Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên phục vụ phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội - Pdf 26

li
MỤC
LỤC
Danh mục các báng iv
Danh mục các hình vẽ vi
Danh mục cúc bàn dồ Vỉ
MỞ
ĐẦU Ì
CHƯƠNG 1. Cơ SỚ LÝ
LUẬN
ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU
LỊCH
PHỤC
vụ
PHÁT
TRIỂN
DU
LỊCH
cuối
TUẦN
7
LI.
Tống
quan
các vấn đề vé tài nguyên du
lịch,
nhu cầu du
lịch

hoat
động

và phụ cận 23
Ì
.2.4. Một số van đe
quan
trọng
trong
đánh giá tài nguyên du lịch 24
1.3. Cư sở lý
luận
đánh giá tài nguyên du
lịch
tự nhiên
phục
vụ phát
triển
du
lịch
cuối
tuần
28
1.3.1.
Phương pháp luận đánh aiứ 28
Ì
.3.2. Phương pháp đánh giá 30
CHƯƠNG 2. NHƯ CẦU VÀ
TIỀM
NÀNG PHÁT
TRIỂN

LỊCH

vói
dịch
vu đặc
tame
56
2.2.4.
Nhu cáu
đối
vói các
dịch
vụ chính 58
2.2.5.
Nhu cầu về
dịch
vụ bổ
sung
60
2.3. Tài nguyên du
lịch
tự nhiên 60
2.3.1.
Các
loại
tài nguyên du lịch tự nhiên và khả năng
khai
thác
phục
vụ du lịch cuối tuân ÓI
2.3.2.
Tống

Lựa chọn các điếm nghiên cứu 69
3.2.2.
Khái quát các điếm nghiên cứu 70
3.3. Các yếu tố, chi tiêu và
thang
đánh giá 98
3.3. Ì. Đô hấp dẫn của điếm tài nguyên 98
3.3.2.
Sơ thích của du khách 104
3.3.3.
Khoảng cách 105
3.3.4.
Bans
liệt
kê toàn bộ các vếu tố và chí tiêu đánh giá 106
3.4. Kết quả đánh giá tài nguyên du
lịch
tự nhiên cùa các điếm nghiên cứu 107
3.4. Ì. Đánh giá riêng các vếu tố 107
3.4.2.
Kết quả đánh dà
tons
hợp 112
3.4.3.
Phân
hạng
các điếm du lịch 112
CHƯƠNG 4.
HIỆN
TRANG

.2.
Các hình
thức
du lịch cuối
tuần
hiện nay của người dân Hà
Nội
114
4.
Ì
.3.
Tinh hình khai thác tài nguyên du lịch Ì
ì
5
4.1.4.
Phát triển du lịch và vấn đe tài nguyên, môi trường 117
4.2.
Định
hướng
khai
thác và bảo vệ tài nguyên
phục
vụ phát
triến
du
lịch
cuối
tuần
118
4.2. ì. Mục tiêu định hướng

lịch
cuối
tuân 136
4.3. Ì.
Giải
pháp về qui
hoạch
136
4.3.2.
Giải
pháp vé tổ
chức,
quản
lý 137
4.3.3.
Giải
pháp ve cơ
chế,
chính sách 137
4.3.4.
Giải
pháp
nhầm
báo vệ tài nguyên và mòi trường 138
KẾT
LUẬN 140
NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG Bố CỨA TÁC GIÀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN
ÁN 142
TÀI LIỆU

nghiệp
và cao
đẳng,
đại học ở Hà Nội ( năm
2000)
cọ
6 Bảng 25. Số
lượt
người
tham
gia du lịch cuối
tuần
năm 1996 và năm
2000
55
7 Bảng 2.6. Sở thích đối với các
loại
hình du lịch cuối
tuần
khác
nhau
56
8 Bảng 2.7. Mục đích của
chuyến
đi 57
9 Bảng 2.8. Sở thích đối với các điểm tài nguyên du lịch khác
nhau
58
Ỉ0 Bảng 2.9. Sở thích về
khoảng

20 Bảng 3.9. Đặc điểm khí hậu khu vực hồ
Đồng
Quan
87
21 Bảng 3.10. Đặc điểm khí hậu khu vực Đảo Cò 91
22 Bảng 3.11. Đặc điểm khí hậu khu vực Tam Đảo 93
23 Bảng 3.12. Đặc điểm khí hậu khu vực
Khoang
Xanh 97
24 Bảng 3.13. Số
lượng
khách đến
Khoang
Xanh từ
1996-2000
98
25 Bảng 3.14. Các chỉ tiêu và
thang
đánh giá bãi biến cho tắm biển 99
26 Bảng 3.15. Các chỉ tiêu và
thang
đánh giá hồ nước 99
27 Bắng 3.16. Các chì tiêu và
thang
đánh giá địa hình đồi núi 102
28 Bắng 3.77.Các chi tiêu và
thang
đánh giá tính đa
dạng,
tương

dạng,
tương
phản
và độc đáo 108
35 Bảng 3.24. Kết quả đánh giá cơ sở hạ
tầng
của điểm du lịch 110
36 Bảng 3.25. Kết quả đánh giá độ hấp dẫn của tài nguyên 111
37 Bảng 3.26. Kết quả đánh giá
khoảng
cách 111
38 Bảng 3.27. Kết quả đánh giá sức hút du lịch 112
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Tên hình vẽ
Trang
Ì Hình 1.1. Du lịch cuối
tuần
theo
phân
loại
của
Lozato
Giotard 12
2 Hình 1.2. Sơ đồ hệ
thống
du lịch của Leiper
(1990)
32
3 Hình 13. Vòng đòi của một điểm du lịch 36

5. Điểm du lịch
Quan
Sơn
6. Điếm du lịch
Đồng
Quan
- Đến Sóc
7. Điểm du lịch Đảo Cò
8. Điểm du lịch Tam Đảo
9. Điểm du lịch
Khoang
Xanh
10. Độ hấp dẫn và sức hút du lịch
MỞ
ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI
Tài nguyên thiên nhiên là một
trong
những
yếu tố
quan
trọng
đối với việc
phát triển kinh tế xã hội. Dù là tài nguyên tái tạo được hay không tái tạo được, nếu
không có chiến lược khai thác hợp lý sẽ dẫn đến suy thoái và cạn kiệt. Nghiên cứu
và đánh giá tài nguyên là cơ sở cần
thiết
cho việc
hoạch
định

nhu
cầu về cơ sở
nghỉ
cuối
tuần
ở khu vực phụ cận đã trở nên cấp
thiết,
nhiều điểm du
lịch
đã quá tải, có
nguy
cơ ảnh hưởng tới tài nguyên và môi trường địa phương.
Để
sử
dụng
hợp lý
nguồn
tài nguyên du lịch ở Hà Nội và phụ cận, đáp ứng
ngày càng cao nhu cầu du lịch cuối
tuần
của người dân, cần
nhanh
chóng xây
dựng
một chiến lược khai thác tài nguyên
theo
hướng phát triển bền vững. Tuy nhiên,
cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá
tổng
hợp tài nguyên

vật
chất

tinh
thần
của nhân dân".
2
2. MỤC ĐÍCH VÀ
NHIỆM
vụ NGHIÊN cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá
tổng
hợp tài nguyên du lịch tự nhiên
(TNDLTN),
mục tiêu của đề tài là xây
dựng
cơ sở
khoa
học cho việc qui
hoạch
phát triển du lịch cuối
tuần
(DLCT)
của Hà
Nội.
Để
thực
hiện được mục tiêu trẽn, để tài tập
trung
giải

dụng
hợp lý và bảo vệ tài nguyên du lịch tự nhiên
cho việc phát triển du lịch cuối
tuần
trong
khu vực nghiên cứu.
3. GIỚI HẠN NỘI
DUNG

PHẠM
VI NGHIÊN cứu
Phạm vị nghiên cứu của đề tài được
giới
hạn ở khu vực Hà Nội và phụ cận.
Song, khái niệm "phụ cận" ở đây là một khái niệm
mang
tính
chất
tương đối.
Giới
hạn của nó phụ
thuộc
vào nhu cầu và vào khả năng khai thác tài nguyên du lịch.
Do thời
gian
và khả nâng có hạn, luận án chỉ
giới
hạn ở
khoảng
150km

ở phía bắc, phía tây và phía nam.
Đối
tượng nghiên cứu của đề tài là
TNDLTN
và mối
quan
hệ giữa
TNDLTN
với các
hoạt
động
DLCT
của người dân Hà
Nội.
Song,
hoạt
động
DLCT
bao gồm nhiều
loại
hình như:
nghỉ
dưỡng, thể
thao,
tham
quan,
lễ hội, vui chơi
giải
3
trí

TNDLTN
cho
loại
hình này.
Để
minh hoa cho cơ sở lý luận đánh giá
TNDLTN
phục
vụ phát triển
DLCT
đã được xây
dựng,
đề tài chỉ chọn một số điểm
trong
khu vực để đánh giá vì địa
bàn quá rộng, bao gồm nhiều
tỉnh
xung
quanh

Nội.
Hơn nữa,
nguồn
tài nguyên
trong
khu vực có thể sử
dụng
cho du lịch lại rất đa
dạng


khu vực nghiên cứu, từ đó tiến hành đánh giá
tổng
hợp tám điểm tài nguyên
trong
khu vực.
- Lần đầu tiên, đề tài đã tiến hành xây
dựng
một hộ
thống
bản đồ du lịch cho
từng
điểm nghiên cứu và bản đổ đánh giá
chung
tài nguyên du lịch.
- Luận án đã đề
xuất
định hướng sử
dụng
và bảo vệ
TNDLTN
phục
vụ phát
triển du lịch cuối
tuần
trong
khu vực một cách hiệu quả và bền vững.
5. CÁC
LUẬN
ĐIỂM
BẢO VỆ

du lịch có hổ nước, nằm ở
khoảng
cách phù hợp, rất
thuận
lợi đối với việc phát
triển du lịch cuối
tuần
của Hà
Nội;
các điểm du lịch đổi núi,
thuận
lợi; còn các
điểm du lịch biển, ít
thuận
lợi. Vì vậy, cần ưu tiên khai thác các hổ nước và đổi
núi,
nằm ở
những
khoảng
cách phù hợp kể từ
trung
tâm Hà Nội
phục
vụ phát triển
DLCT
trong
thời điểm hiện tại.
6. Ý
NGHĨA KHOA
HỌC VÀ THỰC

DLCT.
- Kết quả nghiên cứu của luận án là
nguồn
tài
liệu
tin cậy và cần
thiết
cho
việc
xây
dựng
qui
hoạch
phát triển du lịch cuối
tuần
của Hà
Nội
và phụ cận.
7. Cơ SỞ TÀI
LIỆU
Luận
án đã sử
dụng
các
nguồn
tài
liệu
sau:
- Tài
liệu

Phương"
(1997);
"Nghiên cứu tính bền vững của hệ
thống
lãnh thố du lịch Hà Nội-
phụ
cận
M
(2000-2001);
"Xác định giá trị du lịch của Hạ Long"
(2000)
và "Bổ
sung,
5
điều
chỉnh
quy
hoạch
tổng
thể phát triển du lịch Hà Nội giai đoạn
2002-2010"
(2001).
- Các tài
liệu,
số
liệu
thống
kê, các báo cáo của các Sở Du lịch, Công ty Du
lịch
thuộc

thực
địa, thu
thập
và xử lý
các số
liệu
thống
kê, phương pháp đánh giá kỹ
thuật,
phương pháp bản đồ là
những
phương pháp đã được sử
dụng
rộng
rãi
trong
địa lý. Bằng các phương pháp này, tác
giả
đã tiến hành nghiên cứu chi tiết các điểm du lịch
trong
khu vực và tiến hành đánh
giá để xác định được mức độ
thuận
lợi của chúng cho việc khai thác, phát triển du
lịch
cuối
tuần.
Để
nghiên cứu nhu cầu, sở thích của người dân đối với
hoạt

thành bốn chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận đánh giá tài nguyên du lịch
phục
vụ phát triển du
lịch
cuối
tuần
Chương 2: Nhu cầu và tiềm năng phát triển du lịch cuối
tuần
ờ khu vực Hà
Nội
và phụ cận
6
Chương 3: Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên
phục
vụ phát triển du lịch
cuối
tuần
tại một số điểm nghiên cứu
Chương 4: Phân tích hiện
trạng
và định hướng khai thác tài nguyên du lịch
phục
vụ phát triển du lích cuối
tuần
ở Hà
Nội
và phụ cận.
7
CHƯƠNG 1. Cơ SỎ LÝ LUẬN ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU

thông tin có trên Trái Đất và
trong
vũ trụ mà con người có thể sử
dụng
để
phục
vụ
cuộc
sống
và sự phát triển của mình [7,
tr.17].
Tài nguyên du lịch là một
dạng
trong
toàn bộ tài nguyên được con người
sử
dụng.
Đã có nhiều tác giả đưa ra định
nghĩa
về tài nguyên du lịch.
Theo
I.I.Pirojnik
(1985)
"Tài nguyên du lịch là các thành
phần
và các
tổng
thể cảnh
quan
tự nhiên và nhân sinh có thể dùng để tạo ra sản

"cảnh
quan
thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách
mạng,
giá trị nhân vãn, công
trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử
dụng
nhằm
thoa
mãn nhu cẩu
du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch,
nhằm
tạo ra
sự hấp dẫn du lịch"[35].
Theo
các định
nghĩa
đã xem xét, tài nguyên du lịch vô cùng
phong
phú và
đa
dạng,
song
về mặt cấu trúc, tài nguyên du lịch có thể phân chia thành hai nhóm:
tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân vãn
[103],
[59], [29],
[65]. Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các thành
phần
của tự nhiên, các thể

mặt ười không được xem là tài nguyên du lịch vào trước
những
năm 1920, khi
nhu cầu tắm
nắng
chưa phát triển. Và sau này, khi nỗi lo sợ của con người về
bệnh
ung
thư da ngày càng gia tăng, nó
cũng
có thể sẽ không được coi là tài nguyên du lịch nữa.
Như vây, sự phát triển và biến đổi của nhu cầu xã hội, đặc biệt là sự
xuất
hiện nhu cầu
du lịch dẫn tói việc thu hút
những
thành
phần
mới của tự nhiên
cũng
như văn hóa-lịch
sử vào
hoạt
động du lịch và
chuyển
chúng
sang
phạm
trù tài nguyên du lịch.
Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch đang khai thác và tài nguyên du

một
nguồn
nước khoáng lại vừa có thể là một sản
phẩm
văn hoa do con người tạo ra
như một ngôi chùa cổ, một làng
nghề
hay một lễ
hội
Chính vì vậy mà tài nguyên
du lịch có thể tạo nên
những
sản
phẩm
du lịch
phong
phú và đa
dạng,
thoa
mãn
được nhu cầu của con
người.
Tài nguyên du lịch không chỉ có giá tri hữu hình mà còn có giá tri vô hình.
Giá trị hữu hình là do
những
phương tiện vật
chất,
trực
tiếp
tham

hiểu biết và
nhận
thức
của con
người.
Do đó, nếu có chế độ khai thác
hợp lý, bảo vệ và tôn tạo tài nguyên thì sẽ sử
dụng
được lâu dài, bền vững.
Tài nguyên du lịch vốn có sẵn
trong
thiên nhiên hoác
trong
đời
sống
xã hội
mà nhiều khi con người có muốn cũng không tạo ra được. Sau đó, do nhu cầu du
lịch,
con người mói đưa vào khai khác, vì vậy tài nguyên du lịch thường dễ khai
thác.
Hay nói một cách khác là con người thường lựa chọn
những
tổng
thể tự
nhiên,
những
sản
phẩm
văn hoa có giá trị hơn cả cho du lịch, do đó đầu tư tương
đối

du lịch phải đi đến tận nơi tổn tại các tài nguyên du lịch đó.
Do đó vị trí, đường sá và phương tiện
giao
thông
thuận
lợi sẽ làm tăng giá trị của
nguồn
tài nguyên.
Nắm
được
những
đặc điểm cơ bản này của tài nguyên du lịch mới có
những
phương hướng, biện pháp khai thác hợp lý và hiệu quả, đồng thời nâng cao giá trị
của chúng.
1.1.13. Vai trò
Đối
với việc phát triển du lịch, tài nguyên du lịch luôn đóng vai trò
quan
trọng.
Tài nguyên du lịch ảnh hưởng
trực
tiếp đến sự hình thành các sản
phẩm
du
lịch.
Tài nguyên du lịch càng đặc sắc, độc đáo thì giá trị của sản
phẩm
du lịch
càng cao.

thống,
qui mô lãnh thổ của hệ
thống.
Nắm
được vai trò
quan
trọng
của tài nguyên mới có
những
định'.hướng đúng
đắn
trong
việc tổ chức, phát triển du lịch.
1.1.2.
Nhu cẩu và cầu du
lịch
1.1.2.1. Nhu cầu du lịch
Trong cuộc
sống,
con người luôn luôn có
những
mong
muốn và
nguyện
vọng, hay còn gọi là nhu cầu. Bên cạnh
những
nhu cầu
thiết
yếu
trong

tảng
cường sự hiểu biết,
phục
hồi sức
khoẻ [30].
Nhu cầu
trong
du lịch rất đa
dạng

phong
phú, phụ
thuộc
rất nhiều vào
đặc điểm lãnh tế xã hội như: trình độ
nhận
thức,
tuổi tác,
nghề
nghiệp, thu
nhập

sở thích cá nhân Nhu cầu du lịch còn phụ
thuộc
vào tình
trạng
của
từng
gia đình,
từng

chất
và tinh
thần
theo
giá cả
nhất
định của hàng hoa du lịch. Như vậy là ở
đây
xuất
hiện một khái niệm nữa, đó là cầu du lịch.
Cầu
trong
du lịch là một bộ
phận
nhu cầu của xã hội có khả nâng
thanh
toán về hàng hoa vật
chất
và dịch vụ du lịch, đảm bảo sự đi
lại,
lưu trú tạm thời của
con người ngoài nơi ở thường xuyêacủa họ,
nhằm
mục đích
nghỉ
ngơi,
giải
trí, tìm
hiểu
vãn hoa,

chất
tự nhiên, các dịch vụ này chiếm
một
phần
đáng kể ương việc chi tiêu của khách du lịch.
Dịch vụ bổ
sung

những
dịch vụ
phục
vụ các yêu cầu, đòi hỏi rất đa
dạng
phát sinh
trong
chuyến du lịch như thông tin, liên lạc, giặt là, chăm sóc sức
khoe,
vui
chơi
giải
trí, thể
thao,
sửa
chữa
đồ đạc
Cầu
về hàng hoa bao gồm hai nhóm hàng cơ bản: hàng lưu niệm và hàng có
giá trị kinh tế. Hàng lưu niệm có tác
dụng
làm khách du lịch nhớ đến điểm du lịch.

như: mục đích du lịch, phương tiện đi du lịch, vị trí địa lý của nơi du lịch, thời
gian
đi du lịch, hình
thức
tổ
chức
chuyến đi, tài nguyên được sử
dụng
[59], [41].
Khi
dựa vào thời
gian
kéo dài của chuyến đi có thể phân chia thành: du lịch dài
ngày và du lịch
ngắn
ngày.
Loại
hình du lịch
ngắn
ngày thường tổ
chức
vào cuối
tuần,
được gọi là du lịch cuối
tuần
[59], [27]. Như vậy, du lịch cuối
tuần
thực
chất
chỉ là một

lên núi
tuyết )
Nghỉ
phép
Picnic
ngắn
ngày (kể cả
cuối
tuần)
Du lịch
Tiêu chí chính : Di chuyển trẽn 24 giờ
- Các hoạt động thể hao
- Các hoạt động văn hoa
- Các hoạt động vui chơi
giải
trí và vé với thiên nhiên
Giải trí
Tiêu chí
chính:
Động cơ vui vẻ
Hình 1.1. Du lịch cuối tuần theo phân loại của Lozato Giotardy 1987 [41]
Du
lịch cuối
tuần
xuất
hiện và dần dần trở nên phổ biến ở các nước có nền
công
nghiệp
phát triển như Châu Âu và Bắc Mỹ: Anh, Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Liên
Xô cũ là

ngơi tích cực sẽ
đem lại sức
khoe
cho con người,
giải
thoát họ khỏi
những
bế tắc, căng
thẳng.
Cũng
vì vậy mà Boniface và
Cooper
gọi
loại
hình du lịch này là "đi trốn
những
điểm tập
trung
dân cư và
những
trung
tâm công nghiệp" [65].
Theo
kết quả nghiên cứu của
Baud Bovy thì
những
thành phố có trên Ì triệu dân thường có tới 41% số hộ có
"ngôi nhà thứ hai" dùng để
nghỉ
cuối

dễ hoa
nhập
với thiên nhiên để du lịch,
nghỉ
ngơi. Thiên
nhiên
thực
sự đem lại nhiều điều thú vị đối với người dân thành phố vốn phải
sống
trong
những
điều
kiện
chưa
thật
thoải mái về chỗ ở, đường phố tắc
nghẽn,
ồn ào,
môi trường
xung
quanh
đã có dấu hiệu
hoặc
đã bị ô nhiễm
thực
sự [26]. Thường
thường, đối với
những
thành phố lớn ở Châu Au, các
hoạt

giới
hạn. Đa số các tác giả đều
cho
rằng
cần
giới
hạn bán kính các điểm
nghỉ
cuối
tuần
trong
khoảng
hai đến ba
giờ
di chuyển
hoặc
không quá
100-200km
phụ
thuộc
vào các
loại
phương tiện
khác
nhau
[99],
theo
Boniface thì
khoảng
2

yếu tố đã xem xét trên đây, có thể nói rằng: du lịch
cuối
tuần
là một
dạng
hoạt
động của dân cư các đô thị, thành phố, khu công
nghiệp
hoặc
nơi tập
trung
dân cư, vào
những
ngày
nghỉ
cuối
tuần,
ở vùng ngoại ỏ
hoặc
phụ cận, có điều
kiện
dễ hoa
nhập
nhất
với thiên nhiên,
nhằm
nghỉ
ngơi,
giải
trí,

Du lịch và
nghỉ
ngơi tích cực đóng vai trò
quan
trọng
trong
việc
tảng
cường sức
khoe,
tăng tuổi thọ và khả nâng lao động.
Việc
nghiên cứu y - sinh học cho
thấy,
nhờ có chế độ
nghỉ
ngơi và du lịch hợp lý mà có
thể giảm
trung
bình 30%
bệnh
tật cho nhân dân, còn
những
bệnh
phổ biến như tim
mạch thì giảm gần 50%,
bệnh
đường hô hấp giảm 40%, các
bệnh
thần

hình
thức
hoạt
động vàn hoa - xã hội bổ ích. Những
hoạt
động này giúp họ sử
dụng
thời
gian
nhàn rỗi một cách hợp lý hơn. Từ đó giảm
đi
những
tệ nạn xấu, giảm đi
những
thanh
thiếu niên hư.
15
Việc
tâng cường sức
khoe
cho nhân dân, làm tăng hiệu
suất
lao động của họ
cũng chính là ý
nghĩa
về mặt kinh tế của du lịch.
Việc
nghỉ
ngơi tích cực và du
lịch

ân, đòi hỏi nhiều lao động
sống

trong
nhiều trường hợp không thể cơ
giới
hoa được. Du lịch phát triển là tạo ra
nhiều việc làm và tạo điều
kiện
tăng thu
nhập
cho nhân dân địa phương. Điều đó
thực
sự có ý
nghĩa
quan
trọng,
nhất
là ở
những
nước đông dân, thiếu việc làm như
nước ta hiện nay. Du lịch cuối
tuần
có khả năng phân phối lại thu
nhập
giữa người
dân nông thôn và thành thị.
Du
lịch cuối
tuần

nguồn
nước và các lưu vực nước, xây
dựng
các công viên
Tất cả
những
việc đó đểu góp
phần
bảo vệ môi trường, tạo nên một môi trường
sinh thái lâu bền cho sự
sống.
Do
những
nhu cầu về du lịch cuối
tuần
mà ở nhiều thành phố đã hình thành
những
dải
rừng
hành
lang
bao
quanh,
những
mạng
lưới
các vườn
quốc
gia, khu bảo
tồn thiên nhiên ở các vùng phụ cận. Như vậy là tuy

nhiều vào sức ép đô thị, sự căng
thảng
trong
lao động, ô nhiễm tại nơi ở thường xuyên và số ngày
nghỉ
cuối
tuần
[41]. Thực tế, đây là xu hướng phát triển
chung
trên thế
giới
cũng như ở
Việt
Nam
trong
những
năm gần đây [76].
Du
lịch cuối
tuần
tuy chỉ là một
dạng
hoạt
động của du lịch
ngắn
ngày,
nhưng
trong
cấu trúc của toàn ngành du lịch ở nhiều nước, du lịch cuối
tuần

trong
một năm [84]. Người Pháp, đi
nghỉ
cuối
tuần
ở ngoại vi thành phố thường nhiều gấp mười lần so với số người đi
nghỉ
dài
ngày ở các điểm du lịch nổi tiếng cách xa thành phố [99]. Người dân Liên xô vào
thời kỳ hưng
thịnh
có tói gần 50% thường xuyên đi
nghỉ
cuối
tuần
[103],
Theo
kết
quả nghiên cứu của Baud-Bovy, ở các thành phố có trên một triệu dân, vào
những
ngày
nghỉ
cuối
tuần
hoặc
ngày
lễ,
số người rời khỏi thành phố để đến với các điểm
du lịch cuối
tuần

cuối
tuần
này lại chiếm
phần
lớn thời
gian
trong
quỹ ngày
nghỉ
cả năm của người lao động.
Theo
tính toán,
thời
gian
nghỉ
cuối
tuần

những
nước làm việc năm ngày một
tuần
chiếm tới 80%
17
í
SỐ
ngày được
nghỉ
trong
cả năm. Còn thời
gian

toàn bộ cấu trúc nhu
cầu du lịch
nghỉ
dưỡng, kết quả nghiên cứu cũng cho
thấy
nó chiếm một tỷ
trọng
rất lớn. Thí dụ như,
trong
toàn bộ nhu cầu du lịch
nghỉ
ngơi của nhân dân nước
Cộng hoa Adecbaizan, nhu cầu đối với các cơ sở
nghỉ
cuối
tuần
của người dân
nước này chiếm tới 60%. Trong khi đó nhu cầu đối vói tất cả các
loại
hình còn lại
chỉ chiếm 40% [99]. Vì vậy, nếu
thực
sự
quan
tâm đến việc
nghỉ
ngơi cho người
lao động thì du lịch cuối
tuần


[64],[65],
[83], [84],
[89], [99], [103] . Trên thế
giới
hiện nay cũng như ở
Việt
Nam, quá trình đô thị
hoa đang phát triển
manh,
vì vậy nhu cầu du lịch cuối
tuần
theo
đó ngày càng phát
triển; nhu cầu về tài nguyên cho việc phát triển du lịch ngày càng tăng lên. Vì vậy,
ý
nghĩa
của việc nghiên cứu phát triển các cơ sờ du lịch
nghỉ
ngơi cuối
tuần

ngoại vi các thành phố và
trung
tâm
cồng
nghiệp
cũng ngày càng
quan
trọng.
1.1.3.4. Các loại hình hoạt động

trong
những
mục đích
quan
trọng
của du lịch cuối
tuần.
Do công việc thường ngày căng
thẳng,
môi trường ồ nhiễm, các mối
quan
hệ
18
xã hội
phức
tạp
những
người đi
nghỉ
muốn tìm một nơi có không khí
trong
lành,
yên
tĩnh,
phong
cảnh
hữu tình để
nghỉ
ngơi,
tĩnh

nhật
căng
thảng
để
phục
hổi sức
khoe.
Trong chuyến đi có thể có kết hợp
tham
quan
nhưng không phải là cơ bản. Các
hoạt
động chủ yếu là vui chơi
giải
trí
như ở các công viên chuyên đề, các khu vui chơi
giải
trí, trên bãi biển, ven sông,
hổ,
các khu rừng thưa, rừng
trồng
Tham
quan:
mục đích của chuyến đi là
tham
quan,
khám phá, nhằm nâng
cao hiểu biết thế
giới
xung

hay say tàu xe,
những
người cao tuổi
hoặc
những
gia đình có trẻ nhỏ).
Thể
thao:
mục đích của chuyến đi là
tham
gia chơi các môn thể
thao,
để
nâng cao thể
chất,
phục
hồi sức
khoe
và thể hiện mình. Đây là
hoạt
động làm đáp
ứng lòng ham mê thể
thao
của mọi
người,
nhưng chỉ đơn
thuần
là để
giải
trí chứ

Tâm linh, tôn giáo:
loại
hình này
thoa
mãn nhu cầu về tâm linh, tín ngưỡng,
đặc biệt là đối với người cao tuổi. Vào
những
ngày
nghỉ,
người dân thường hay đến
các đền, chùa để đi lễ, vãn
cảnh.
Các đền chùa ở nước ta thường được xây
dựng

những
nơi có
phong
cảnh
thiên nhiên đẹp nên còn có thể kết hợp với
tham
quan,
ngắm
cảnh.
Đền chùa
cũng
thường là
những
nơi diễn ra các lễ hội, đặc biệt là vào
mùa xuân, vì vậy còn kết hợp vái

giá
theo
từng
thành
phần
và đánh giá
tổng
hợp) đã được tiến hành ở nhiều
quốc
gia
trên thế
giới.
Tuy nhiên, ở mỗi nước, mỗi khu vực khác
nhau,
các công trình này
được tiến hành
theo
những
hướng
khác
nhau.
1.2.1.
Trên
thế
giới
1.2.1.1. Nga và các nước Đông Ầu
Từ
những
năm
60-70,

các vùng du lịch
nghỉ
dưỡng
[97]. Công trình của L.I.Mukhina, 1973 về
lĩnh vực này có vai trò hết sức
quan
trọng.
Ong đã xảy
dựng
phương pháp luận
đánh giá
tổng
thể tự nhiên cho một
loại
hình
nghỉ
ngơi
giải
trí cụ thể, đó là
nghỉ
ngơi
tĩnh
tại cho
những
người cao tuổi
[100].
E.A.Kôtliarốp, 1978 tiến hành đánh
giá lãnh thổ
phục
vụ hình thành và phát triển các

những
đánh giá
chỉ
mang
tính khái quát, định tính. Các công trình nghiên cứu ở tỷ lệ lớn thường là
đánh giá các yếu tố của
cảnh
quan,
tức là
theo
phương pháp đánh giá
từng
thành
phần
chứ chưa đánh giá
tổng
hợp các phân hệ
thuộc
hệ
thống
lãnh thổ du lịch.
Các nhà địa lý
thuộc
các
quốc
gia khác
trong
khu vực cũng có
những
công

thuộc
các nước phương Tây từ lâu đã
tiến hành nghiên cứu, đánh giá tài nguyên du lịch
trong
các cống trình qui
hoạch
phát triển du lịch của
từng
địa phương cũng như
trong
cả nước. Baud Bôvy & Fred
Lauson, 1982; Clare A. Gunn, 1994; Edward
Inskeep,
1991; Boniface &
Cooper,
1993
đều cho
rằng
nghiên cứu và đánh giá tài nguyên du lịch là một bước cơ bản
trong
quá trình qui
hoạch
phát triển du lịch [64], [65], [76], [77]. Chính vì vậy,
trong
các tài
liệu
của mình, họ đều đề cập đến việc nghiên cứu tài nguyên du lịch
một cách khá chi tiết. Tuy các đánh giá này không tiến hành cho điểm như đánh
giá kỹ
thuật

tâm,
tuy họ cho
rằng
đây là vấn đề
phức
tạp và cần xác định cụ thể cho
từng
khu vực,

Trích đoạn khu vực HàNội và phụ cận A3 Kết hợp các đánh giá riêng vào đánh giá chung Phương pháp luận đánh giá Phương pháp đánh giá Đặc điểm tự nhiên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status