Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm đầu thế kỷ XXI, khi cả nhân loại đang bước vào nền
kinh tế dựa trên tri thức, chúng ta càng xiết bao khâm phục trước tầm nhìn
xa trông rộng của lãnh tụ Hồ Chí Minh, càng thấm thía lời dạy của Người:
"Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu". Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc hiểm họa
của sự dốt nát, theo Người dốt nát cũng là kẻ địch. Nên Người chỉ rõ: "Vì
lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người".
Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá
trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách để
nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Đặc biệt trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, trước những yêu cầu, nhiệm
vụ mới, đòi hỏi công tác giáo dục - đào tạo phải không ngừng đổi mới,
hoàn thiện. Tư tưởng này được khẳng định và cụ thể hóa trong nghị quyết
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ II (khóa VIII) "Về định
hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000". Đại hội Đảng IX tiếp tục
khẳng định: "Phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực
quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện
để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững [6, tr. 108 - 109].
Nằm trong sự phát triển chung của đất nước, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số và miền núi có một vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính
trị, an ninh quốc phòng, giao lưu quốc tế và môi trường sinh thái. Nhận
thức rõ vị thế đó, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc hoạch định và
tổ chức thực hiện chính sách dân tộc trong đó có chính sách về giáo dục -
đào tạo. Nhờ sự quan tâm ấy trong thời gian qua công tác giáo dục - đào tạo
vùng dân tộc thiểu số, miền núi đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
Tuy nhiên vẫn còn những khó khăn, bất cập, vì vậy chưa đáp ứng được yêu
1
cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
miền núi, vùng dân tộc thiểu số.
- Phân tích thực trạng công tác giáo dục - đào tạo ở các tỉnh miền
núi phía Bắc, từ đó nêu ra và luận chứng một số giải pháp chủ yếu nhằm
nâng cao hiệu quả công tác giáo dục - đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số và
miền núi, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài khóa luận được nghiên cứu chủ yếu dựa vào phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp các phương pháp lôgic và lịch sử,
thống kê, phân tích, tổng hợp, tổng kết thực tiễn...
5. ý nghĩa của đề tài
- Góp phần nâng cao nhận thức về vấn đề giáo dục - đào tạo nói
chung và giáo dục - đào tạo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng, về
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục - đào
tạo.
- Là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm nghiên cứu vấn đề này.
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, nội dung
của khóa luận gồm 2 chương, 4 tiết.
3
Chương 1
Tầm quan trọng của công tác giáo dục - đào tạo trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số
1.1. công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nước ta
1.1.1. Nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH)
nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Chủ trương công nghiệp hóa và xây dựng nền kinh tế hiện đại đã
được đặt ra từ Đại hội Đảng lần thứ III (1969). Trong điều kiện cơ chế kế
hoạch hóa tập trung, chúng ta đã chủ trương ưu tiên phát triển công nghiệp
nặng, lấy công nghiệp nặng làm nền tảng. Thực tiễn cho thấy, chủ trương
công nghiệp hóa như trên là chưa hoàn toàn phù hợp với một nước mà
và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, đẩy mạnh thủy lợi hóa, cơ giới
hóa, điện khí hóa, quy hoạch sử dụng đất hợp lý, đổi mới cơ cấu cây trồng,
vật nuôi, tăng giá trị thu được trên đơn vị diện tích, giải quyết tốt vấn đề
tiêu thụ nông sản hàng hóa. Đầu tư nhiều hơn cho phát triển kết cấu hạ tầng
kinh tế và xã hội ở nông thôn. Phát triển công nghiệp, dịch vụ, các ngành
nghề đa dạng, chú trọng công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp,
các làng nghề, chuyển một bộ phận quan trọng lao động nông nghiệp
sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo nhiều việc làm mới, nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đời sống nông dân và dân cư ở nông
thôn" [6, tr. 92 - 93]. Trong điều kiện hiện nay, việc đẩy mạnh CNH, HĐH
nông nghiệp và kinh tế nông thôn bao gồm một số nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, thực hiện từng bước quá trình chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp và kinh tế nông thôn.
Là một bộ phận hữu cơ của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, ở nông
thôn cũng đang diễn ra quá trình hình thành cơ cấu kinh tế mới; nông -
công nghiệp và dịch vụ, bao gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp. Công nghiệp
5
chế biến nói riêng và công nghiệp nông thôn nói chung, thương nghiệp, du
lịch và các dịch vụ khác.
Mục tiêu của việc chuyển dịch đó là nhằm khai thác tốt nguồn tài
nguyên về đất đai, rừng, biển, nguồn lao động dồi dào, ưu thế địa lý và sinh
thái, nhằm tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng hiệu quả sản xuất, kinh
doanh, từng bước đa dạng hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn, cải thiện
đời sống nhân dân, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, tạo
nguồn tích lũy và thị trường rộng lớn cho công nghiệp hóa.
Đến đại hội IX, Đảng ta đã khẳng định: "Đẩy nhanh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theo hướng hình thành nền
nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh
thái của từng vùng, chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu lao động, tạo
việc làm thu hút nhiều lao động ở nông thôn" [6, tr. 168].
gấp hơn 2,7 lần, cao su tăng 46%, nửa tăng khoảng 35%, bông tăng 8%...
Một số giống cây công nghiệp có năng suất cao đã được đưa vào sản xuất
đại trà. Giá trị sản xuất nông nghiệp trên một đơn vị đất nông nghiệp tăng
từ 13,5 triệu đồng/ha, năm 1995 lên 17,5 triệu đồng/ha năm 2000 [6, tr. 224].
Song, năng suất trên một lao động nông nghiệp nước ta hiện còn
thấp. Vì vậy, phải chuyển dịch cơ cấu để chuyển dần lao động trong nông
nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ nói chung, trước hết là ngay
tại chỗ. Mộtmặt phát triển công nghiệp nông thôn, đặc biệt là công nghiệp
chế biến nông, lâm, thủy sản ở cả nông thôn và thành phố. Mặt khác phải
phát triển công nghiệp nông thôn một cách toàn diện, từ công nghiệp hàng
tiêu dùng, đến công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp cơ khí chế tạo
và sửa chữa... với quy mô nhỏ và vừa là chủ yếu. Phải có chính sách mở
rộng thị trường, khuyến khích và khôi phục các làng nghề truyền thống.
Đồng thời mở mang nhiều làng nghề ở nông thôn. Khuyến khích các hộ
nông dân và các tổ chức hợp tác phát triển công nghiệp, đi đôi với khuyến
khích các doanh nghiệp về nông thôn lập nghiệp, góp phần tích cực cùng
nông dân phát triển mạnh mẽ công nghiệp nông thôn.
7
Tóm lại chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, công nghiệp hóa
nông nghiệp và nông thôn là con đường cơ bản để tiến hành phân công lại
lao động, xã hội hóa nền sản xuất, phát triển kinh tế hàng hóa, tạo ra nhiều
việc làm, sản xuất ra nhiều của cải, nâng cao thu nhập, tác động tích cực
đến phát triển công nghiệp và dịch vụ của cả nước.
Thứ hai, phát triển mạnh nền nông nghiệp hàng hóa hướng vào
xuất khẩu.
Nông nghiệp nông thôn vừa phục vụ nhu cầu tại chỗ, nhu cầu trong
nước, vừa tham gia thị trường xuất khẩu. Theo hướng đó, phải phát triển
mạnh nền nông nghiệp hàng hóa hướng vào xuất khẩu, phải phấn đấu đáp
ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm tiêu dùng, từ thị trường địa
phương vươn ra thị trường cả nước. Đối với xuất khẩu, cần nhanh chóng áp
về vật chất cũng như văn hóa. Phát triển kinh tế nông thôn sẽ làm tăng sức
mua của nông dân, tạo động lực thúc đẩy các ngành công nghiệp và dịch vụ.
Trong mấy năm trở lại đây, các mặt hàng nông nghiệp của chúng ta
đã có mặt trên các thị trường lớn như: châu á, EU, Trung Đông... nhiều mặt
hàng đã trở thành thế mạnh của chúng ta như gạo, nông sản... Xuất khẩu
nông, lâm, thủy sản năm 2000 đạt 4,3 tỷ USD, gấp hơn 1,7 lần so với năm
1995, bình quân hàng năm chiếm khoảng 30% kim ngạch xuất khẩu của cả
nước, đã tạo được ba mặt hàng xuất khẩu chủ lực là gạo (đứng thứ 2 thế
giới), cà phê (đứng thứ 3) và thủy sản chiếm 34% trị giá kim ngạch xuất
khẩu toàn ngành: [6, tr. 225].
Cùng với việc hướng các sản phẩm nông nghiệp vào xuất khẩu,
chúng ta phải mở rộng quan hệ đối ngoại, phát triển hợp tác làm ăn với bên
ngoài, chúng ta ngày càng có thêm điều kiện tranh thủ nguồn vốn, tiếp thu
kỹ thuật và công nghệ, thúc đẩy cạnh tranh, mở rộng cho việc phát triển
công nghiệp nông thôn và công nghiệp phục vụ nông nghiệp.
Thứ ba, đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ mới vào phát
triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn.
Nông thôn và miền núi có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng đối
với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Thực tế cho thấy
9
một trong những yếu tố có tính quyết định bảo đảm sự thành công của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là quá trình
áp dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học và công nghệ. Hội nghị Ban chấp
hành Trung ương lần thứ 2 (khóa VIII) đã khẳng định: "Công nghiệp hóa,
hiện đại hóa phải bằng khoa học và công nghệ, dựa vào khoa học và công
nghệ" [4, tr. 61].
Tiếp đến Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 6 (khóa VIII)
tiếp tục khẳng định: Tập trung sức cao hơn nữa cho nhiệm vụ phát triển
nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa làm cơ sở vững chắc cho sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trong
Việc áp dụng đồng bộ các kỹ thuật tiến bộ như: thay đổi các cơ cấu
mùa vụ, cơ cấu giống cây trồng, cơ cấu sản xuất các giống mới có năng
suất cao, thích hợp với các điều kiện sinh thái, chống sâu bệnh... góp phần
vào việc nâng cao năng suất, sản lượng, chất lượng, đa dạng hóa các sản
phẩm trồng trọt. Nổi bật trong lĩnh vực này là giống cây trồng. Từ năm
1991, khoảng gần 100 giống cây trồng mới đã được công nhận là giống
quốc gia và đã được áp dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp trên phạm
vi cả nước.
- Trong lĩnh vực chăn nuôi:
Với kỹ thuật, tiến bộ về giống vật nuôi như giống lợn lai, lợn nạc,
bò sữa... các tiến bộ về thức ăn, biện pháp nuôi dưỡng, cũng như thú y đã
góp phần đáng kể trong việc đẩy tốc độ gia tăng giá trị của tổng sản phẩm
chăn nuôi nhanh hơn trồng trọt trong những năm gần đây và phục vụ cho
việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng đưa sản xuất chăn nuôi
thành một ngành chính cân đối hơn trong cơ cấu nông nghiệp.
- Trong lĩnh vực cơ giới hóa nông nghiệp và chế biến nông, lâm,
thủy sản:
Tuy chưa làm được nhiều và những đóng góp của khoa học công
nghệ trong lĩnh vực này chưa có khả năng góp phần làm thay đổi cục diện
11
cũng như giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp, song các công nghệ
thích hợp, được áp dụng ở các mức độ khác nhau đã bước đầu góp phần
vào việc gia tăng năng suất lao động, chất lượng của một số sản phẩm nông
nghiệp đã góp phần vào tốc độ gia tăng khá cao của giá trị tổng sản lượng
công nghiệp chế biến, đạt bình quân 9,85% trong những năm qua. Theo báo
cáo của Bộ Khoa học công nghệ và môi trường, từ năm 1991 đến năm 1998
đã có 114 dự án của chương trình khoa học công nghệ phục vụ nông thôn
và miền núi. Nguồn tài chính được huy động khoảng 135 tỷ đồng. Lực
lượng cán bộ khoa học công nghệ được huy động khoảng 1.700 người,
phần lớn là cán bộ của viện nghiên cứu và trường đại học. Bên cạnh đó còn
nghĩa xã hội (CNXH) làm hậu thuẫn cho cách mạng miền Nam. Công cuộc
xây dựng ở miền Bắc đã tác động sâu sắc tới sự phát triển của miền núi.
Nhiều tuyến giao thông ở Tây Bắc, Đông Bắc được mở mới. Núi rừng và
đồng bằng gần nhau hơn thông qua một hệ thống kinh tế được nhà nước tổ
chức chặt chẽ, thống nhất, trong đó các thành phần kinh tế quốc doanh và
tập thể là chủ yếu. ở miền núi, sản xuất công nghiệp do các doanh nghiệp
quốc doanh thực hiện, sản xuất nông nghiệp được hợp tác hóa, mạng lưới
thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán trải rộng để phân phối
hàng hóa cho cán bộ, nhân dân và thu mua nông, lâm sản.
Hàng hóa, sản phẩm được mua, bán theo giá chỉ đạo của Nhà nước,
được điều hòa theo giá cả thống nhất hoặc chỉ chênh lệch rất ít giữa miền
núi và miền xuôi. Người dân ở miền núi cũng có điều kiện mua hàng gần
như ở miền xuôi, nông sản hàng hóa làm ra được bán cho thương nghiệp
quốc doanh, đó thực sự là biến đổi to lớn trong đời sống kinh tế của đồng
bào các dân tộc thiểu số.
Đại hội VI của Đảng đã vạch ra đường lối đổi mới, xóa bỏ cơ chế
tập trung, quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật
khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế. Ba năm sau, một số chủ
trương, chính sách lớn về phát triển kinh tế - xã hội miền núi đã được Bộ
13
Chính trị quyết định trong Nghị quyết số 22. NQ/TW ngày 27-11-1989 và
sau đó, được đưa vào thực hiện. Thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX với Nghị
quyết 22 và các chính sách phát triển vùng miền núi đã đi vào thực tiễn
cuộc sống của các dân tộc thiểu số và đã đem lại thành tựu bước đầu rất
đáng khích lệ, đánh dấu một thời kỳ phát triển mới của kinh tế - xã hội nói
chung, kinh tế hàng hóa miền núi nói riêng.
Vượt qua những khó khăn, thử thách, đảng bộ và nhân dân các dân
tộc miền núi không ngừng phấn đấu đạt được nhiều tiến bộ trong sự nghiệp
phát triển kinh tế, từng bước phát huy các thế mạnh của mình, tạo ra những
vùng chuyên canh lớn, làm ra ngày càng nhiều nông, lâm sản xuất khẩu,
Một yêu cầu quan trọng đối với thị trường miền núi là phải giữ ổn
định giá cả mặt hàng thiết yếu như muối ăn, dầu thắp sáng, thuốc chữa
bệnh... không để giá cả ở vùng cao, hẻo lánh tăng lên cho dù chi phí lưu
thông hàng hóa đến vùng đó cao. Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị đã đề ra
những chủ trương, chính sách lớn giải quyết một cách toàn diện vấn đề
phát triển kinh tế hàng hóa miền núi, giải phóng triệt để mọi năng lực sản
xuất, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, thực hiện tự do lưu thông, trao đổi mua bán, thỏa thuận trên thị
trường trong nước, mở rộng kinh tế đối ngoại.
Phát triển mạnh mẽ kinh tế miền núi là góp phần quan trọng bảo
đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Theo ý nghĩa đó, nhiệm vụ đẩy
mạnh sự phát triển kinh tế hàng hóa, tăng cường giao lưu giữa các dân tộc
thiểu số phải được coi là nhiệm vụ quan trọng. Là một trong những yêu cầu
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
Về văn hóa: Giữ gìn, phát huy bản sắc tộc người trong nền văn hóa
Việt Nam thống nhất.
Đất nước Việt Nam có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều góp vào
sự hình thành sắc thái văn hóa chung của cả nước bằng những đặc trưng
15
văn hóa riêng độc đáo của từng vùng đất, đóng góp tích cực vào công cuộc
xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam thống nhất, đa dân tộc.
Chúng ta có thể dễ dàng nhận diện những vùng văn hóa tộc người
thiểu số như:
Vùng văn hóa Tây Bắc nơi cư trú chính của các dân tộc: Thái,
Mường, H'Mông, Dao với các đặc trưng văn hóa của các làn điệu: khắp,
xòe Thái, nhảy khèn H'Mông, rượu cần.
Vùng văn hóa Đông Bắc, tiêu biểu là các văn hóa của dân tộc Tày,
Nùng, Dao, Sán chay với các làn điệu then, sli,... Có thể nói nền văn hóa
Việt Nam là sự phong phú, đa dạng của những sắc thái riêng biệt của văn
hóa các dân tộc ở nước ta.
đang đứng trước những khó khăn thách thức:
- Một là: Xu hướng đồng hóa tự nhiên về văn hóa đang làm mai
một văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số.
- Hai là: Các thế lực phản động thực hiện âm mưu: "diễn biến hòa
bình" tác động vào văn hóa truyền thống các dân tộc.
- Ba là: Chưa căn bản đẩy lùi mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội và những
hủ tục lạc hậu ở một số dân tộc thiểu số.
- Bốn là: Nạn chảy máu cổ vật ra nước ngoài và sự xâm hại các di
tích lịch sử - văn hóa các dân tộc thiểu số.
Do đó để thực hiện tốt nghị quyết Trung ương lần thứ 5 khóa VIII
của Đảng, cần phải chú ý những nhiệm vụ sau:
- Giữ gìn, bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người, nâng cao trình độ dân
trí, trình độ văn hóa cho cán bộ và nhân dân các dân tộc thiểu số.
- Xây dựng các thiết chế văn hóa phù hợp, phát triển văn hóa tộc
người trong mối quan hệ kết hợp truyền thống và hiện đại.
- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ hoạt động trên lĩnh vực văn
hóa là người dân tộc thiểu số.
17
- Đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, chống "diễn biến hòa bình"
dưới nhiều hình thức, trong đó có cả hình thức lợi dụng: "giao lưu văn
hóa".
Về xã hội: Thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng xã hội giữa các
dân tộc và trong nhân dân từng dân tộc - tộc người.
Nhận thức rõ vị trí và tầm quan trọng của vùng dân tộc thiểu số và
miền núi đối với sự nghiệp cách mạng chung của cả nước, Đảng và Hồ Chí
Minh đã chủ trương tăng cường chính sách đại đoàn kết dân tộc, xây dựng
và phát triển lực lượng cách mạng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chú
trọng đào tạo cán bộ dân tộc, vận động đồng bào các dân tộc đi theo cách mạng.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng ta đã chỉ rõ:
"Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến
dân tộc thiểu số lại giữ cương vị chủ chốt như: Chủ tịch UBND xã, huyện,
tỉnh, giám đốc sở... tiêu biểu là đồng chí Nông Đức Mạnh, tổng bí thư, ủy
viên Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng...
Đến nay trong số 53 dân tộc thiểu số ở nước ta, có 26 dân tộc đã có
chữ viết. Song song với công tác đặt chữ mới cho các dân tộc. Nhà nước ta
cũng chủ trương cải tiến chữ một số dân tộc đã có chữ từ lâu, như chữ Tày,
Nùng, cải tiến chữ Thái, xây dựng bộ chữ dựa vào vần chữ cái la tinh...
Việc Đảng và Nhà nước ta tôn trọng tiếng nói dân tộc thể hiện rõ
trong công tác thông tin đại chúng. Đài tiếng nói Việt Nam và đài phát
thanh địa phương có một hệ thống các buổi phát thanh bằng các thứ tiếng
dân tộc như: Tày, Nùng, Thái, H'Mông... Một số địa phương đã xuất bản
các tờ báo bằng tiếng dân tộc, như ở Tây Bắc đã có báo bằng chữ Thái, ở
Lào Cai có báo bằng tiếng H'Mông... Một số ấn phẩm văn học được viết
bằng tiếng dân tộc và xuất bản bằng 2 thứ tiếng dân tộc và quốc ngữ.
Yêu cầu trên lĩnh vực xã hội hiện nay đòi hỏi các vùng dân tộc
thiểu số và miền núi thực hiện có hiệu quả các chính sách như: Chính sách
xóa đói giảm nghèo, chính sách tạo việc làm, chính sách đền ơn đáp nghĩa,
chính sách bảo trợ xã hội, các chính sách về kế hoạch hóa dân số, phòng
19
chống bệnh dịch, chống tệ nạn xã hội... thực hiện tốt các vấn đề về quản lý
xã hội - tộc người.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta
luôn xác định giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một nhiệm vụ có tính
chiến lược của cách mạng Việt Nam.
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về dân tộc. Đảng ta luôn đề ra chính sách đối với dân tộc là: Đoàn
kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc. Chính sách đại đoàn kết dân tộc
đã phát huy sức mạnh toàn dân, là một trong những nhân tố quyết định mọi
thắng lợi của cách mạng và trở thành bài học kinh nghiệm quý báu của
Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Nhờ có giáo dục, con người mới có tri thức, nắm bắt được quy luật của tự
nhiên và xã hội, mới có khả năng để thực hiện năng lực làm chủ của mình,
hoàn thành vai trò chủ thể của quá trình phát triển của xã hội, bởi theo
Lênin: không thể xây dựng CNXH trên đất nước toàn những người mù chữ.
Tiếp thu những quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh - vị lãnh
tụ vĩ đại của chúng ta đã có những công lao to lớn trong việc giáo dục, đào
tạo con người mới, phù hợp với hoàn cảnh đất nước.
Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh
luôn luôn chăm lo đến việc giáo dục thế hệ trẻ, mở mang dân trí, coi đó như
là một điều kiện hết sức quan trọng để giải phóng con người, làm cho mỗi
con người thực sự được tự do và bình đẳng. Người viết: "Mọi người Việt
Nam muốn hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình phải có kiến
thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết
phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ" [16, tr. 36].
Hơn ai hết, Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc: "một dân tộc dốt là
một dân tộc yếu" vấn đề giáo dục đã trở thành một mặt trận quan trọng.
Bởi vì: "Dốt nát cũng là kẻ địch, địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm.
Địch dốt tấn công ta về mặt tinh thần, cũng như địch thực dân tấn công ta
21
bằng vũ lực. Địch thực dân dựa vào địch dốt nát để thi hành chiến lược ngu
dân" [17, tr. 50].
Theo Hồ Chí Minh, đào tạo thế hệ trẻ hôm nay cho tương lai đất
nước là vì lợi ích trăm năm của dân tộc, lợi ích lâu dài của đất nước. Tương
lai của đất nước phụ thuộc vào giáo dục, vào việc mang lại văn hóa cho
mỗi người, trước hết là cho thế hệ trẻ.
Từ chỗ xác định vai trò, vị trí quan trọng của giáo dục đào tạo
Người đã khai sinh ra nền giáo dục mới, tiến bộ, một nền giáo dục khoa
học, dân tộc, nhân dân, đại chúng. Người xác định rất rõ mục tiêu của giáo
dục - đào tạo: Học để làm việc, làm người làm cán bộ. Học để phụng sự
đoàn thể, giai cấp và nhân dân, tổ quốc và nhân loại. Học để tin tưởng; học
xã hội. Thêm vào đó đồng bào các dân tộc thiểu số còn rất hạn chế trong
việc nhận thức đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và
Nhà nước, từ đó dẫn đến việc triển khai, thực hiện gặp nhiều khó khăn và
kém hiệu quả. Thực trạng này có một nguyên nhân cơ bản là trình độ dân
trí của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng cao còn thấp. Vì vậy công
tác phát triển giáo dục, nâng cao dân trí cho đồng bào dân tộc thiểu số ở các
tỉnh miền núi, vùng cao là một trong những công tác có ý nghĩa quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng dân tộc thiểu số
hiện, nhằm đưa vùng này tiến kịp và hòa nhập với các vùng khác trên đất
nước.
Trong giai đoạn hiện nay, nhằm nâng cao dân trí cho đồng bào các
dân tộc thiểu số ở miền núi vùng cao. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ
trương, chính sách:
Một là, đầu tư phát triển giáo dục và nâng cao dân trí cho đồng bào
các dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi, vùng cao phải căn cứ vào vị trí địa
lý và tình hình phân bố dân cư ở khu vực này. Cụ thể như: Hệ thống
trường, lớp phải được đưa đến tận bản và coi đây như là một trung tâm văn
hóa - giáo dục bản làng, với mục tiêu thiết thực xóa nạn mù chữ.
23
Hai là, thực hiện chính sách trợ cấp toàn diện cho giáo dục ở các
vùng dân tộc thiểu số, miền núi cao, trước hết, cần thực hiện tốt nội dung
"hỗ trợ người nghèo về giáo dục". Cần ưu tiên phần lớn kinh phí cho các
tỉnh miền núi, vùng cao nhằm tạo điều kiện cho các em nghèo được đi học,
kích thích nhu cầu tới trường của các em.
Ba là, xây dựng và phát triển hơn nữa hệ thống các trường phổ
thông dân tộc nội trú, khuyến khích các con em dân tộc ít người đi học. Tạo
điều kiện cho các em học tập tốt, trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, bổ sung và
đào tạo giáo viên nhiệt tình, chuyên môn cao.
Bốn là, đầu tư vào dạy song ngữ cho học sinh. Đây là một việc khó
khăn, song nó giúp bảo tồn và phát huy văn hóa của từng dân tộc, mặt khác
nhân dân và quản lý địa phương làm việc theo Hiến pháp, pháp luật, chấp
hành các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, bảo đảm sự lãnh đạo
thống nhất của Đảng. Đồng thời là người triển khai thực hiện các chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo
an ninh biên giới, phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện quyền bình đẳng,
đoàn kết các dân tộc... Cán bộ còn là người đi đầu tuyên truyền và động
viên đồng bào các dân tộc xóa bỏ những tập tục, tập quán lạc hậu đã tồn tại
lâu đời và giúp đồng bào phòng chống các tệ nạn xã hội và các tư tưởng
phản động bên ngoài. Cán bộ là lực lượng đảm bảo sự đoàn kết giữa các
dân tộc, chống lại các tư tưởng dân tộc lớn, tự ti dân tộc. Cán bộ còn là
những người lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của đồng bào để từ đó có
chính sách thích hợp. Cán bộ ngoài việc tổ chức, vận động quần chúng thực
hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước. còn
là lực lượng kiểm tra và đôn đốc đồng bào thực hiện các chính sách đó.
Ngoài ra cán bộ còn giúp đồng bào học tập, mở mang kiến thức, giúp đồng
bào trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất...
25