SKKN THỦ THUẬT GIÚP HỌC SINH GHI NHỚ KIẾN THỨC MỚI TRONG MÔN TOÁN THCS - Pdf 26

THỦ THUẬT GIÚP HỌC SINH GHI NHỚ KIẾN THỨC MỚI
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Nghị quyết hội nghị lần thứ hai của ban chấp hành trung ương
Đảng Cộng Sản Việt Nam khoá VIII đã xác định : “Nhiệm vụ và mục
tiêu cơ bản của giáo dục là xây dựng những con người và thế hệ có
năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại, phát huy tiềm năng
dân tộc và con người Việt Nam, làm chủ tri thức khoa học và công
nghệ hiện đại, có đủ tư duy sáng tạo, có năng lực thực hành giỏi, có
tác phong công nghiệp, có tính kỷ luật và sức khoẻ.”
Dạy học là con đường cơ bản, đặc trưng của nhà trường, là con
đường quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ.
Giáo dục nhà trường là giáo dục ưu việt nhất, đã góp một phần rất
quan trọng cho việc thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Qua đó ta thấy được vai trò
hết sức quan trọng của người giáo viên, người làm công tác giáo dục .
Bên cạnh đó, trong thời đại kinh tế tri thức như hiện nay, với sự
phát triển như vũ bảo của khoa học kỹ thuật thì xuất hiện rất nhiều
nguồn tri thức mới, đòi hỏi người học phải nắm bắt để không thể lạc
hậu so với thời đại .Trong khi đó quỹ thời gian của học sinh nói chung
thì không thể nào mở rộng ra được nữa . Chính vì thế nhu cầu cấp
thiết lúc bấy giờ là phải làm sao giúp cho học sinh ghi nhớ được kiến
thức ngay trên lớp, tức là phải làm sao cho học sinh nắm được kiến
thức cơ bản cần phải nắm của bài học ngay trên lớp chứ không phải
đợi về nhà nghiền ngẫm rồi mới nắm được.Do vậy vai trò của người
giáo viên rất quan trọng, người giáo viên phải thể hiện vai trò chủ đạo
của mình, giúp cho học sinh chủ động, tích cực trong việc nắm tri thức
Trang 1
mà mình truyền đạt .Điều đó được thông qua các biện pháp, thủ thuật
mà người giáo viên sử dụng . Vậy biện pháp, thủ thuật nào mang đến
hiệu quả giáo dục cao và đáp ứng được nhu cầu mang tính thời sự của
giáo dục hiện nay là giúp học sinh ghi nhớ kiến thức tại lớp?

lao động, quản lí kinh tế, vào việc học các môn khác : vật lí, hoá
học,công nghệ
- Làm cho học sinh nắm được phương pháp suy nghĩ, suy luận,
phương pháp học tập để từ đó rèn luyện tư duy logic độc lập,
chính xác, linh hoạt và sáng tạo, phát triển trí tưởng tượng,
có tiềm lực tập dượt nghiên cứu khoa học, có khả năng tự học, có
hiểu biết về nhận thức duy vật biện chứng trong toán học .
- Rèn luyện, giáo dục cho học sinh ý thức làm chủ, lòng yêu nước
yêu chủ nghĩa xã hội,yêu lao động.
- Đảm bảo cho mọi học sinh đạt yêu cầu chất lượng phổ cập về toán
học, đồng thời chú trọng phát hiện và bồi dưỡng học sinh có năng
khiếu về toán học
c/ Vị trí và tầm quan trọng của môn toán:
- Môn toán trong nhà trường phổ thông đóng vai trò một môn học
công cụ vì ngôn ngữ toán học, kiến thức toán học, tư duy và phương
pháp toán học là cần thiết cho cuộc sống, cho việc học các môn khác
đặc biệt là các môn : vật lí, hoá học, kĩ thuật công nông nghiệp, công
nghệ học Nó còn cần cho việc rèn luyện tác phong khoa học : biết
Trang 3
cách đặt vấn đề phân tích, giải quyết vấn đề, kiểm tra cách giải quyết,
biết nhận ra các bản chất, biết phân loại các trường hợp, biết từ những
vấn đề riêng lẻ rút ra kết luận chung, biết áp dụng lí luận chung vào
những tình huống cụ thể, biết suy luận ngắn gọn chính xác, biết trình
bày rõ ràng mạch lạc .
- Môn toán còn giúp chúng ta rèn luyện nhiều đức tính quý báu khác
như: cần cù, nhẫn nại, ý chí vượt khó,yêu thích chính xác, ham
chuộng chân lí .
Dù phục vụ ở ngành nào, trong công tác nào thì các kiến thức
và phương pháp toán học cũng cần thiết .
2) Thực Trạng Dạy Học Toán Ơû Trường Phổ Thông:

Để giúp học sinh ghi nhớ kiến thức giáo viên cần hiểu quá trình
ghi nhớ là giai đoạn đầu của hoạt động nhớ cụ thể nào đó. Ghi nhớ
gồm hai loại: ghi nhớ không chủ định và ghi nhớ có chủ định.
- Ghi nhớ không chủ định: là loại ghi nhớ không cần đặt ra mục
đích từ trước, nó không đòi hỏi sự nổ lực nào của ý chí mà nó được
thực hiện một cách tự nhiên.
- Ghi nhớ có chủ định: là loại ghi nhớ cần đặt ra mục đích từ
trước, có sự cố gắng cũng như những thủ thuật, phương pháp ghi nhớ
xác định. Loại ghi nhớ này được thực hiện:
+ Ghi nhớ máy móc: ghi nhớ dựa trên sự lặp đi lặp lại nhiều
lần một cách đơn giản.
Trang 5
+ Ghi nhớ có ý nghĩa: là ghi nhơ ùđược dựa trên sự thông hiểu
nội dung tài liệu, trên sự nhận thức được từ mối liên hệ logic giữa
các bộ phận của tài liệu đó. Loại ghi nhớ này gắn với tư duy của
con người.
Dựa trên cơ sở này mỗi giáo viên đứng lớp đều có biên pháp, thủ
thuật riêng giúp học sinh ghi nhớ kiến thức mới. Nhưng nhìn chung
qua qúa trình giảng dạy tôi đã rút ra một số thủ thuật sau:
 Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần truyền đạt và hướng
dẫn kĩ các kiến thức trong sách giáo khoa, cần lột tả cho học sinh thấy
được những chỗ quan trọng trong bài, phải đoán trước những chỗ khó
đối với học sinh để giảng kĩ . Mục đích chính là sau khi nghe giảng
học sinh đã thuộc được nửa bài, có thể là trọn bài.
 Giáo viên phải không ngừng tạo ra tình huống có vấn đề để
các em học sinh tư duy, kích thích hứng thú tìm hiểu ở học sinh để tự
các em tìm lấy kiến thức cơ bản trong bài, như thế học sinh sẽ ghi nhớ
kiến thức lâu hơn.
VD
1

b
a
.: =
(b,c,d

0)
Bằng phép tương tự học sinh rút ra qui tắc phép chia phân thức
đại số , nhờ vậy các em dễ dàng ghi nhớ qui tắc này .
 Một thủ thuật giúp học sinh ghi nhớ kiến thức khá hữu
hiệu nữa là giáo viên thường gọi học sinh nhắc lại kiến thức mới
vừa học sau khi kết thúc một phần hay một mục của bài .
VD
5
: Sau khi học xong bài “Đường thẳng song song, đường
thẳng cắt nhau ” – (Toán 9, tập I) , Giáo viên yêu cầu học sinh :
Nêu điều kiện để đường thẳng (D): y = ax + b và đường thẳng
(D’): y = a’x + b’ căùt nhau , song song, trùng nhau ? Tìm các cặp
đường thẳng song song , cắt nhau , trùng nhau trong các đường thẳng
sau :
a) y = x + 3 b) y = -2x + 3 e) y = -x + 1
c) y = -2x + 1 d) y = -2x + 1 f) y = x – 2
Qua đó học sinh khắc sâu được dấu hiệu nhận biết hai đường
thẳng song song , cắt nhau , trùng nhau .
VD
6
: Sau khi hướng dẫn giải hệ phương trình bằng phương
pháp cộng – (Toán 9, tập I) , giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại các
bước để giải hệ phương trình :
Trang 7
B

b thay bởi b’ ( b’ =
2
b
)

thay bởi


thì các “hệ số” có mặt trong công thức tổng quát sẽ được ”thu gọn”,
không còn tồn tại ở công thức nghiệm thu gọn nữa .
 Bên cạnh đó , giáo viên cần liên hệ các kiến thức toán học
đang được học với các sự vật hiện tượng của đời sống thực tế bên
ngoài để các em khắc sâu được kiến thức. Từ đó mỗi lần các em nhìn
Trang 8
thấy, hay nghe nói về các sự vật, hiện tượng đó thì các em nhớ đến
kiến thức vừa học, nhớ đến bài học.
VD
9
: Dạy xong bài “ Vị trí tương đối của đường thẳng và đường
tròn”- (Toán 9, tập 1), giáo viên cho học sinh tìm trong thực tế hình
ảnh ba vị trí tương đối của đường thẳng và đường tròn .Học sinh tìm
và liên hệ hình ảnh vị trí mặt trời (đường tròn) với đường chân trời
( đường thẳng)  Từ đó mỗi lần thấy mặt trời đang lên các em lại liên
tưởng đến bài học .
VD
10
: Khi dạy bài : “Hình trụ – Diện tích xung quanh và thể tích
hình trụ” - (Toán 9, tập 2), giáo viên yêu cầu học sinh tìm các vật thể
xung quanh có dạng hình trụ , học sinh sẽ tìm thấy : bóng đèn Neon,
hộp sữa, một đoạn ống nước Từ đó cứ nhìn thấy các vật này các em

quả” lao động của mình.
Đối với lớp học sinh yếu, có thể sử dụng nhiều hơn thủ thuật cho
học sinh nhắc lại kiến thức quan trọng của bài, gắn Toán học với đời
sống, Đặc biệt là thủ thuật “Qui lạ về quen”.
KIỂM NGHIỆM THỰC TẾ
Qua nhiều năm áp dụng thủ thuật và biện pháp giúp học sinh ghi
nhớ kiến thức mới tôi thấy kết quả rất khả quan. Thái độ của học sinh
đối với giờ học Toán đã có sự chuyển biến tốt. Từ chỗ học sinh chỉ thụ
động lắng nghe, ghi chép kiến thức do giáo viên truyền đạt, các em đã
có sự tiến bộ: Chủ động, tích cực hơn trong các giờ học Toán. Tỉ lệ
học sinh nắm bài ngay tại lớp cũng tăng hơn so với lúc không áp dụng
Trang 10
thủ thuật và biện pháp trong dạy học. Đáng chú ý là chất lượng học
tập của học sinh có sự biến đổi theo chiều hướng tốt, ngày càng được
nâng cao hơn.
Cụ thể:
 Năm học 2004 – 2005:
Học kì I: Số học sinh đạt trung bình trở lên:
Lớp 9
3
: 74,3%
Lớp 9
5
: 77,4%
Số học sinh kém:
Lớp 9
3
: 8,6%
Lớp 9
5

: 91,7%
Trang 11
Số học sinh kém: 0%.
 Năm học 2006 – 2007:
Học kì I: Số học sinh đạt trung bình trở lên:
Lớp 9
1
: 65,7%
Lớp 9
3
: 36,1%
Số học sinh kém:
Lớp 9
1
: 11,4%
Lớp 9
3
: 25%
Cuối năm học: Số học sinh đạt trung bình trở lên:
Lớp 9
1
: 66,6%
Lớp 9
3
: 40%
Số học sinh kém:
Lớp 9
1
: 6,1%
Lớp 9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status