biến làm thức ăn cho ấu trùng [6].
Cho tới thời điểm này, có thể nói rằng chỉ có quy trình sinh sản giống nhân tạo cua
loài Scylla parammosain [6] đưa ra là gần như hoàn chỉnh nhất với một số nội dung
cơ bản sau:
Chọn cua mẹ dựa trên các chỉ tiêu kỹ thuật: Cua mẹ có khối lượng từ
400gam trở lên, chiều rộng giáp đầu ngực từ 12 cm trở lên. Cua khỏe mạnh, không
bị dập nát, chân bò và chân bơi đầy đủ, đã giao vĩ, buồng trứng phát triển từ giai
đoạn II đến giai đoạn IV. Cua đủ tiêu chuẩn được đưa về nuôi vỗ trong bể xi măng
có diện tích đáy 1 - 20m
2
, độ sâu mức nước trong bể 1,0 – 1,2m, 1/3 đáy bể có lớp
bùn cát hoặc cát có độ dày từ 15 - 20 cm. Mật độ nuôi 2 - 3 con/m
2
. Thức ăn sống
gồm: cá liệt (60 - 70% tỉ lệ cho ăn), tôm, mực nhuyễn thể (30 - 40% tỉ lệ cho ăn).
Thức ăn được làm giàu khoáng vi lượng và Vitamin trước khi cho cua mẹ ăn. Hàng
ngày cho cua ăn 2 lần 5 - 7 giờ và 17 - 18 giờ. Độ mặn của nguồn nước nuôi thành thục
cua mẹ và nuôi cua ôm trứng là 30 - 35 ‰.
Cua mẹ ôm trứng được ấp bằng phương pháp treo trong bể có thể tích 100 - 150 L.
Hàng ngày cho cua mẹ ăn 1 lần/ngày và thay nước 100%, duy trì sục khí 24/24 giờ.
Trước khi trứng nở thành ấu trùng 2 ngày, tiến hành xử lý trứng phôi và cua mẹ
đồng thời ngừng cho cua mẹ ăn.
Ấu trùng từ Zoea 1 đến Zoea 5 được ương trong bể hình tròn, thể tích 500 -
1000L, sục khí 24/24. Sử dụng luân trùng là thức ăn ở giai đoạn Zoea 1 và giai đoạn
Mau… Đây là bước đi kịp thời, đúng hướng, giúp đáp ứng nhu cầu khá lớn về con
giống, đồng thời từng bước giảm dần nguy cơ khai thác cạn kiệt nguồn cua giống
tự nhiên. Cụ thể như: năm 2003, Bộ Thủy Sản đã phê duyệt đự án chuyển giao công
nghệ sản xuất giống cua biển loài Scylla paramamosain cho 4 tỉnh: Ninh Bình, Nam
Định, Bến Tre và Nghệ An do viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III đảm nhiệm.
Kết quả, tỷ lệ sống từ Zoea 1 - cua bột lần lượt là 6,5%, 6,8%, 824%, 6,7% (http://
www.nafec.gov.vn).
16
Hình 1.4: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Tìm hi
ểu hệ thống
công trình – Kỹ
thu
thành
thục
K
ỹ thuật
ương
nuôi ấu
trùng
thành
cua bột
1
Kết luận và đề xuất ý kiến
N
ỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Tìm hi
ểu kỹ thuật
tuyển chọn, nuôi vỗ
cua m
ẹ v
à cho đ
ẻ
K
ỹ
thuật
cho đẻ
và nuôi
cua ôm
trứng
19
biến: nguyên liệu bao gồm: cá liệt 5% + cá ù 4% + Lansy 5% + bột hầu 10% + tôm
20% + ngao + mực 14% và thêm gan dầu mực 0,5% + tảo khô 0,5% + lòng đỏ trứng
gà 5%. Cho hỗn hợp này xay mịn, sau đó đem hấp cách thủy trong 20 - 30 phút đến
khi thức ăn chín. Để nguội và bảo quản trong tủ lạnh, sử dụng trong 2 - 3 ngày sau
khi chế biến.
20
4. Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp gián tiếp: Qua các báo cáo khoa học, luận văn tài liệu, tạp chí
khoa học web.
- Phương pháp trực tiếp: Thông qua cán bộ kỹ thuật, trực tiếp tham gia sản
xuất để tìm hiểu về các chỉ tiêu tuyển chọn cua bố mẹ( khối lượng, kích thước, tình
trạng sức khỏe, giai đoạn thành thục, màu sắc,…kỹ thuật nuôi cua mẹ thành thục và
nuôi cua ôm trứng ( trang thiết bị, nguồn nước, mật đọ uôi, phương pháp chăm sóc
và quản lý), kỹ thuật thu và ương ấu trùng thành cua bột ( dụng cụ thu ấu trùng,
thiết bị ương nuôi, phương pháp chăm sóc và quản lý).
5. Phương pháp xác định các thông số
5.1. Xác định các yếu tố môi trường
- Xác định nhiệt độ bằng nhiệt kế thủy ngân .
- Xác định độ mặn bằng khúc xạ kế.
- Xác định pH bằng test đo pH
5.2. Xác định các chỉ tiêu
- Tỷ lệ sống cua mẹ:
T
s
= C
s
/C
+ Xác định số lượng ấu trùng Zoea1: Sau khi trứng nở thàng ấu trùng
chuyển cua mẹ sang bể khác, sục khí mạnh để ấu trùng phân tán đều, dùng cốc đong
100 mL nước tại 3 điểm bất kỳ. Đếm số ấu trùng có trong cốc suy ra số lượng ấu trùng
trong cả bể.
+ Xác định số lượng ấu trùng Megalops: Tương tự giai đoạn Zoea.
+ Xác định số lượng cua bột: Đếm trực tiếp.
+ Công thức tính số lượng ấu trùng: 21
T = V * A
T: Số lượng ấu trùng cần định lượng
V: Thể tích nước chứa số ấu trùng cần định lượng
A: Số lượng ấu trùng trong thể tích nước mẫu
- Tỷ lệ sống của ấu trùng (T
at
):
T
at
= A
1
/A
2
* 100
Trong đó:
A
1
: Số lượng ấu trùng giai đoạn sau
3
giai đoạn đầu
Z
4
=
Z
4
x100
Z
4
giai đoạn đầu
Z
5
=
Z
5
x100
Z
5
giai đoạn đầu
Megalops
trùng khỏe phân bố đều rồi dùng cốc đong 100 mL nước lấy ở 3 vị trí khác nhau.
Đếm số lượng ấu trùng trong cốc suy ra số trùng khỏe trong cả bể.
Nhận biết ấu trùng khỏe: khi vặn nhỏ hoặc tắt sục khí, toàn bộ ấu trùng khỏe nổi
nhanh và dày trên mặt nước, ấu trùng hướng quang nhanh và có màu đen sậm.
+ Chất lượng ấu trùng ( CLAT%)
Số lượng ấu trùng khỏe
CLAT =
Tổng số ấu trùng Zoea
x 100
5.3. Phương pháp xử lý số liệu:
- Sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu các yếu tố môi trường
- Công thức tính giá trị trung bình:
n
i
i
X
n
X
1
*
1
- Độ lệch chuẩn:
23,7
o
C, nhiệt độ cao nhất 41
o
C vào màu hè, mùa đông nhiệt độ xuống thấp, có ngày
nhiệt độ xuống dưới 7
o
C. Lượng mưa trung bình hàng năm là: 1.896mm, cao nhất
vào tháng 7 - 8.
1.2.2. Chế độ thủy triều
Vùng biển Hoàng Thanh thuộc chế độ nhật triều, biên độ dao động từ 2,9 -
3,2m. Một tháng có hai con nước lớn, trung bình từ 6 - 7 ngày.
2. Hệ thống công trình trại sản xuất
Trung tâm được xây dựng năm 1994 với tổng diện tích gần 1ha, công suất
thiết kế khoảng 55 vạn cua bột/năm, có vị trí thuận lợi: Phía Đông giáp biển, phía
Tây giáp khu dân cư và đường giao thông. Trước đây trại chủ yếu tập trung nghiên