PHẦN I
LỜI MỞ ĐẦU
I Cơ sơ lý luận
1) Vai trò của bộ môn hóa học.
Hóa học là khoa học nghiên cứu các chất, sự biến đổi từ chất này
thành chất khác. Tính chất và ứng dụng của từng chất.
Hóa học có vai trò rất quan trọng trong đời sống của loài người. Con
người đã tìm ra những chất có sẵn trong tự nhiên và chế tạo những chất mới
phục vụ cho cuộc sống. Hóa học đã cung cấp nguyên liệu cho ngành công
nghiệp như dược phẩm, điện tử, phân bón, thuốc trừ sâu, xây dựng, thực
phẩm, vải giấy …
Tóm lại: khoa học hóa học là nền tảng đưa nhân loại vững bước vào
thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa. Vì vậy, việc dạy và học tốt môn hóa
học ở bậc trung học cơ sở (bậc đầu tiên học môn hóa) là rất cần thiết.
2) Vai trò của trực quan.
Từ vai trò quan trọng của bộ môn hóa học như đã nêu trên, trách
nhiệm của mỗi thầy cô giáo là phải giảng dạy cho học sinh hiểu được tầm
quan trọng của bộ môn thông qua từng bài học.
Ơû một bài học các em được tìm hiểu về một chất với những tính chất
nhất định, tìm hiểu về các khái niệm, về bản chất của các loại phản ứng, tìm
hiểu về sự biến đổi và ứng dụng của từng chất.
Trong từng bài các em được làm(quan sát) thí nghiệm, dó là phương
pháp trực quan. Trực quan là phương pháp mang tính lý thuyết. Trực quan
luôn hấp dẫn với học sinh. Trực quan gây được hứng thú, niềm mê say
nghiên cứu, tìm hiểu bản chất của vấn đề một cách đơn giản, hoàn thiện và
chính xác nhất.
Người thực hiện: Trần Thu Hương Tổ : Sinh – Hóa – Thể dục
Năm học: 2006 - 2007
1
Trực quan bao gồm: đồ dùng dạy học, thí nghiệm, thiết bị nghe nhìn,
mô hình, tranh ảnh, mẫu vật …
không dùng kẹp).
+Cách sắp xếp dụng cụ hóa chất(trong khay để trên bàn giáo
viên) còn lộn xộn, thiếu khoa học.
+ Lấy hóa chất xong quên không đậy nắp.
+ Lấy quá ít hoặc quá nhiều hóa chất.
+ Pha dung dịch trước khi giờ dạy mà không đậy nắp, không
ghi nhãn vào lọ.
+ Chỉ chú ý vào việc thí nghiệm mà không đặt câu hỏi khai thác
phù hợp với nội dung đang làm.
+ Dụng cụ học sinh làm thí nghiệm rửa không sạch.
+ Dùng giấy vệ sinh lau khô ống nghiệm…
III K ết luận.
Chính từ những vai trò quan trọng của việc làm thí nghiệm và tác
dụng của trắc nghiệm(như đã nêu trên).
Từ những thiếu sót của bản thân và một số đồng nghiệp qua việc làm
thí gnhiệm. Vì vậy, trong chuyên đề nhỏ “ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý
KHI LÀM THÍ NGHIỆM, SỬ DỤNG TRẮC NGHIỆM TRONG THÍ
NGHIỆM ”. Để cùng trao đổi và tìm ra giải pháp tốt nhất cho sự thành công
khi làm thí nghiệm.
Do năng lực của bản thân còn nhiều hạn chế, rất mong sự chỉ bảo của
các bạn đồng nghiệp chuyên môn và sự đóng góp ý kiến nhiệt tình của anh
chị em trong tổ.
Phần II
NỘI DUNG
A Một số vấn đề cần lưu ý khi làm thí nghiệm.
Người thực hiện: Trần Thu Hương Tổ : Sinh – Hóa – Thể dục
Năm học: 2006 - 2007
3
I Yêu cầu cơ bản của thí nghiệm.
Phải đảm bảo an toàn cho giáo viên và học sinh.
SO
4
làm thí
nghiệm vẫn được.
b) Hoá cụ
Người thực hiện: Trần Thu Hương Tổ : Sinh – Hóa – Thể dục
Năm học: 2006 - 2007
4
Giáo viên xác định trước bài này có mấy thí nghiệm, thí nghiệm
này chỉ có giáo viên làm hay cho mấy nhóm cùng làm? Dựa trên cơ sở đó,
giáo viên tính toán cần dùng những loại dụng cụ nào? Số lượng mỗi loại là
bao nhiêu? (Giáo viên ghi sẵn ra giấy nhỏ rồi mang vào phòng thiết bị lấy đủ
và đúng theo yêu cầu)
Phải có găng tay, áo blu, giấy thấm, khăn lau tay, chậu nước rửa
tay sau khi làm thí nghiệm.
Điều cần lưu ý nhất trong khâu chuẩn bị là:
Phải có hai khay: một khay đựng dụng cụ và hoá chất chưa làm,
một khay đựng dụng cụ và hoá chất đã làm.
Đánh dấu( cách ghi số, hoặc dán giấy khác màu)vào ống
nghiệm, ống hút, muỗng múc hoá chất, đũa khuấy, phễu rót …(tránh nhầm
lẫn khi dùng đũa khuấy dung dịch 1 lại đưa khuấy dung dịch 2).
Khi làm thí nghiệm nên mặc áo blu để tạo hình ảnh đẹp trong
mắt học sinh, gây hứng thú và giáo dục lý tưởng sống cho học sinh(tác
phong của người bác sĩ, nhà khoa học…).
Sau khi làm thí nghiệm phải có thau nước sạch rửa tay, khăn
lau tay để đảm bảo vệ sinh, sức khoẻ cho giáo viên và học sinh.
Chuẩn bị sẵn một cuộn giấy thấm(phòng khi lỡ tay đổ dung
dịch thì thấm cho nhanh)
2) Tiến hành làm thí nghiệm.
a) Nếu yêu cầu của bài học thí nghiệm đó phải làm trước
Giáo viên quy định bên trái(phía ngoài) là khay để dụng
cụ, hoá chất chuẩn bị làm. Khay bên phải (phía trong) là khay để dụng cụ,
hoá chất đã làm.
Người thực hiện: Trần Thu Hương Tổ : Sinh – Hóa – Thể dục
Năm học: 2006 - 2007
6
Giáo viên quy định ống nghiệm1, phểu 1, ly 1,
muỗng1… dùng pha dung dịch A; ống nghiệm2, phểu 2, ly 2, muỗng2…
dùng pha dung dịch B…
Nếu làm được như vậy sẽ tránh nhầm lẫn dẫn đến sai
kiến thức.
Ví dụ : giáo viên dùng cùng một đũa khuấy dung dịch
BaCl
2
sau đó lại khuấy dung dịch Na
2
SO
4
thì ngay tức thì dung dịch Na
2
SO
4
đã có vẫn đục mất tính trong suốt của dung dịch dẫn đến sai (bài tính chất
của muối – hoá học 9)
Sử dụng hoá chất:
Khi sử dụnh hoá chất cần lưu ý những điểm sau:
Người làm thí nghiệm phải mang đủ hai găng tay (tránh
tình trạng chỉ có giáo viên mang găng tay mà học sinh không mang).
Phải có kinh nghiệm trong việc lấy một lượng hoá chất
vừa phải, đủ dùng cho thí nghiệm (kinh nghiệm này do bản thân rút ra từ lần
Người thực hiện: Trần Thu Hương Tổ : Sinh – Hóa – Thể dục
Năm học: 2006 - 2007
7
Thí nghiệm đốt cháy P (đỏ) chỉ dùng 1 lượng nhỏ bằng
hạt đậu xanh là đủ.
Tuyệt đối không dùng một muỗng lấy nhiều loại hoá
chất.
Hoá chất lấy xong phải đậy nắp ngay (có tình trạng giáo
viên quên không đậy nắp lọ Na
2
CO
3
, sau buổi học lớp trên mặt lọ bị chảy
nhão dẫn đến hỏng hoá chất). Khi lấy hoá chất kết hợp hỏi học sinh để phát
huy quan sát và sự chú ý của học sinh (ví dụ : màu hoá chất? Thể? Dạng?
Mùi?).
FChú ý:
Có thể tận dụng kết quả thí nghiệm trước làm kết quả đối
chứng nổi bật cho thí nghiệm giờ sau.
Ví dụ 1 :trong bài mở đầu của hoá học 8, nếu để lại kết
quả thí nghiệm cho đinh sắt vào dung dịch HCl đến giờ sau thì mũi đinh bị
ăn mòn nhiều đã ngắn hơn đinh mới, chứng minh cho học sinh rõ ràng hơn.
Ví dụ 2: thí nghiệm giữa dây Cu và dung dịch AgNO
3
(bài 17 – hoá 9) nếu giáo viên để kết quả giờ trước làm so sánh với giờ sau
thì rõ hơn (lượng Ag (trắng) bám nhiều trên dây Cu hơn, mang tính thuyết
phục cao.
3) Giáo viên có hệ thống câu hỏi rõ ràng, cụ thể phù hợp với
từng giai đoạn của thí nghiệm để học sinh vừa quan sát vừa
nhận biết, so sánh và rút ra được nội dung của thí nghiệm
+ Dụng cụ phải rửa thật sạch và phơi khô tự nhiên (úp trên giá).
+ Tránh tình trạng dùng giấy vệ sinh lau khô ống nghiệm, như
vậy có bột giấy bám trên dụng cụ, khi làm thí nghiệm sau sẽ bị ảnh hưởng
đến độ trong của dung dịch.
Vì vậy tôi xin đưa ra một số ý kiến nhỏ như sau:
Người thực hiện: Trần Thu Hương Tổ : Sinh – Hóa – Thể dục
Năm học: 2006 - 2007
9
Giữa tiết này sang tiết khác thời gian rất ngắn không kịp rửa
dụng cụ ta nên cho rửa qua, rồi cuối tuần điều 3 đến 5 học sinh (có tính cẩn
thận) đem tất cả các dụng cụ đã làm ra rửa lại cho sạch công đoạn rửa dụng
cụ như sau:
Bước 1: Dùng xà phòng rửa chén rửa sạch dụng cụ bằng khăn
mềm, chổi rửa…
Bước 2: Dùng dung dịch giấm ăn ( CH
3
COOH 2 – 3%) ngâm
dụng cụ trong thau 30 phút.
Bước 3: Dùng kẹp vớt dụng cụ ra tráng lại bằng nước ấm
(50
0
C).
Bước 4 : Dùng kẹp vớt dụng cụ ra, úp ống nghiệm trên giá, cắm
đũa, muỗng trên các lỗ giá luôn cho gọn, phơi ngoài nắng gió cho khô.
Bước 5: Phân loại dụng cụ và bỏ vào trong hộp hoặc bịch bóng
trong để tránh bụi bẩn.
Như vậy dụng cụ sẽ sạch bóng và trong suốt khi; làm thí
nghiệm sau sẽ quan sát các hiện tượng dễ hơn.
B Vấn đề sử dụng trắc nghiệm vào thí nghiệm.
Cuối bài học giáo viên củng cố bài học theo nhiều phương pháp khác
(Đáp án là dung dịch NaOH)
b) Dạng 2
Dùng nhận nhanh tính chất , trạng thái của chất.
Ví dụ : Trong các axit sau đây, axit nào tác dụng được với đồng ?
a)HCl (lỏng) c)H
2
SO
4
(đặc nóng)
b)H
2
CO
3
(lỏng) d)H
2
SO
4
(lỏng)
(Đáp án đúng là c)
Dạng 3 :
Chọn một phương trình phản ứng đúng cho thí nghiệm
vừa làm (đúng cả trạng thái, màu sắc, điều kiện , công thức hoá
học…)
Ví dụ : Hãy chọn một phương trình phản ứng đúng cho thí nghiệm
nung nóng Cu(OH)
2
.
a)Cu(OH)
2(xanh đen)
Cu
(đen)
+ H
2
O
(lỏng)
(Đáp án đúng là d).
Dạng 4:
Người thực hiện: Trần Thu Hương Tổ : Sinh – Hóa – Thể dục
Năm học: 2006 - 2007
11
Thực hành: Dùng tranh vẽ mô tả thí nghiệm vừa học, yêu cầu học sinh
điền chất tham gia, sản phẩm hoặc xác định tên thí nghiệm.
Ví dụ : thí nghiệm như hình vẽ sau dùng để điều chế chất nào?
a) Khí oxy b) Khí Clo c) Khí Mêtan d) Khí Amoniac
( Đáp án đúng là b).
Thực hành 2: Chọn các chất phù hợp điền vào sơ đồ của thí nghiệm
bên ( hình 3.5 – sách giáo khoa hoá 9)
Phần III
KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CỦA CHUYÊN ĐỀ
1) Tiết dạy có thí nghiệm nhưng giáo viên không làm thí nghiệm
Giỏi Khá Trung bình Yếu kém
5% 10% 50% 35%
2) Tiết dạy có thí nghiệm, giáo viên có làm thí nghiệm nhưng không
dùng trắc nghiệm.
Giỏi Khá Trung bình Yếu kém
10% 20% 40% 25%
3) Tiết dạy có thí nghiệm, giáo viên làm thí nghiệm và sử trắc nghiệm
để củng cố bài.
Giỏi Khá Trung bình Yếu kém
16% 30% 39% 15%