Chuyển giá tại các công ty đa quốc gia (MNC) - Pdf 26

Vấn đề: Chuyển giá tại các công ty đa quốc gia (MNC)
I. Khái niệm chuyển giá và chuyển giá tài chính và các trường hợp chuyển giá trong thực tế
1. Khái niệm (khai, ha, nhung)
2. Phạm vi chuyển giá (khai, ha,nhung)
3. Các trường hợp (Viet)
II. Thực trạng và tác hại của tình trạng chuyển giá đối với nền kinh tế Việt Nam
1. Thực trạng chung về vấn đề chuyển giá ở Việt Nam (Xuyen, Thuyen)
2. Một ví dụ về tình trạng chuyển giá ngành ô tô (Xuyen, Thuyen)
3. Tác hại đối với nền kinh tế (tra)
III. Giải pháp cho vấn đề chuyển giá
1. Kinh nghiệm giải quyết vấn đề chuyển giá ở các quốc gia khác (Phượng, Thao, quynh, nga)
2. Giải pháp cho Việt Nam (đưa ra những đề xuất từ thực tế)(thanh)
TIỂU LUẬN
I. Khái niệm chuyển giá và chuyển giá tài chính và các trường hợp chuyển giá
trong thực tế
1. Khái niệm
Chuyển giá (tranfer pricing): là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản
được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm
tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia trên toàn cầu.
Như vậy, chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm thay đổi giá trị trao
đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết. Hành vi ấy có đối tượng tác động chính
là giá cả. Sở dĩ giá cả có thể xác định lại trong những giao dịch như thế xuất phát từ ba lý do sau:
Thứ nhất, xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể hoàn toàn có quyền
quyết định giá cả của một giao dịch. Do đó họ hoàn toàn có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ
với giá họ mong muốn.
Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết nên sự khác biệt về
giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi
ích toàn cục.
Thứ ba, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm liên kết không
thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của họ. Thông qua việc
định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết cao sang nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược

Một số trường hợp chuyển giá tiêu biểu:
- Nâng giá trị vốn góp: Trong quá trình đầu tư vào một nước để sản xuất kinh doanh, do các MNC
có máy móc thiết bị công nghệ hiện đại nên các MNC sẽ tiến hành góp vốn bằng máy móc thiết bị
và công nghệ hiện đại. Do phía nước nhận đầu tư chưa có đủ năng lực và trình độ để thẩm định giá
các loại thiết bị công nghệ hiện đại này nên thường sẽ bị các đối tác nước ngoài định giá các thiết
bị, công nghệ cao hơn giá trị thực tế của chúng. Việc định giá cao sẽ làm nâng giá trị vốn góp
trong liên doanh của bên đối tác và chiếm lấy quyền quản trị công ty. Việc định giá cao thiết bị
máy móc đầu tư ban đầu đã giúp cho các MNC chuyển một lượng tiền đi ngược trở ra cho công ty
mẹ ngay từ lúc đầu tư và thông qua chi phí khấu hao hàng năm sẽ làm cho nhà nước nhận đầu tư
thất thu thuế
- Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ: các MNC còn thực hiện việc chuyển giá thông
qua việc chuyển giao công nghệ bằng cách thu phí tiền bản quyền, đây là một loại chi phí chiếm tỷ
trọng lớn do khấu hao giá trị tài sản cố định vô hình. Khi đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì
tình trạng kinh doanh của công ty sẽ bị thua lỗ kéo dài qua các năm, nguyên nhân chủ yếu là do
phải trả cho chi phí bản quyền quá cao và tăng dần qua các năm. Trong tình hình công ty liên
doanh thường xuyên thua lỗ, phía liên doanh nước nhận đầu tư sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhưng
ngược lại phía các MNC vẫn không hề hấn gì vì họ vẫn nhận đủ tiền bản quyền từ nhãn hiệu và
tiền bản quyền lại có xu hướng ngày càng tăng ngày càng tăng.
- Chuyển giá nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường: Các MNC khi đi vào đầu tư kinh doanh tại
một quốc gia thì họ thường sẽ thích liên doanh với một công ty nội địa hơn là vào đầu tư thẳng là
công ty 100% vốn nước ngoài. Nguyên nhân là các MNC này muốn sử dụng hệ thống phân phối
và thị phần có sẵn của các công ty nội địa. Sau một thời gian liên doanh thì các MNC này sẽ dùng
các thủ thuật khác nhau, trong đó có thủ thuật chuyển giá để đẩy công ty nội địa ra và chuyển công
ty liên doanh thành công ty 100% vốn nước ngoài. Các thủ thuật này chủ yếu là làm nâng lên chi
phí hoạt động của công ty con, công ty con sẽ báo lỗ liên tục trong nhiều năm nhưng vẫn tiếp tục
mở rộng hoạt động.
3. Dấu hiệu chuyển giá
- Thứ nhất, biểu hiện cụ thể của hành vi chuyển giá là giao kết về giá. Giao dịch liên kết với giao
dịch độc lập được hiểu là việc so sánh giữa giao dịch liên kết với giao dịch độc lập hoặc so sánh
giữa các DN thực hiện giao dịch liên kết với DN thực hiện giao dịch độc lập. Việc so sánh được

Nam là Công ty cổ phần (CTCP) Gạch men Chang Yih (CYC), CTCP Full Power (FPC), CTCP
Mirae (KMR), CTCP Công nghiệp gốm sứ Taicera (TCR), CTCP Công nghiệp Tung Kuang
(TKU), CTCP Dây và Cáp điện Taya Việt Nam (TYA), CTCP Bourbon Tây Ninh (SBT), CTCP
Quốc tế Hoàng Gia (RIC) và CTCP Thực phẩm quốc tế (IFS).
Trong xu thế chung của thị trường chứng khoán, giá của các cổ phiếu này cũng có nhiều biến động
theo hướng giảm xuống, từ 30.000 - 40.000 đồng/cổ phiếu khi mới niêm yết xuống chỉ còn quanh
ở 10.000 đồng/cổ phiếu tại thời điểm hiện nay.
Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho rằng, sự giảm giá cổ phiếu của các doanh nghiệp FDI này chịu
ảnh hưởng từ các khoản lỗ lớn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó
có việc thua lỗ do thủ thuật chuyển giá. Một số doanh nghiệp FDI nhỏ đang tìm mọi cách thu lợi
nhanh chóng sau khi được cấp phép đầu tư. Để đạt được mục tiêu này, các doanh nghiệp này đã
thực hiện các thủ thuật chuyển giá, trốn thuế hay giảm bớt các khoản đầu tư cho môi trường theo
cam kết.
Theo hướng này, nhiều doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu đầu vào cho sản xuất từ chính các
công ty mẹ ở nước ngoài với giá cao hơn nhiều so với giá trị thực tế. Điều này sẽ khiến cho công
ty con tại Việt Nam rơi vào tình cảnh thua lỗ bởi “giá đầu vào cao, giá đầu ra thấp”, trong khi công
ty mẹ ở nước ngoài lại thu lợi nhuận cao. Đáng chú ý là, dù thua lỗ hoặc lãi không đáng kể, nhưng
nhiều doanh nghiệp vẫn tăng vốn đầu tư, mở rộng sản xuất với quy mô lớn hơn.
II. Thực trạng và tác hại của tình trạng chuyển giá đối với nền kinh tế Việt
Nam
1. Thực trạng chung về vấn đề chuyển giá ở Việt Nam
Trong nền kinh tế nhiều thành phần của Việt Nam có loại hình doanh nghiệp sử dụng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI). Thành phần doanh nghiệp FDI đang không ngừng tăng lên cả số lượng
cũng như năng lực hoạt động trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên trên thị trường đã và đang xuất hiện
tình trạng rất không bình thường: đa số doanh nghiệp FDI tự kê khai thua lỗ.
Theo thống kê của Cục thuế Thành Phố Hồ Chí Minh thì có hơn 70% các doanh nghiệp FDI trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh kê khai lỗ mặc dù làm ăn tốt và tăng trưởng cao, điều này cho thấy
hiện tượng chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI là rất nghiêm trọng. Trong năm 2006, hầu hết
các nguồn thu ngân sách đều tăng, chỉ có nguồn thu từ khu vực đầu tư nước ngoài (FDI) là thấp
hơn dự toán ngân sách tới 7%. Thông tin xấu trên được công bố trong báo cáo kiểm toán nhà nước

khu vực tư nhân trong nước chỉ giảm 4,4%, còn doanh nghiệp nhà nước tăng 6,2%. Có thể thấy,
mức đóng góp cho ngân sách của doanh nghiệp FDI đã không tăng tỷ lệ thuận với tốc độ tăng kim
ngạch xuất khẩu và quy mô về giá trị sản xuất công nghiệp.
Từ những con số thống kê, nghi ngờ tính trung thực trong các báo cáo kê khai nộp thuế do các
doanh nghiệp nộp về cơ quan thuế. Trong vòng 6 tháng đầu năm 2005 thì Cục thuế TP.HCM đã
tiến hành kiểm tra hơn 50 doanh nghiệp có vốn FDI và phát hiện ra nhiều sai phạm của các công ty
này. Các doanh nghiệp này khai man lợi nhuận trước thuế và tổng số thuế truy thu từ các doanh
nghiệp gần 60 tỷ đồng. Trong năm 2008, Cục Thuế TP.HCM đã thực hiện việc kiểm tra kết quả
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp may mặc trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong
hai năm 2005 và 2006 thì kết quả thu được không lấy làm khả quan. Kết quả kinh doanh trong
năm 2005 của 128 doanh nghiệp may mặc được kiểm tra thì chỉ có 25 doanh nghiệp làm ăn có lãi
và tỷ suất sinh lợi bình quân là 6,07%. Như vậy tỷ suất sinh lợi của các công ty này nhỏ hơn cả lãi
suất ngân hàng tại thời điểm lúc bấy giờ vì vậy chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu có hiện tượng
chuyển giá xảy ra ở các doanh nghiệp này không?
Bảng 2.3: Số các doanh nghiệp FDI kê khai lỗ qua các năm do Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư khảo sát
Cục thuế TP.HCM tiếp tục thực hiện kiểm tra và phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của 128 doanh nghiệp may mặc trên địa bàn thành phố thì kết quả chỉ có 24 doanh nghiệp làm ăn
có lãi và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu chỉ còn 5,64%. Như vậy kết quả kinh doanh của các
doanh nghiệp may năm 2006 cho chúng ta thấy được khả năng có hoạt động chuyển giá tại các
doanh nghiệp này càng cao hơn
Một câu hỏi được đặt ra là tại sao các doanh nghiệp FDI có tiềm lực tài chính hùng hậu, trình độ
quản lý cao thì nguyên nhân dẫn đến thua lỗ là do đâu?
Có thể khẳng định: các doanh nghiệp này không lỗ. Thứ nhất, dù các doanh nghiệp này thường
xuyên kê khai làm ăn thua lỗ trong nhiều năm qua, nhưng lại liên tục mở rộng quy mô sản xuất và
doanh thu tăng. Chính trong giai đoạn này, các doanh nghiệp có mức tăng trưởng rất cao. Thứ hai,
điều vô lý và không bình thường là, trong khi hầu hết doanh nghiệp may mặc Việt Nam, dù phải
nhập khẩu nguyên, phụ liệu của nước ngoài, đều làm ăn có lãi, nhưng hơn 80% doanh nghiệp may
mặc có vốn đầu tư nước ngoài lại báo lỗ. Trong khi những doanh nghiệp FDI luôn có lợi thế hơn
các doanh nghiệp trong nước khi có các công ty mẹ ở chính quốc sản xuất nguyên phụ liệu, sợi
bông dệt vải, các phụ liệu khác luôn sẵn sàng cung cấp cho các công ty con.

công nghiệp ôtô để theo kịp các nước trong khu vực, cho nên gần 18 năm qua, kể từ khi ra đời vào
năm 1992 đến nay, ngành công nghiệp ôtô của Việt Nam được coi là ngành trọng điểm và là
ngành luôn luôn được ưu đãi nhất trong số các ngành công nghiệp. Sự ưu ái rất đặc biệt này thể
hiện qua những chính sách thuế quan của Bộ Tài chính, với chính sách thuế ưu đãi về tỷ lệ nội địa
hóa, thuế nhập khẩu cho linh kiện lắp ráp và thuế thu nhập doanh nghiệp. Có thể nói đây là ngành
thu hút lượng FDI lớn với sự có mặt của các hãng xe nổi tiếng thế giới như Toyota, BMW, Nissan,
Mercedes-Benz,Daihatsu…Nhưng cứ tưởng là chúng ta sẽ có một ngành công nghiệp ôtô phát
triển mạnh, sẽ có việc sớm chuyển giao công nghệ và tăng dần theo thời gian. Nhưng không phải
vậy. Sự thật hiển nhiên ở đây là các doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp ôtô đã không thực hiện đúng
các cam kết trong giấy phép đầu tư của mình là tăng tỷ lệ nội địa hóa lên 30 đến 40% trong vòng
10 năm. Với sự "thất hứa" này nên tính đến thời điểm hiện nay, tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm của các
doanh nghiệp ôtô ở Việt Nam chỉ đạt từ 2 đến 12% và việc nội địa hóa lại chỉ dừng lại ở các công
đoạn giản đơn trong quy trình sản xuất và lắp ráp (sử dụng các linh kiện nội địa có giá trị thấp như
săm, lốp, ắc-quy, dây điện, ghế. công nghiệp phụ trợ của Việt Nam không phát triển được, ngoài
lý do mà chúng tôi nêu ở trên còn có lý do mà một số nhà đầu tư đưa ra là dung lượng thị trường
ôtô của Việt Nam quá nhỏ bé. Vì nhỏ bé nên các nhà đầu tư không muốn lao vào sản xuất linh kiện
phụ trợ cung cấp cho các doanh nghiệp trong nước. Họ lại càng không thể mơ đến việc cạnh tranh
Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan... trong việc xuất khẩu linh kiện ôtô. Thái Lan có tới trên 1.500
doanh nghiệp phụ trợ, với tỷ lệ nội địa hóa đạt tới 70%-80%. Đài Loan cũng có khoảng trên 2.000
nhà đầu tư sản xuất linh kiện phụ tùng thay thế. Ngoài ra số lượng xe ôtô ở Việt Nam mới chỉ đạt
8 xe/1.000 dân, trong khi ở Trung Quốc là 24 xe/1.000 dân, Thái Lan 152 xe/1.000 dân, Hàn Quốc
228 xe/1.000 dân, Mỹ 682 xe/1.000 dân... Xin cung cấp thêm số liệu sau đây để chúng ta hiểu
thêm: CHLB Đức và Việt Nam có diện tích gần như nhau (khoảng 330.000 km2), dân số gần như
nhau (khoảng 83 triệu dân), nhưng số lượng ôtô ở Việt Nam là khoảng 670.000 chiếc và 18 triệu
xe gắn máy, trong khi đó, ở Đức có 52 triệu ôtô và khoảng 7 triệu xe gắn máy, diện tích mặt bằng
sử dụng 8 xe gắn máy bằng 1 xe ôtô, nhưng họ vẫn có chỗ đậu xe, và giao thông đâu có ùn tắc hay
ô nhiễm! Dĩ nhiên việc so sánh giữa một nước đang phát triển như nước ta với một nước phát triển
như nước Đức là khập khiễng, nhưng cần nhớ là Việt Nam đang phấn đấu đến năm 2020 phải trở
thành một nước phát triển.
b) Chuyển giá trong ngành ô tô

hướng tập trung hóa cao để cung cấp cho các công ty con trong khu vực và thế giới. Mặc dù chi
phí đầu tư cho dây chuyền sản xuất phụ tùng, linh kiện tại chỗ rất lớn, song nếu sản xuất được
trong nước thì linh kiện, phụ tùng nhập khẩu sẽ phải chịu thuế cao. Vì sự bất hợp lý này, chính
sách nội địa hóa ô tô càng tiến gần hơn đến bờ vực phá sản khi càng gần năm 2018 - thời điểm
thuế suất thuế nhập khẩu linh kiện, phụ tùng ô tô khu vực ASEAN bằng 0%. Bên cạnh đó, không
thể không kể đến chính sách quy hoạch và phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ ô tô trong
nước chưa đồng bộ, chưa theo kịp với sự phát triển của các liên doanh. Vì vậy, các liên doanh vẫn
chủ yếu nhập linh kiện, phụ tùng từ công ty mẹ và các công ty con thành viên trong khu vực mà ít
chú trọng đầu tư sản xuất tại chỗ. Chính vì lý do tỷ lệ nội địa thấp nên các mặt hàng nhập khẩu
trong ngành ô tô từ các công ty đa quốc gia được định giá do các công ty mẹ. Do vậy giá cả chính
xác các loại hàng này vẫn còn rất mù mờ và khó xác định chính xác giá trị thực của chúng. Vì lẽ
đó, Hiện nay so với các nước khác giá xe hơi tại Việt Nam rất cao.
Trong quá trình đầu tư vào Việt Nam để sản xuất kinh doanh, do các MNC có máy móc thiết bị
công nghệ hiện đại nên các MNC sẽ tiến hành góp vốn bằng máy móc thiết bị và công nghệ hiện
đại. Do phía Việt Nam chưa có đủ năng lực và trình độ để thẩm định giá các loại thiết bị công
nghệ hiện đại này nên thường sẽ bị các đối tác nước ngoài định giá các thiết bị, công nghệ cao
hơn giá trị thực tế của chúng. Việc định giá cao sẽ làm nâng giá trị vốn góp trong liên doanh của
bên đối tác và chiếm lấy quyền quản trị công ty. Về phía đối tác Việt Nam đa phần chỉ góp vốn
bằng giá trị sử dụng đất nên giá trị vốn góp trong liên doanh thường rất thấp.
Việc định giá cao thiết bị máy móc đầu tư ban đầu đã giúp cho các MNC chuyển một lượng tiền đi
ngược trở ra cho công ty mẹ ngay từ lúc đầu tư và thông qua chi phí khấu hao hàng năm sẽ làm
cho nhà nước thất thu thuế.
Theo Thanh tra Bộ Tài chính, đến năm 2008, cả 6 công ty nói trên đều có dây chuyền sản xuất, lắp
ráp ô tô lạc hậu, chủ yếu là lắp ráp thủ công. Điều này đã làm tăng giá thành sản xuất. Song hai
yếu tố ảnh hưởng lớn nhất tới giá thành ô tô là chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu và
chi phí nhập khẩu linh kiện, phụ tùng cao. Đối với dòng xe từ 5 chỗ trở xuống, 2 sắc thuế này
chiếm khoảng 33% giá bán. Linh kiện, phụ tùng nhập khẩu chiếm tới 48% giá bán buôn ô tô cũng
khiến giá ô tô trong nước bị đẩy lên cao. Tuy nhiên, Thanh tra Bộ Tài chính khẳng định: “Giá linh
kiện nhập khẩu cao, thấp hoàn toàn phụ thuộc vào sự kê khai của các liên doanh." Các cơ quan
quản lý Nhà nước không quản lý, giám sát được giá linh kiện, phụ tùng đầu vào nhập khẩu của các

pháp ấn định giá mua hay ấn định giá bán trên tỷ lệ lợi nhuận trung bình của các doanh nghiệp
tương tự hoặc nếu xuất hiện trường hợp bị đánh thuế hai lần cho cùng doanh nghiệp, thì cho phép
thuế thu nhập ở nước này được khấu trừ vào thuế thu nhập phải trả ở nước kia.
Ngoài ra, để tránh trường hợp khoản bị khấu trừ quá lớn, cơ quan thuế của hai nước nên trao đổi
thông tin cho nhau, theo hướng sẽ báo trước một năm để nước kia chuẩn bị. Vả lại, muốn thực
hiện được đề án chống chuyển giá thì ít nhất các nhà quản lý cũng phải điều tra và nắm bắt được
chính xác tình hình hoạt động tổng thể của các liên doanh. Sở dĩ phải điều tra tổng thể lần này vì
từ trước đến nay chưa hề có một báo cáo mang tính tổng quan và cụ thể về hoạt động sản xuất,
xuất nhập khẩu, đầu tư ... của các liên doanh và điều này làm cho các nhà quản lý gặp nhiều hạn
chế khi đưa ra và điều chỉnh các chính sách, trong đó có chính sách thuế. Một vấn đề khác, trong
thời điểm các liên doanh nhận giấy phép và đi vào sản xuất thì VN vẫn chưa soạn thảo và ban
hành được một chiến lược cũng như quy hoạch về phát triển công nghiệp ôtô và việc điều tra lần
này sẽ giúp các nhà hoạch định nhìn nhận được rõ tình hình hơn. Điều này hoàn toàn thiện chí và
có lợi cho các doanh nghiệp. Bộ Tài chính đã gửi tới các doanh nghiệp 8 bảng biểu chi tiết về các
mặt: tình hình thực hiện, triển khai theo giấy phép đầu tư, tình hình sản xuất kinh doanh và tiêu thụ
sản phẩm, báo cáo về chi phí của DN, chi phí tiền bản quyền và lãi tiền vay, tình hình nhập khẩu,
tình hình nhập khẩu các linh kiện rời... Trong mỗi bảng đều nêu cụ thể, chi tiết những vấn đề mà
các doanh nghiệp phải báo cáo. Tuy nhiên, theo thông tin của chúng tôi thì đã hết thời hạn phải
nộp báo cáo nhưng đa số các liên doanh đều chưa nộp và chưa có phản ứng. Theo đánh giá của
nhiều chuyên gia thì trong những năm vừa qua, các liên doanh được bảo hộ, ưu đãi quá nhiều và
trên thực tế họ chưa hề phải chịu rủi ro. Với việc tăng giá như vừa qua, có nhà nghiên cứu cho
rằng các liên doanh đã đẩy rủi ro của mình cho người tiêu dùng, cho dù như lời của các liên doanh
thì giá xe bán ra hiện nay thấp hơn so với trước khi áp dụng chính sách thuế mới. Việc điều tra lần
này là cần thiết nhưng như nhiều người nhận định thì sẽ không đơn giản. Một chuyên gia ôtô và là
quan chức của một liên doanh khẳng định việc điều tra này đáng ra phải thực hiện từ lâu và nếu
nói rằng kiểm tra để nắm tình hình cụ thể thì chỉ kiểm tra trong thời gian 3 năm và dự kiến năm
2004 là không đủ mà phải kiểm tra toàn bộ ngay từ khi có giấy phép. Mặt khác, để thực sự nắm
được tình hình, nhà quản lý phải có những biện pháp điều tra riêng, kín đáo, sâu rộng hơn, toàn
diện hơn, có cả hoạt động, cơ chế, thuế, giá của các nhà sản xuất tại nhiều nước trên thế giới, giá
nhập khẩu nguyên chiếc, giá CKD, IKD chứ không phải dựa vào báo cáo của các liên doanh. Ngay

thuế thu nhập doanh nghiệp, và tiếp tục được hoàn thuế giá trị gia tăng. Ngoài ra, việc kê khống
giá nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị từ công ty mẹ ở nước ngoài cũng làm cho giá
thành sản phẩm của doanh nghiệp FDI tăng lên. Đây là cơ sở để họ báo cáo lỗ. Theo thống kê của
Cục thuế Thành Phố Hồ Chí Minh thì có hơn 70% các doanh nghiệp FDI trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh kê khai lỗ mặc dù làm ăn tốt và tăng trưởng cao. Cách làm của các doanh nghiệp này
đã gây thất thoát đáng kể nguồn thu thuế trong nước. Trong năm 2006, hầu hết các nguồn thu ngân
sách đều tăng, chỉ có nguồn thu từ khu vực đầu tư nước ngoài (FDI) là thấp hơn dự toán ngân sách
tới 7%. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ làm cho các doanh nghiệp FDI “lờn thuốc” đối với hệ thống
pháp luật của Việt Nam. Trong thời đại kinh tế quốc tế hội nhập, các MNC ngày càng mở rộng thị
trường và có thêm nhiều chi nhánh, công ty con trên nhiều quốc gia khác nhau; hệ thống mua bán
hàng hóa, cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị, dịch vụ cho nhau càng phát triển thì hoạt động chuyển
giá càng có nhiều cơ hội để thực hiện. Như vậy, trong tương lai, không lấy gì đảm bảo rằng ngân
sách nhà nước sẽ không bị thất thu nhiều hơn nữa, thậm chí còn phải chi thêm để hoàn lại các
khoản thuế “ảo” cho các doanh nghiệp FDI này.
Thứ hai, chuyển giá sẽ tạo sự không công bằng trong cạnh tranh giữa doanh nghiệp FDI với
doanh nghiệp nội địa. Chẳng hạn, một doanh nghiệp FDI sử dụng công cụ “chuyển giá” để tối ưu
hóa lợi nhuận về công ty mẹ ở nước ngoài trong khi đó báo cáo thua lỗ tại quốc gia đang kinh
doanh để khỏi đóng thuế và nhiều trường hợp được hoàn thuế, như vậy công ty FDI đó sẽ có nhiều
nguồn lực về tài chính hơn để đầu tư vào các hoạt động tiếp thị, quảng bá. Trong khi đó, doanh
nghiệp nội địa phải thực hiện nghĩa vụ thuế nghiêm túc hơn nên ít nhiều sẽ thua thiệt với các công
ty FDI. Hiện tượng này đang có xu hướng gia tăng đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng, thực phẩm, chẳng hạn như sữa, cà phê... Nếu các doanh nghiệp trong nước không đủ tiềm
lực tài chính để cạnh tranh, họ sẽ dần dần bị mất ưu thế và đưa đến phá sản hoặc buộc phải chuyển
sang kinh doanh trong các ngành khác. Các MNC sẽ dần trở nên độc quyền và thao túng thị trường
trong nước, kiểm soát giá cả và mất dần tính tự do cạnh tranh của thị trường tự do. Khi đó, Chính
phủ sẽ gặp khó khăn trong quá trình hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô và không thể thúc
đẩy ngành sản xuất trong nước phát triển.
Thứ ba, đối với các doanh nghiệp FDI mới tham gia, họ có thể sử dụng chuyển giá để thâm
nhập thị trường và từng bước chiếm lĩnh thị trường trong nước. Việc này có thể được thực hiện
trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc thôn tính các doanh nghiệp trong nước. Nếu thực hiện trực

mục đích khác nhau. Hành vi chuyển giá của MNC thường mang lại những tác động xấu cả cho
nước tiếp nhận đầu tư. Vì vậy các quốc gia luôn tiến hành nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm của
các nước khác để chống các thủ thuật chuyển giá này.
a) Kinh nghiệm chống chuyển giá ở Mỹ:
Mỹ là một quốc gia có nền kinh tế phát triển, và cũng là quốc gia dẫn đầu về kinh nghiệm trong
vấn đề quản lý nền kinh tế. Thế nhưng Mỹ cũng đa gặp không ít những khó khăn trong vấn đề
chống chuyển giá.
Pháp luật của Mỹ qui định là phần thu nhập được tạo ra trên lãnh thổ của Mỹ thì phải nộp thuế
thu nhập cho dù là Công ty đa quốc gia này có thuộc quyền sở hữu của Mỹ hay không. Các
công ty này không được né tránh nộp thuế thu nhập cho phần thu nhập phát sinh trên đất Mỹ bằng
cách chuyển lợi nhuận ra nước ngoài thông qua hành vi chuyển giá hay chuyển dịch hoạt động sản
xuất kinh doanh hay đầu tư vào các quốc gia có thuế suất cực thấp còn được gọi là “các thiên
đường về thuế”. Mặc dù luật pháp kinh tế Mỹ rất phát triển và hiện đại nhưng vẫn tỏ ra bất lực
trong việc cố gắng để đạt các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô được đưa ra.
Cơ quan thuế nội địa của Mỹ - IRS (Internal Revennue Service) đã khảo sát và đưa ra được bằng
chứng là các công ty đa quốc gia đang hoạt động trên đất Mỹ mà không thuộc quyền sở hữu của
Mỹ thì hầu hết nộp thuế ít hơn so với các công ty nội địa. Các kẽ hở về luật pháp cũng được các
công ty đa quốc gia thuộc sở hữu của Mỹ lợi dụng để giảm khoản thuế phải nộp và dần tạo nên xu
hướng chuyển dịch đầu tư của các công ty Mỹ ra ngoài nước Mỹ. Trong thực tế hoạt động sản
xuất kinh doanh của các MNC rất rộng lớn và phức tạp, các nghiệp vụ mua bán diễn ra với khối
lượng lớn và độ phức tạp cao, vì vậy mà tiếp cận và phát hiện các nghiệp vụ nào có chứa đựng
hành vi chuyển giá là rất khó. Tương tự rất khó xác định lợi nhuận nào là tạo ra trên đất Mỹ và lợi
nhuận nào là tạo ra ngoài đất Mỹ một cách chính xác.
Mặc dù có nhiều cải cách nhưng hệ thống thuế của nước này “đầy những lỗ hổng, giúp các công ty
né tránh hợp lý tới mức hoàn hảo việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế”. Tiêu biểu cho những lỗ
hỏng đó là do đặc điểm là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của Mỹ (CIT) so với các quốc gia
khác là rất cao (40%) nên các MNC có xu hướng là chuyển lợi nhuận ra nước ngoài vì họ cho rằng
thuế suất tại Mỹ cao và chính phủ không xem xét hết các chi phí của họ. Bên cạnh đó Mỹ cũng
đánh thuế tương đối cao trên thu nhập từ thị trường nước ngoài. Ví dụ một công ty Mỹ tại Hàn
Quốc cũng phải nộp thuế tại Hàn Quốc, nhưng nếu mang số lợi nhuận còn lại về nước, họ sẽ đối

cho thực hiện định giá chuyển giao giữa các MNC với nhau nhưng đồng thời cổ vũ cho việc vận
dụng phương pháp định giá chuyển giao trên cơ sở chiết tách lợi nhuận. Năm 1993, căn cứ theo
Omnibus Budget Reconciliation Act, Đạo luật chống chuyển giá IRS Sec 6662 ra đời kèm theo
một số thay đổi nhằm chặt chẽ hơn và tăng cường hiệu quả chống chuyển giá. Trong Đạo luật
6662 có hai nguyên tắc chế tài mới dành cho hành vi chuyển giá:
- Phạt chuyển giá trong giao dịch (Transactional Penalty): là loại hình chế tài khi có chênh lệch
đáng kể trong giá chuyển giao nếu so sánh với căn bản giá thị trường theo Quy định IRS sec 482,
mà hậu quả là số thu nhập chịu thuế không phản ánh đúng thực tế của nghiệp vụ phát sinh. Mức
phạt chuyển giá 20% dành cho trường hợp có sai sót đáng kể do chuyển giá khi chuyển giá vượt
quá mức 200% (hay ít hơn 50%) so với mức mà IRS sec 482 xác định được.
- Phạt bổ sung (Net Adjustment Penalty): phạt bổ sung được áp dụng nếu phần thu nhập chịu thuế
sau khi tính lại theo IRS Sec 482 tăng vượt mức qui định có thể cho trước. Ví dụ khoản phạt bổ
sung 20% trên số thuế truy thu sẽ áp dụng trong trường hợp phần thu nhập tăng thêm vượt quá
mức thấp nhất trong hai mức sau – 5 triệu USD hoặc 10% trên tổng số thuế phải nộp. Phạt bổ sung
40% trên số thuế truy thu sẽ áp dụng trong trường hợp phần thu nhập tăng thêm vượt quá mức
thấp nhất trong hai mức sau – 20 triệu USD hoặc 20% trên tổng số thuế phải nộp.
b) Kinh nghiệm chống chuyển giá tại Trung Quốc
Trung Quốc là quốc gia có nền kinh tế đang phát triển mạnh trong thời gian gần đây, là một quốc
gia thu hút nhiều nhất các nguồn vốn FDI trên thế giới. Đây là một thị trường đầy tiềm năng về
nguồn lực cũng như thị trường tiêu thụ rộng lớn vì vậy mà các MNC đều muốn tham gia vào thị
trường này. Thực tế trong năm 2005, Trung Quốc đã thu hút được 52 tỷ USD từ nguồn vốm FDI
và có hơn 150.000 công ty FDI đang hoạt động tại quốc gia này. Các công ty FDI sử dụng hơn 20
triệu lao động, chiếm khoản một nửa kim ngạch xuất nhập khẩu nhưng hầu hết kết quả này là giao
dịch nội bộ trong tập đoàn. Theo kết quả điều tra của cơ quan thuế Trung Quốc thì thông qua hoạt
động sản xuất kinh doanh thì các MNC đang thực hiện thủ thuật chuyển giá nhằm tránh nộp thuế
thu nhập. Các công ty này vẫn đang tiếp tục khai lỗ trong khi lại tăng cường mở rộng sản xuất tại
Trung quốc. Chính phủ Trung Quốc đang tiến hành những cuộc kiểm tra hoạt động của các công
ty FDI này đặc biệt là đối với hành vi chuyển giá. Tuy nhiên Trung Quốc là một quốc gia cũng
mới phát triển, chưa có kinh nghiệm trong công tác chống chuyển giá và luật pháp cũng chưa bắt
kịp với tình hình kinh tế hiện tại và công tác kiểm tra chưa được chuẩn bị tốt. Vì vậy mà các cuộc

châu Á:
Việc xác định hành vi chuyển giá luôn là thách thức lớn do phải xác định được sự chênh lệch giá
giao dịch nội bộ với giá thị trường trong các đơn vị liên kết. Nhân sự kiên họp cấp chuyên viên lần
thứ 11 của Tổ chức nghiên cứu và quản lý Thuế khu vực châu Á, các nhà quản lý Việt Nam đã có
dịp được học hỏi kinh nghiệm từ phía các nước bạn.
• Hàn Quốc:
Cơ quan Thuế Hàn Quốc cho biết, theo luật pháp Hàn Quốc, các tổ chức, cá nhân có các giao dịch
quốc tế phải báo cáo giá chuyển nhượng khi nộp hồ sơ kê khai thuề, tuy nhiên để đạt được sự chắc
chắn trong phương pháp định giá chuyển nhượng, các tổ chức cá nhân có thể áp dụng một thỏa
thuận trước khi xác định giá với cơ quan thuế. Và để sát thực của thông tin, cơ quan thuế cũng có
bộ phận thẩm định giá để kiểm tra tính xác thực của giá chuyển giao được kê khai trong các báo
cáo, trong đó, các thông tin của bộ phận thẩm định giá được lấy từ kho cơ sở dữ liệu thương mại
và sự phối hợp thông tin với các nước khác.
• Australia:
Từ năm 1992, ở tất cả các cấp trong bộ máy Cơ quan thuế Australia đã thành lập bộ phận chống
chuyển giá trên cơ sở các hiệp định song phương được ký kết giữa Chính phủ Australia với các
quốc gia khác trong đó có các quy định về chuyển giá.
Cơ quan thuế Australia áp dụng hệ thống quản lý rủi ro đối với các tập đoàn và công ty đa quốc
gia trên cơ sở khuyến khích tinh thần tự nguyện trong việc kê khai giá chuyển nhượng và phân
chia lợi nhuận giữa các bên. Khi xảy ra mâu thuẫn hoặc thấy có dấu hiệu vi phạm, cơ quan thuế sẽ
dựa trên biên bản thoả thuận song phương giữa Australia với các nước và khung pháp luật thuế để
giải quyết các vướng mắc và xử lý vi phạm.
• Papua New Guinea:
Cơ quan thuế sẽ dựa trên hoạt động thực tế giữa các bên liên quan để phân chia lợi nhuận. Cũng
giống như Australia, Papua New Guinea cũng áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý giá, trong
trường hợp có dấu hiệu vi phạm về chuyển giá, cơ quan thuế sẽ gửi bản câu hỏi đến các đơn vị
trong cùng tập đoàn và tổ chức điều tra, đối chiếu với bản câu hỏi đó để phát hiện những bất và
yêu cầu các đơn vị giải trình. Trường hợp không giải trình được, cơ quan thuế sẽ áp dụng các chế
tài theo pháp luật để xử lý vi phạm.
• Nhật Bản:

hành động chuyển giá mà các MNC gây ra ảnh hưởng tiêu cưc đến nền kinh tế các quốc gia.
Việt Nam cần phải chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm phục vụ cho việc quản lý
nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Nguồn nhân sự này sẽ phải thường xuyên được cập nhật kiến thức
về kinh tế, kinh nghiệm quản lý kinh tế, kinh nghiệm về hoạt động chuyển giá của các công ty đa
quốc gia tại các quốc gia trên thế giới. Phải nghiên cứu và tìm hiểu lịch sử phát triển kinh tế của
các quốc gia phát triển đi trước cũng như các quốc gia trong khu vực có những nết tương đồng về
kinh tế. Chúng ta phải tiếp thu những kinh nghiệm quý báu và những thành công kinh tế mà các
quốc gia này đạt được áp dụng vào kinh tế Việt Nam, giúp cho kinh tế Việt Nam phát triển nhanh
và đón đầu kinh tế thế giới, nhưng đồng thời phải tránh những sai lầm mà các quốc gia này đã vấp
phải để rút ngắn thời gian phát triển kinh tế.
- Nghiên cứu pháp luật thuế của Trung Quốc tìm ra những mối tương đồng giữa nền kinh tế Trung
Quốc và Việt Nam, từ đó có thể rút ra những bài học bổ ích trong quá trình xây dựng các chính
sách quản lý thuế chống chuyển giá cho các MNC Việt Nam. Chúng ta có thể thấy hai mối tương
quan giữa nền kinh tế Trung Quốc và Việt Nam như sau:
- Đều là nền kinh tế thị trường sơ khai, vừa chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang. Đặc điểm
về chính trị cũng giống nhau là có một đảng duy nhất và cả hai quốc gia đềuđặt nền kinh tế dưới
sự quản lý của Đảng theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa.

Trích đoạn Một số vấn đề gây khó khăn trong chống chuyển giá ở Việt Nam Một số bài học được rút ra cho Việt Nam:
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status