Một vài kinh nghiệm dạy học phần Di truyền và Biến dị trong Sinh học 9 theo phương pháp dạy học tích cực - Pdf 26

A . PHẦN MỞ ĐẦU
I . LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Năm học 2006 – 2007 là năm học tiếp tục triển khai đại trà chương trình giáo
dục phổ thông mới theo tinh thần nghị quyết 40 - 41 của Quốc hội khoá X của
Đảng cũng đã nhấn mạnh về công tác giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ như :
“đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung,
phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức cơ chế quản lý để tạo dược chuyển
biến cơ bản và toàn diện nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ giáo dục của
khu vực và thế giới; khắc phục cách đổi mới chắp vá, thiếu tầm nhìn tổng thể, thiếu
kế hoạch đồng bộ. Xây dựng nền giáo dục của dân, do dân, vì dân; bảo đảm công
bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học
tập suốt đời …”; cũng là năm tiếp theo triển khai thực hiện kết luận của hội nghị
Trung ương VI ( khoá IX ) về tiếp tục thực hiện nghị quyết Trung ương II ( khoá
VIII ) “ Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều,
rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của ngươì học. Từng bước áp dụng các phương
pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học đảm bảo điều kiện và
thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”
Định hướng này đã được pháp chế hoá trong luật giáo dục, Điều 24,25\ :
“phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động
sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học ; bồi dưỡng
phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động
đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Năm học 2006 – 2007 là năm học đầu tiên thực hiện cuộc vận động :
“ nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” đó cũng là
một động lực, là chủ trương sát đúng trong đánh giá chất lượng học tập của học sinh
và đó cũng là trách nhiệm của người giáo viên trong tình hình giáo dục luôn đổi mới
và phát triển .
1
Hiện nay, trong thực tế giảng dạy vẫn tồn tại phương pháp truyền thụ kiến
thức có sẵn, giáo viên lên lớp chủ yếu là giảng giải , thuyết trình . Học sinh chủ yếu
là nghe, ghi, trả lời một số câu hỏi của thầy và học thuộc lòng những điều thầy, cô

động và chắc chắn hơn .
VI. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU :
1. Đối tượng nghiên cứu
Đổi mới phương pháp dạy học là trọng tâm của đổi mới giáo dục hiện nay.
Với “Một vài kinh nghiệm dạy học phần Di truyền và Biến dị trong Sinh học 9
theo phương pháp dạy học tích cực”
2. Khách thể nghiên cứu
Bộ môn sinh học 9, trình độ học sinh của địa phương nơi nhà trường đứng
chân.
V . PHẠM VI NGHIÊN CỨU :
Đề tài này được vận dụng vào chương trình Sinh học lớp 9 của cấp học Trung
học cơ sở
VI . PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
Để thực hiện đề tài này tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu chính
như sau :
1 . Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục :
Qua dạy môn sinh học 6, đây là năm thứ 5 thực hiện thay sách giáo khoa áp
dụng phương pháp dạy học mới , với bản thân tôi và đồng nghiệp đã áp dụng
phương pháp dạy học tích cực , kết quả học tập của học sinh được nâng cao rõ rệt ,
như khi dạy mục : “ các loại rễ” ( sinh học 6 ), được tiến hành như sau :
3
Giáo viên yêu cầu học sinh đặt lên bàn các loại rễ đã chuẩn bị, để quan sát,
Học sinh trao đổi thảo luận nhóm để sắp xếp các loại rễ theo đặc điểm của
chúng.
Các nhóm báo cáo kết quả, cho biết rễ phân thành mấy loại. Sau đó các nhóm
bổ sung.
Giáo viên kết luận chung, rồi minh hoạ qua tranh
Với phương pháp dạy học này, học sinh nắm kiến thức một cách chủ động
hơn, chắc chắn hơn.
2. Phương pháp điều tra :

1, Phương pháp luận :
Phương pháp tích cực là một thuật ngữ rút gọn được dùng ở nhiều nước, để
chỉ những phương pháp giáo dục / dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của người học. “ Tích cực” trong phương pháp tích cực được dùng
với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ
không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực.
Phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá hoạt động
nhận thức của người học nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học
chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy. Hình thành và
phát triển tích cực là một điều kiện, đồng thời là kết quả của sự phát triển nhân cách
trong quá trình giáo dục.
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Rõ ràng là cách dạy chỉ đạo
cách học nhưng ngược lại thói quen học tập của trò có ảnh hưởng tới cách dạy của
thầy ….
Trong đổi mới phương pháp phải có sự hợp tác của thầy và trò, có sự phối
hợp hoạt động dạy với hoạt đôïng học thì mới thành công. Thuật ngữ :
“ phương pháp tích cực”hàm chứa cả phương pháp dạy và phương pháp học
Phương pháp dạy học tích cực được nêu ra những đặc trưng sau :
Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh. Trong phương
pháp tích cực, người học – đối tượng của hoạt động dạy, đồng thời là chủ thể của
hoạt động học – được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và
chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải tự
động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. Được đặt vào những tình
huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, thí nghiệm, giải
quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó vừa nắm được kiến thức, kĩ
năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức kĩ năng đó, không rập
theo khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo .
6
Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ đơn giản truyền đạt kiến thức mà
còn hướng dẫn hành động.

sống mà nhà trường cần phải trang bị cho học sinh.
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người
năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội thì việc kiểm tra đánh giá không thể
dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến
khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế .
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng
vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ
chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực
chiếm lĩnh kiến thức nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ
năng,thái độ theo yêu cầu của chương trình.
Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng
hiểu được khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so
với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai tròlà người gợi
mở, xúc tác, động viên , cố vấn , trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng,
tranh luận sôi nổi của học sinh. Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có
trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học
sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên .
2, Thực trạng dạy và học trước khi thực hiện đề tài :
Qua nhiều năm giảng dạy bộ môn sinh học ở cấp THCS và qua những năm
thực hiện thay sách đại trà từ lớp 6 đến lớp 9, tôi có những nhận xét như sau :
Đối với các lớp thay sách 6,7,8,9 đã phát huy tính tích cực của học sinh . Tuy
nhiên tính tích cực chưa thể hiện đồng bộ đối với học sinh trong lớp học . Điều này
do việc học và chuẩn bị bài ở nhà của học sinh chưa chu đáo , học sinh khi trả lời
câu hỏi còn dựa vào tóm tắt sách giáo khoa để trả lời. Hoạt động thảo luận nhóm
chưa bảo đảm tính trật tự, nghiêm túc, các thành viên trong nhóm chưa thật sự cùng
8
nhau bàn bạc mà còn dựa dẫm vào những học sinh khá, giỏi …. Nhìn chung chưa
phát huy được tính hoạt động tập thể.
Riêng lớp 9 khi tiếp xúc chương trình thay sách giáo khoa , học sinh phải đối mặt
với một khối kiến thức hoàn toàn mới , riêng phần Di truyền và Biến dị kiến thức rất

2005 - 2006 18% 38% 44%
Qua điều tra sơ bộ cho thấy chất lượng học tập của học sinh có tiến bộ hơn,
tuy nhiên con số dưới trung bình còn chiếm với tỉ lệ khá cao. Với trách nhiệm của
người dạy học tôi cần phải sử dụng phương pháp dạy học tích cực để nâng dần chất
lượng dạy và học hầu đáp ứng được yêu cầu giáo dục hiện tại và lâu dài .
Đối với phần Di truyền và Biến dị của môn sinh học 9, đây là loại kiến thức
vừa mới vừa trừu tượng, rất khó đối với học sinh. Để giúp học sinh nắm được kiến
thức phần này tôi đã chuẩn bị vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng
dạy như :
Xác định mục tiêu của bài học. Lựa chọn phương pháp phù hợp cho từng bài
học, thiết kế hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh,
chuẩn bị dụng cụ dạy học theo yêu cầu bài học, tổ chức hoạt động nhóm,kiểm tra
việc chuẩn bị bài ở nhà của học sinh, . …. Đó là yếu tố bên ngoài tác động đến sự
thành công của tiết dạy và liên quan đến chất lượng học tập của học sinh .
Bằng phương pháp dạy học tích cực, tôi đã áp dụng để dạy bài : “ Lai một cặp
tính trạng” như sau :
Mục tiêu bài học : học sinh phải hiểu được nội dung, mục đích và ứng dụng
của phép lai phân tích, phân biệt được hiện tượng di truyền trội hoàn toàn và trội
không hoàn toàn .
10
Tiến trình bài dạy :
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
1, Lai phân tích :
GV : yêu cầu HS nghiên cứu khái niệm
Kiểu gen ở sgk, nêu điểm giống nhau và
khác nhau của các kiểu gen sau : AA,Aa,
aa
GV: em hiểu thể đồng hợp trội, thể đồng
hợp lặn ,thể dị hợp là gì ?
GV: hãy xác định kiểu hình (KH)và kiểu

F
1
: Tỉ lệ KG : 1Aa : 1aa
Tỉ lệ KH : 1Hoa đỏ : 1 Hoa trắng
HS: KG AA và Aa đều biểu hiện ra
KH hoa đỏ
HS nêu được : cho tiến hành phép lai
như trên và dựa vào kết quả của phép
lai để xác định
11
GV kết luận : 2 phép lai trên gọi là phép
lai phân tích , em hãy cho biết : Thế nào
là lai phân tích? lai phân tích nhằm mục
đích gì ?
GV: để cũng cố nội dung kiến thức này,
cho HS làm bài tập điền từ ở cuối mục III
SGK
2, Ý nghĩa của tương quan trội – lặn :
Trong phần này , HS cần hiểu được tương
quan trội – lặn là hiện tượng phổ biến ở
thế giới sinh vật, việc xác định tương
quan này trong chọn giống vật nuôi , cây
trồng là cần thiết , từ đó thấy được ứng
dụng của lai phân tích
GV có thể sử dụng câu hỏi :
a, Tương quan trội – lặn được xác định
bằng cách nào ?
b, Việc xác định dược tương quan trội –lặn
trong chọn giống vật nuôi và cây trồng cóý
nghĩa gì ?

2
có tỉ lệ :
1hoa đỏ : 2hoa hồng : 1hoa trắng, vậy :
a, Hãy xác định KG của các cơ thể mang
tính trạng hoa đỏ, hoa hồng, hoa trắng .
b, So sánh KG và KH ở F
1
và F
2
trong 2
trường hợp trên
GV nêu câu hỏi để rèn kĩ năng suy luận ,
HS nêu được :
P: Hoa đỏ x Hoa trắng
AA aa
G: A a
F
1
: Aa (100% hoa đỏ)
Aa x Aa
G: A , a A , a
F
2
: 1AA : 2Aa : 1aa
Tỉ lệ kiểu hình : 3 hoa đỏ : 1 hoa trắng
a, HS : dựa vào tỉ lệ KG ở F
2
trong sơ
đồ lai : AA :hoa đỏ; Aa: hoa hồng;
aa; hoa trắng .

cơ thể mang tính trạng trội không? Tại sao
?
GV củng cố bằng cách cho HS làm bài
tập 3 trang 13 SGK .
và mẹ
HS nêu được : chỉ dùng lai phân tích
trong trường hợp trội hoàn toàn .

Cũng bằng phương pháp dạy học tích cực tôi đã áp dụng để dạy bài : “Di
truyền liên kết”. Đây là bài học khó đối với học sinh mà kiến thức có liên quan đến
mục “ lai phân tích” trong bài : “ lai một cặp tính trạng” của Men đen .
Trọng tâm của bài này là HS tìm hiểu được mối quan hệ về vị trí giữa gen và
nhiễm sắc thể ( NST).
Tiến trình bài dạy :
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
1,Thí nghiệm của Moocgan :
Dựa vào bài 4 và 5(SH9), GV yêu cầu HS giải
bài tập : xác định kết quả của phép lai phân tích
(LPT) cây đậu Hà lan F
1
hạt vàng trơn (AaBb).
GV cho học sinh nhắc lại khái niệm lai
phân tích và phải xác định được kết quả
HS nhắc lại khái niệm lai phân tích ở
bài 3 trang 11 SGK
HS xác định kết quả của phép lai :
14
của phép lai
Dựa vào các bài đã học ở chương 2,GV
nhấn mạnh 2 cặp gen Aa và Bb nằm trên

1
.
LPT: Hạt vàng trơn x Hạt xanh nhăn
AaBb aabb
G :1AB:1Ab:1aB:1ab ab
Fa: 1AaBb:1Aabb:1aaBb:1aabb
1hạt vàng trơn: 1hạt vàng nhăn:
1xanh trơn : 1xanh nhăn
HS làm việc độc lập : Đọc, nắm khái
quát về thí nghiệm của Moocgan
15
Để dẫn dắt HS giải thích kết quả của phép lai
GV đưa ra câu hỏi sau :
Cá thể (đen,cụt) trong phép lai phân tích
tích cho những loại giao tử nào ?
Từ tỉ lệ 1:1trong phép lai phân tích
suy ra con xám,dài F
1
tạo ra những loại
giao tử nào?
- Để có 2 loại giao tử BV và bv thì các
gen qui định màu sắc thân và hình dạng
cánh phải phân bố như thế nào trên NST?
GV yêu cầu HS viết sơ đồ KG để minh
hoạ sơ đồ KH nêu trên .
GV nêu câu hỏi : Hiện tượng di truyền
liên kết là gì ?
HS nêu được : đen,cụt trong lai phân
tích cho1 loại giao tử: bv
Xám,dài F

-Từ thông tin SGK em hãy cho biết số
lượng gen trên NST nhiều hay ít ?
-Sự phân bố của các gen trên NST như
thế nào?
Trong các phép lai phân tích ở đậu
Hà lan và ruồi giấm thì phép lai nào
không tạo tổ hợp khác P? Vì sao?
GV kết luận : liên kết gen ít tạo ra biến
dị tổ hợp (hoặc không), nhưng tạo ra sự
di truyền bền vững của từng nhóm tính
trạng được qui định bởi các gen trên một NST.
Củng cố: GV cho HS làm bài tập 4/43/SGK
HS nêu được khái niệm này đúng như
tóm tắt SGK trang 43.
- HS xác định được mỗi NST
thường chứa nhiều gen .
- HS xác định được các gen phân bố
theo chiều dài trên NST .
- HS xác định được phép lai ở
ruồi giấm, vì có hiện tượng liên kết
gen .
HS làm bài tập SGK trang 43.
4, Biện pháp phối hợp :
Để thực hiện và hoàn thành kinh nghiệm như đã nêu trên tôi đã vận dụng vào
sức mạnh của tập thể như : Tập thể hội đồng sư phạm hỗ trợ về một số kiến thức
liên quan đến lĩnh vực khoa học, xã hội; về vận dụng phương pháp để xử lí tình
huống bất ngờ hoặc một nội dung kiến thức khó …. Đối với học sinh việc học bài,
chuẩn bị bài ở nhà là quan trọng, do vậy trong phần cũng cố, dặn dò của tiết học tôi
dành thời gian đủ cho việc trả lời câu hỏi cuối SGK, hướng dẫn học bài cũ, chuẩn bị
cho bài mới : đọc trước các thông tin SGK, nếu phần kiến thức nào chưa biết, chưa

18
Kết quả học tập được thống kê như sau :
Thời gian Dưới TB Trên TB Khá , giỏi
2005-2006 18% 38% 44%
2006-2007 15% 40% 45%
7, Bài học kinh nghiệm :
Để có được kết quả dạy và học như trên người giáo viên phải có tâm huyết
với nghề .
Nhận thức được yêu cầu phát triển của giáo dục nói riêng và phát triển về
mọi mặt của xã hội nói chung. Nên đòi hỏi việc đầu tư tốt cho một tiết học bằng
cách áp dụng những phương pháp dạy học tích cực phù hợp với đối tượng học sinh
của mình …. Bên cạnh đó còn cần sự hỗ trợ của chuyên môn nhà trường, gia đình,
các đoàn thể…., để giáo dục học sinh phát triển cả về đức, trí, thể, mĩ …

19
C . PHẦN KẾT LUẬN CHUNG :
Như vậy, đổi mới dạy và học hiện nay là hướng tới học tập chủ động, chống
thói quen học tập thụ động. Phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hoá,
tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học. Đây là một nhóm các phương
pháp dạy học có những đặc trưng chung là :
Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh,
Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Tăng cường học tập cá nhân phối hợp với học tập hợp tác
Kết hợp đánh giá của thầy với đánh giá của trò .
Aùp dụng phương pháp tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp
truyền thống.Trong môn sinh học, cần phát triển các phương pháp thực hành, các
phương pháp trực quan theo kiểu tìm tòi bộ phận hoặc nghiên cứu phát hiện, giải
quyết vấn đề.Cần kế thừa những mặt tích cực của phương pháp truyền thống, đồng
thời phải học tập vận dụng một số phương pháp dạy học mới phù hợp với đối tượng
học sinh .

65% 7% 24% 4% 2006-2007
2, Câu hỏi mở :
Theo anh (chị), chúng ta nên có những biện pháp gì để nâng cao chất lượng
học môn sinh học 9 ?
Vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào bộ môn SH9 .
Kết quả đạt được theo mẫu phiếu điều tra sau :
Thời gian Dưới TB Trên TB Khá , giỏi
2005 – 2006 40% 48% 12%
2006 – 2007 37% 45% 18%
2007 – 2008 33% 46% 21%
2008 – 2009 18% 38% 44%
2009- 2010 15% 40% 45%

22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status