SKKN Một số biện pháp giả toán có lời văn cho học sinh lớp 4 vùng dân tộc - Pdf 26

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong môn Toán lớp 4 các bài toán có lời văn chiếm vị trí quan trọng. Nó xuất
hiện ở các khâu trong quá trình dạy học toán, một phần lớn thời gian học toán của học
sinh dành cho việc giải các bài toán ấy. Kết quả học toán của học sinh được đánh giá
trước hết qua khả năng giải toán. Các em biết giải thành thạo các bài toán là tiêu
chuẩn đánh giá mỗi học sinh. Việc giải toán ở lớp 4 không chỉ hệ thống, củng cố việc
giải toán ở các lớp dưới, tạo cơ sở cho việc giải toán ở lớp 5 mà còn giúp các em củng
cố, vận dụng và hiểu sâu sắc thêm tất cả kiến thức về số học, đo lường, về các yếu tố
đại số, các yếu tố hình học đã học trong môn toán ở các lớp dưới và lớp 4. Hơn nữa,
phần lớn các biểu tượng, các khái niệm, các quy tắc, tính chất toán học ở lớp 4 đều
được tiếp thu qua con đường giải toán. Trong việc giải toán có lời văn đối với các em
vô cùng khó khăn. Các em thường đặt dấu của phép tính theo cảm tính, không cộng
thì trừ, không trừ thì nhân hoặc chia, may ra thì đúng, khi giáo viên đặt câu hỏi để
kiểm tra việc hiểu bài thì các em không trả lời được. Phần lớn đặt lời giải cho từng
phép tính thì đa số các em rất sợ và muốn lẩn tránh nó. Vì sao vậy ? Tôi cố gắng tìm
hiểu và thấy được vốn từ của các em rất nghèo nàn, khả năng hiểu nghĩa của từ hạn
chế, khả năng tư duy thiếu linh hoạt, sự chú ý, quan sát tưởng tượng kém, nhiều em
việc lĩnh hội kiến thức ở các lớp dưới không đầy đủ, thiếu vững chắc, thái độ thờ ơ với
việc giải toán, thiếu cố gắng.
Địa bàn nơi công tác 100% dân tộc thiểu số là người Banah, Jơrai nên gặp nhiều
khó khăn, các em sinh sống ở địa bàn xa xôi, tách biệt người Kinh. Trong sinh hoạt và
giao tiếp hằng ngày các cử chỉ sử dụng tiếng địa phương. Do đó vốn ngôn ngữ phổ
thông ở các em rất hạn chế, dẫn đến việc tiếp thu rất chậm (trong đó có cả môn toán
có lời văn). Các em là con em của gia đình nông dân nên đời sống kinh tế của gia đình
khó khăn, hầu hết số dân đông đều mù chữ nên họ không thể dạy dỗ thêm cho con em
ở nhà .
Từ thực tế trên tôi tìm nhiều biện pháp giúp các em tự mình giải được bài toán có
lời văn. Trong đó một số biện pháp mà tôi thử nghiệm hơn một năm qua cho học sinh
lớp 4 năm học trước, kết quả cho thấy việc giải toán có lời văn của học sinh trong lớp
có bước chuyển biến vượt bậc. Do vậy năm học 2013 - 2014 tôi áp dụng biện pháp
đó mà cải biến theo tình hình của lớp, giúp các em giải toán có lời văn trong năm học

trên lớp .
- Một số giáo viên tiến hành dạy môn toán với xu hướng song song, các bước trên
lớp rồi buông xuôi kết quả, về chất lượng tiếp thu bài của học sinh thì không quan tâm
đến .
- Chưa gây hứng thú học tập trong tiết học cho học sinh .
- Hệ thống các câu hỏi chưa rõ ràng .
* Học sinh
- Đa số học sinh không nhớ các dạng bài toán giải, không xác định được trọng
tâm của bài, không tìm ra cách giải của bài toán, còn lúng túng khi thực hiện các phép
tính, sai cách viết lời giải, và ghi tên đơn vị .
- Không nhớ bảng cửu chương, công thức, khái niệm, quy tắc, biểu tượng.
- Học sinh đọc chậm, nhận biết nội dung bài toán không đúng.
- Không biết áp dụng công thức vào giải toán .
- Chưa có ý thức tự học ở nhà .
1.2.2 Nguyên nhân khách quan :
- Trong thời gian ba tháng nghỉ hè, học sinh không ôn lại bài cũ nên chóng quên
hết kiến thức đã học ở năm qua .
- Các em là con em của gia đình nông dân, phần nhiều phụ huynh các em trình độ
văn hoá còn thấp hầu hết số dân đông đều mù chữ, không thể kèm cặp các em ở nhà.
- Do vốn ngôn ngữ phổ thông ở các em rất hạn chế, dẫn đến việc tiếp thu rất chậm.

CHƯƠNG 2 :
BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
2.1 Mục tiêu.
Nội dung giải toán có lời văn ở lớp 4 đã kế thừa bổ sung và phát triển nội dung
dạy học giải toán có lời văn ở các lớp 1, 2, 3. Chẳng hạn học sinh được giải tiếp các
bài toán bằng một phép tính liên quan đến ý nghĩa của các phép tính: cộng, trừ, nhân,
chia với các số tự nhiên có nhiều chữ số hoặc với các phân số (mới học ở lớp 4). Tiếp
tục giải các bài toán chủ yếu có lời văn không quá 3 phép tính, làm quen với các bài
toán giải theo các bước hoặc công thức, công thức giải được tiếp cận các bài toán đa

+ Linh hoạt áp dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Ở lớp 4 nên
khuyến khích học sinh phối hợp giữa học cá nhân, học theo nhóm nhỏ, học theo tổ,
và độc lập suy nghĩ trong học và làm bài.
+ Chỉ sử dụng thiết bị dạy học khi thực sự cần thiết: tạo điều kiện cho học sinh tự
huy động các kiến thức và kinh nghiệm đã có để phát hiện và giải quyết các vấn đề
của bài học, bài tập, hướng dẫn học sinh tập nêu nhận xét hoặc kết luận ở trọng tâm
khái quát hơn .
+ Trang trí phòng học để có môi trường học tập hấp dẫn, tạo tâm thế sẵn sàng
học tập của học sinh .
+ Luôn tạo bầu không khí thân thiện, hợp tác giữa giáo viên và học sinh, học sinh
và học sinh, giúp học sinh tự tin và có niềm tin trong học tập.
+ Tôn trọng khuyến khích sự tham gia của mọi đối tượng học sinh trong các hoạt
động học tập toán. Động viên và hướng dẫn học sinh tự đánh giá kết quả học tập của
bản thân, của bạn một cách khách quan, trung thực.
Để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy
học là một trong những trọng tâm của đổi mới phương pháp dạy học toán ở tiểu học.
Đây là việc làm đòi hỏi người giáo viên phải có quyết tâm cao và kiên trì trong nhiều
năm. Trong dạy học học Toán 4 có thể phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh như sau :
@ Khi dạy bài mới giáo viên nên :
- Tổ chức, hướng dẫn học sinh tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bài học
bằng cách :
+ Hướng dẫn học sinh tự phát hiện vấn đề của bài học rồi tổ chức cho học sinh
huy động những hiểu biết của bản thân (hoặc của một nhóm) để lập mối quan hệ giữa
vấn đề mới phát hiện với các kiến thức thích hợp đã biết, từ đó tự tìm cách giải quyết
vấn đề.
+ Trân trọng, khuyến khích mọi cách giải quyết vấn đề của học sinh và giúp đỡ
học sinh lựa chọn cách giải quyết hợp lý nhất .
- Từ đó tổ chức thực hành, vận dụng kiến thức mới học ngay trong tiết dạy học
bài mới để học sinh thực hành làm các bài tập ngay tại lớp, góp phần giúp học sinh tự

bằng tay:
Hãy lập sơ đồ để phân tích bài toán .
Sau lệnh này mọi học sinh đều phải cố gắng suy nghĩ để lập nên một sơ đồ:
Cả hai mảnh vải
Xanh + Trắng
Xanh x 7
Giáo viên dễ phát hiện được những học sinh không chịu suy nghĩ để nhắc nhở,
học sinh nào còn lúng túng giáo viên kịp thời giúp đỡ có thể biết (chỉ cần đi lướt qua
một lượt để quan sát học sinh ).
Như vậy dạy theo cách đưa ra hệ thống lệnh làm việc, đã phát huy tính tích cực
học tập đối với học sinh, làm cho học sinh thích thú và tự hào khi tự mình đã thiết lập
được cách giải của bài toán
@Khi dạy học các tiết học luyện tập, luyện tập chung, thực hành, ôn tập nên:
+ Giúp học sinh tự phát hiện ra mối quan hệ giữa bài tập và các kiến thức đã học,
từ đó học sinh biết lựa chọn sử dụng những kiến thức thích hợp để giải bài tập.
+ Giúp học sinh tự luyện tập, thực hành theo từng khả năng của từng học sinh,
tránh cách dạy học “đồng loạt”, “bình quân”. Giáo viên cần quan tâm đúng mức đến
từng đối tượng học sinh khi tổ chức cho học sinh làm bài, chữa bài .
+ Khuyến khích sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh bằng cách phối hợp
giữa làm bài tập của từng cá nhân với trao đổi ý kiến trong nhóm về cách giải của bạn
để tự rút kinh nghiệm và hoàn chỉnh cách giải của bản thân. Không khuyến khích hiện
tượng làm hộ. Thiếu tự lực hoặc thiếu trung thực khi làm bài.
* Về phía học sinh giáo viên nên :
+ Ôn nhớ bảng cửu chương, công thức, khái niệm, quy tắc, biểu tượng, … đã
học.
+ Tập cho học sinh có thói quen tự kiểm tra, tự đánh giá, tự rút kinh nghiệm khi
làm bài và chữa bài.
+ Trước khi làm bài tập giáo viên nên cho học sinh đọc thật kỹ đề toán, xác định
rõ đâu là cái đã cho, đâu là cái cần tìm, rồi hướng học sinh tập trung suy nghĩ vào tìm
từ quan trọng của đề toán, nếu từ quan trọng nào học sinh chưa hiểu nghĩa thì giáo

+ Muốn tính cạnh của khu đất hình vuông ta làm thế nào? (Lấy chu vi chia cho 4)
Từ suy nghĩ trên đi ngược từ dưới lên ta có trình tự giải toán:
Cạnh khu đất hình vuông là:
208 : 4 = 52 (m)
Diện tích hình vuông là:
52 x 52 = 2704 (m
2
)
Đáp số : 2704 m
2
Ví dụ: Một trại gà có 234 con gà đẻ và có số gà con gấp 4 lần gà đẻ. Hỏi trại gà đó
có bao nhiêu con gà con?
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh tập trung suy nghĩ vào:
+ Các sự kiện: Có 234 con gà đẻ
Số gà con gấp 4 lần gà đẻ
+ Từ quan trọng : gấp 4 lần
+ Câu hỏi: Có bao nhiêu con gà con?
Vẫn hướng dẫn học sinh dựa vào từ “Gấp” để chọn dấu phép tính và dựa vào các
dữ kiện để viết các thành phần trong các phép tính giải có để cách một dòng
……………………………………………………………………………………
234 x 4 = 936 (con)
Sau đó học sinh dựa vào câu hỏi của bài toán để đặt lời giải , chỉ sửa lại một chút
là được câu lời giải là :
Số con gà con của trại đó có là :
rồi viết vào dòng đã để cách ở trên .
Sau đó giáo viên đặt câu hỏi để học sinh nhớ lại loại toán đã học ở lớp 3 là "Gấp
một số lên nhiều lần" và chốt lại cách giải loại toán đó là :
" Lấy số đó nhân với số lần "
Mỗi khi gặp loại toán này giáo viên giúp học sinh củng cố lại kiến thức đã học
ở lớp 3 để khắc sâu cách giải toán có lời văn cho học sinh.

- Bài toán hỏi gì ? (Tìm kẹo của em, kẹo của chị )
Giáo viên nêu: Số kẹo của em, số kẹo của chị (chính là 2 số phải tìm )
- Số lớn là kẹo của ai (kẹo của em )
- Số bé là kẹo của ai ( kẹo của chị )
Giáo viên ghi : Số lớn
Số bé
- Ta biểu diễn số lớn bằng đoạn thẳng như thế nào? (dài )
- Ta biểu diễn số bé bằng đoạn thẳng như thế nào? (ngắn )
Ngắn hơn mấy ?(ngắn hơn 2)
Giáo viên kẻ tiếp 2 đoạn thẳng bên cạnh từ : "Số lớn" "Số bé "
- Bài toán cho biết gì ? (có tất cả 10 cái kẹo, em hơn chị 2 cái )
- Giáo viên hướng dẫn học sinh ghi 10 và 2 lên sơ đồ ;
Số lớn :
Số bé :
- Nhìn trên sơ đồ tóm tắt em và chị được mấy cái kẹo ?( 10 )
- Vậy số kẹo của hai chị em được gọi là gì ? (tổng)
Tức là: kẹo chị + kẹo em = 10
Em nhiều hơn chị mấy kẹo ? (2 )
- Vậy số kẹo của em nhiều hơn chị được gọi là gì ? (hiệu )
- Giáo viên chỉ vào 2 :
"2" gọi là hiệu : Tức là số kẹo của em - số kẹo của chị = 2
2
?
?
2
10
- Gi áo viên biểu diễn tiếp tiếp câu hỏi trên sơ đồ và nêu :
Ta có bài toán :"Tìm hai số biết tổng của chúng là 10 và hiệu của chúng là 2 "
Học sinh tóm tắt và nhắc lại bài toán .
+ Giáo viên hướng dẫn giải trên sơ đồ :

chị em (chị nhận phần thưởng có 2 dấu chấm tròn ) màu khác .
Sau khi hình thành xong cách giải loại toán điển hình, giáo viên cho học sinh giải
một số bài tương tự với bài mẫu. Song thay đổi số liệu, văn cảnh để rèn kỹ năng nhận
dạng loại toán và giải bài toán. Sau giải các bài phức tạp dần .
2.2 .2 Phần giải toán có nội dung hình học :
So với lớp 1, 2, 3; số tiết về hình học ở lớp 4 tăng lên khá nhiều, song về phương
pháp giảng dạy thì chủ yếu vẫn là thông qua các hoạt động thực hành hình học( đo, vẽ,
cắt, gấp, xếp… hình ) để giúp học sinh nắm được một số tính chất đơn giản của các
hình các quan hệ hình học. Vì thế cần cố gắng tổ chức các hoạt động thực hành trong
tất cả các tiết học và dành riêng một số giờ học hoàn toàn cho công tác thực hành
đúng như chương trình quy định.
Thông qua so sánh, đối chiếu các “ khái niệm”, các công thức hình học để giúp
học sinh nắm vững các kiến thức .
Ví dụ : So sánh cách tính diện tích hai hình; hình bình hành và hình chữ nhật để
thấy : Diện tích của hình bình hành thì bằng diện tích hình chữ nhật có độ dài đáy
bằng chiều dài, chiều cao bằng chiều rộng .
Cần kết hợp chặt chẽ việc giảng dạy hình học với Số học, Đo lường, Giải toán
chẳng hạn :
- Kết hợp việc dạy giải các bài toán điển hình: Tìm hai số biết tổng và hiệu của
chúng ( hoặc tổng và tỉ số của chúng ); so với các bài toán về chu vi, diện tích hình
chữ nhật như: “Tính diện tích hình chữ nhật có chu vi là 120 m biết chiều dài hơn
chiều rộng 30 m ( hoặc chiều dài gấp 3 lần chiều rộng )
- Kết hợp việc dạy về diện tích hình vuông với quan hệ giữa các đơn vị diện tích
như : vì 1 dm = 10 cm nên diện tích hình vuông có cạnh dài 1 dm là: 10 x 10 = 100
(cm
2
). Suy ra 1 dm
2
= 100 cm
2

đồng nghiệp trong trường hưởng ứng rất sôi nổi, mạnh mẽ. Là một giáo viên giảng
dạy tại trường thuộc địa bàn khó khăn tôi nhận thấy rất rõ những điều này và tôi đã áp
dụng vào thực tiễn, kết quả đạt được như mong muốn trong năm học vừa qua.
3.1 Kết quả đạt được :
Những việc làm trên được tiến hành trong suốt học kỳ I. Chất lượng khảo sát chất
lượng môn toán học kỳ I đạt như sau :
Tổng
số học
sinh
20
Giỏi Khá Trung bình Yếu
Số
lượng
Tỷ lệ Số
lượng
Tỷ lệ Số
lượng
Tỷ lệ Số
lượng
Tỷ lệ
3 15 % 7 35 % 8 40 % 2 10%
Xác nhận của Ban giám hiệu.

3.2 Bài học kinh nghiệm :
Để các em học sinh dân tộc tự biết giải toán có lời văn, không phải giáo viên cứ
đặt một số câu hỏi thông thường để hướng dẫn, rồi bắt các em tự làm mà các em tự
làm được bài, hiểu sâu sắc cách giải bài toán và chất lượng môn học sẽ đem lại theo ý
muốn mà người giáo viên phải hiểu đặc điểm của các em, nắm bắt được các em thiếu
gì, cần bù đắp gì và làm thế nào các em mới hiểu được và tìm mọi cách giúp đỡ các
em .

Đăktơver , ngày 15 tháng 3 năm 2014
Người viết
VÕ TRẤN PHƯƠNG


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status