tìm hiểu về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên - Pdf 26

MỞ ĐẦU
Thế hệ trẻ chính là tương lai của đất nước, là mầm xanh của xã hội. Tuy
nhiên, trong những năm gần đây, tình trạng người chưa thành niên (NCTN) vi
phạm pháp luật nói chung và vi phạm pháp luật hình sự nói riêng diễn ra với
số lượng ngày càng nhiều với tính chất và mức độ nguy hiểm ngày càng
nghiêm trọng. Vấn đề này đã và đang trở thành mối quan tâm lo lắng của toàn
xã hội.
Bộ luật tố tụng hính sự năm 2003 đã có một chương riêng quy đinh về
thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội. Việc quy định như
vậy là xuất phát từ tư tưởng coi trẻ em, ngay cả khi họ phạm tội là đối tượng
cần được bảo vệ. Nhằm kết hợp hài hòa giữa các biện pháp cưỡng chế và giáo
dục, thuyết phục, tạo ra những điều kiện cần thết để NCTN biết và sửa chữa
sai lầm, sớm cải tạo và trở thành người có ích cho xã hội.
Thực tế việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với
những vụ án mà bị can, bị cáo là NCTN trong những năm qua cho thấy các cơ
quan tiến hành tố tụng đã có nhiều cố gắng, vận dụng một cách linh hoạt các
quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hính sự trong giải quyết vụ án. Tuy
nhiên cũng phải thừa nhận, việc giải quyết vị án hình sự mà bị can, bị cáo là
NCTN cũng còn nhiều vướng mắc và sai phạm. Những vi phạm này một phần
do các cơ quan tiến hành tố tụng chưa nắm vững và vận dụng chính xác những
quy định của pháp luật tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án mà bị can,
bị cáo là người chưa thành niên. Một phần là do một số quy định của pháp
luật tố tụng hình sự chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động tố tụng đặc biệt
này.
Do vậy, việc tìm hiểu về thủ tục tố tụng đối với NCTN là điều cần thiết,
qua đó sẽ nắm vững hơn về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên
phạm tội, đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng giải quyết
các vụ án về NCTN.
1
NỘI DUNG
1.Khái niệm người chưa thành niên (NCTN) và thủ tục tố tụng đối với

quy định của chương này”
1.2.Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên
Thủ tục tố tụng đối với NCTN phạm tội, được quy định tại Chương
XXXII Bộ luật TTHS là thủ tục đặc biệt, được áp dụng đối với người bị bắt,
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo từ 14 tuổi tròn cho đến dưới 18 tuổi.
Điều 301 BLTTHS 2003 quy định: “Thủ tục tố tụng đối với người bị
bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên được áp dụng
theo quy định của Chương này, đồng thời theo quy định khác của Bộ luật này
không trái với những quy định của Chương này”.
Người chưa thành niên là người đang ở lứa tuổi mà khả năng nhận thức
về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị hạn chế và đôi khi
bị tác động mạnh mẽ của những điều kiện bên ngoài. Chính sách hình sự của
Nhà nước ta đối với NCTN chủ yếu là giáo dục và giúp đỡ họ sửa chữa những
sai lầm, tạo điều kiện cho họ phát triển lành mạnh để trở thành những công
dân có ích cho xã hội.
2. Các quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 về thủ tục tố tụng đối với
người chưa thành niên.
2.1. Qui định về đối tượng chứng minh
Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là tất cả những tình tiết phải
được xác định đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện
vụ án hình sự. BLTTHS qui định đối tượng chứng minh tại Điều 63.
Tuy nhiên, khi tiến hành tố tụng đối với những vụ án do NCTN thực
hiện, ngoài việc xác định những vấn đề cần chứng minh có tính chất bắt buộc
chung đối với vụ án hình sự qui định tai Điều 63 BLTTHS thì Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát, Tòa án cần phải chứng minh những tình tiết quy định tại
Khoản 2 Điều 302 BLTTHS, bao gồm:
-Tuổi, trình độ phát triển thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về
hành vi phạm tội của NCTN.
3
Trong quá trình tiến hành tố tụng, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án

4
Nếu xác định được tháng sinh nhưng không xác định được ngày nào
trong tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó để xem xét trách nhiệm hình
sự đối với bị can, bị cáo.
Nếu xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng nào thì
lấy ngày cuối cùng của quý đó làm ngày sinh.
Nếu xác định được nửa đầu hay nửa cuối của năm nhưng không xác định
được ngày tháng nào thì lấy ngày 30 tháng 6 hoặc 31 tháng 12 của năm đó
làm ngày sinh.
Nếu không xác định nửa năm nào, quý nào, tháng nào trong năm thì lấy
ngày 31 tháng 12 tương ứng của năm đó để xem xét trách nhiệm hình sự đối
với bị can, bị cáo.
Ngoài ra, Điều 155 BLTTHS năm 2003 đã bổ sung một điểm mới so với
BLTTHS năm 1988. Theo đó, trong những trường hợp không có tài liệu
khẳng định tuổi của người đó hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài
liệu, lời khai của bị can, bị cáo, lời khai của gia đình bị can, bị cáo thì cơ quan
tiến hành tố tụng bắt buộc trưng cầu giám định.
Ngoài độ tuổi, Đối với NCTN, cơ quan tiến hành tố tụng còn phải làm rõ
mức độ phát triển về thể chất và tinh thần của họ. Mức độ phát triển về tinh
thần, một số khuyết tật về thể chất cũng như một số bệnh tật có thể là tác nhân
chính gây nên sự rối loạn về nhân cách, đẩy NCTN rơi vào con đường phạm
tội.
- Điều kiện sinh sống và giáo dục
Điều kiện sinh sống và giáo dục có ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển
nhân cách và có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi phạm tội của NCTN.
Để xác minh được thì cơ quan tiến hành tố tụng cần thực hiện xác minh
điều kiện sinh sống của gia đình,nội dung giáo dục của nhà trường, môi
trường sinh hoạt ở địa phương nơi NCTN cư trú, học tập hoặc cơ quan, tổ
chức nơi NCTN làm việc.
5

đến hành vi phạm tội, đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi
phạm tội, phát hiện đồng phạm trong vụ án mà NCTN thực hiện, đảm bảo
không để lọt tội phạm, không làm oan sai người vô tội, trừng trị nghiêm khắc
người thành niên xúi giục nhằm nâng cao chất lượng công tác đấu tranh phòng
chống tội phạm nói chung.
-Nguyên nhân và điều kiện phạm tội
Trong những vụ án mà bị can, bị cáo là NCTN thì đây lại là vấn đề có ý
nghĩa hết sức quan trọng trong việc xác định, đánh giá đầy đủ tính chất của
hành vi phạm tội, áp dụng hình thức xử lí NCTN phạm tội cũng như biện
pháp phòng ngừa tội phạm.
Muốn xác định nguyên nhân phạm tội, trước hết phải xen xét các hiện
tượng, quá trình xã hội vì nguyên nhân và điều kiện phạm tội cũng không nằm
ngoài qui luật xã hội. Có những nguyên nhân và điều kiện phát sinh thuộc về
trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội. NCTN trong quá trình hình
thành nhân cách chịu ảnh hưởng của môi trường gia đình mà trước hết là vai
trò của cha mẹ, ông bà, anh chị em… Sự không nghiêm khắc, buông lỏng
quản lí, giáo dục của gia đình cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến hành vi
phạm tội của NCTN..
Bên cạnh đó, nhà trường cũng được coi là “gia đình thứ hai” của các em.
Hầu hết, trong một thời gian dài của quá trình hoàn thiện mình, NCTN đều
gắn với môi trường sinh hoạt ở nhà trường vì quá trình học tập là một trong
những phương pháp hoàn thiện nhân cách con người nhanh chóng và khá hiệu
quả. Nhưng nhiều nơi, nhà trường vẫn chưa làm tròn được trách nhiệm của
mình trong việc quản lí, giáo dục học sinh. Đó chính là kẽ hở cho các hiện
tượng tiêu cực xâm nhập. Số lượng NCTN bỏ học ngày càng gia tăng làm cho
trình độ văn hóa của các em ngày càng giảm sút, trình độ hiểu biết thấp kém
nên các em có xu hướng tụ tập với nhóm bạn bè “cùng cảnh ngộ”, sống buông
thả hoặc bị người thành niên kích động, dụ dỗ vào con đường phạm tội.
7
Ngoài ra, một nhân tố đáng chú ý trong quá trình tìm hiểu nguyên nhân,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status