ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRONG VIỆC SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRONG GIỜ LUYỆN TẬP HOÁ HỌC HOÁ HỌC LỚP 8 - Pdf 26

Sáng kiến kinh nghiệm
môn hoá học
" ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRONG
VIỆC SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRONG
GIỜ LUYỆN TẬP HOÁ HỌC HOÁ HỌC LỚP 8”
phÇn I : më ®Çu
1
I / Đặt vấn đề :
Hoá học là khoa học nghiên cứu về thành phần cấu tạo các chất, sự biến
đổi của các chất trong đời sống, sản xuất và trong tự nhiên. Qua đó thấy đợc tác
dụng và tác hại của chúng đối với đời sống sản xuất và con ngời .
Môn hoá học ở trờng phổ thông giúp học sinh có những tri thức về thế
giới tự nhiên xung quanh thông qua việc khảo sát các chất, sự biến đổi các chất,
chu trình các chất trong môi trờng xung quanh, thấy đợc mối liên hệ qua lại giữa
hoá học môi trờng và con ngời. Những tri thức này rất quan trọng không thể
thiếu đợc trong hệ thống tri thức phổ thông của nhân loại. Không những thế để
đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của xã hội về việc đào tạo nên những con
ngời năng động sáng tạo biết cải biến một cách linh hoạt về kiến thức tự nhiên và
xã hội phục vụ cho cuộc sống của mình thì đòi hỏi môn hoá học phải hình thành
cho các em những kiến thức cơ bản về hoá học nh kĩ năng quan sát, kĩ năng làm
thí nghiệm, kĩ năng ứng dụng kiến thức vào giải luyện tập hoá học vào trong
thực tiễn cuộc sống. Phát hiện trong các em những t duy sáng tạo, cách làm việc
khoa học, tính trung thực cẩn thận niềm tin và say mê nghiên cứu khoa học. Bộ
môn hoá chính thức học sinh đợc học từ lớp 8, mặc dù rất nhiều các sự vật hiện
tợng biến đổi xung quanh ta các em đều đã đợc làm quen và tìm hiểu thông qua
các môn học lồng ghép về tự nhiên và xã hội ở cấp 1 và qua các môn sinh học,
vật lý, địa lý ở cấp II, tuy nhiên để đi sâu nghiên cứu về các chất, sự biến đổi
chất và hình thành các kĩ năng cần thiết nh đã nêu trên thì đó là nhiệm vụ trọng
tâm của bộ môn hoá học. Chơng trình học ở cấp THCS đã bố trí, thiết kế theo
những mảng kiến thức từng thể loại bài học giúp học sinh đạt đợc mục tiêu. Song
để đạt đợc điều đó hay không còn phụ thuộc vào rất nhiều giáo viên đứng lớp.Tôi

đặc biệt với sự định hớng các phơng án trong giải 1 bài tập hoá học, còn rèn cho
các em phong cách làm việc có kế hoạch, có tổ chức trớc khi làm việc cụ thể. Vì
vậy việc lựa chọn các nội dung, các hình thức và phơng án giải bài tập hoá học
nh thế nào trong một giờ luyện tập hoá học là một việc làm hết sức cần thiết và
quan trọng của ngời giáo viên.
II/ Cơ sở thực tiễn:
1. Những thuận lợi trong việc giảng dạy bộ môn hoá học trong đó có tiết luyện tập
Hiện nay với mục tiêu đổi mới chơng trình thay SGK ở các khối lớp, cấu
trúc chơng trình SGK đã thay đổi tạo điều kiện rất thuận lợi cho giáo viên trong
3
quá trình giảng dạy cụ thể: các kênh chữ kênh hình đều rất rõ ràng, sống động
kiến thức đợc tinh giản theo hớng cụ thể hoá, hệ thống bài tập hoá học trong
SGK cũng đã nhiều và phong phú hơn. Đội ngũ giáo viên cũng đã đợc đi học các
lớp thay SGK, cùng đợc trao đổi về một số vấn đề trong công tác giảng dạy: về
SGK; về cách thiết kế 1 tiết lên lớp sao cho đáp ứng với mục tiêu bài học; về các
dạng bài tập trừu tợng và khó. Các đồ dùng dụng cụ hoá chất đợc cấp phát kịp
thời tạo điều kiện thuận lợi cho một tiết lên lớp của ngời giáo viên đạt kết quả
cao. Chính vì vậy mà trong các giờ lên lớp giáo viên cũng đã chú ý hớng dẫn học
sinh học tập theo hớng chủ động tìm hiểu và nắm bắt kiến thức qua quan sát thí
nghiệm, làm thí nghiệm, nghiên cứu SGK và kết hợp với các hình thức hoạt động
cá nhân, hoạt động nhóm để hoàn thiện kiến thức. Điều này đã thực sự gây hứng
thú học tập trong học sinh và thu hút các em. Bên cạnh đó đời sống ngời dân
ngày càng cao, các em học sinh đã đợc phụ huynh quan tâm hơn về chất lợng
học tập chính vì vậy các em tham gia tích cực hơn vào giờ học hoá. Tất cả những
vấn đề trên đã là những điểm thuận lợi cho ngời giáo viên trong quá trình giảng
dạy trong đó có tiết luyện tập.
2. Khó khăn :
- Hoá học là bộ môn mới trừu tợng và khó.
- Đối với giáo viên vẫn còn không ít đồng chí cha thực sự coi trọng môn học
này, nhất là với nền kinh tế hiện nay mà ngành giáo dục đang phải đối mặt với

trên có thể thấy vai trò của tiết luyện tập đã đợc chú trọng vì vậy cần đợc đầu t cho
đảm bảo mục tiêu của chơng trình. Mục tiêu của tiết luỵện tập đảm bảo 3 mức độ
kiến thức của học sinh; biết, hiểu, vận dụng
- Cụ thể :
Chơng trình SGK lớp 8 : Gồm 8 tiết luyện tập cho 6 chơng
Chơng I : Chất - Nguyên tử - Phân tử :
Có 2 tiết luyện tập: Hệ thống hoá kiến thức về các khái niệm cơ bản (chất,
đơn chất và hợp chất, nguyên tử, nguyên tố hoá học) Củng cố cách ghi và ý
nghĩa của CTHH, khái niệm hoá trị và quy tắc hoá trị.
Rèn các kĩ năng: Phân biệt chất, tách chất, từ sơ đồ nguyên tử tìm ra các
thành phần cấu tạo nguyên tử, viết kí hiệu nguyên tố khi biết tên, nguyên tử khối
và ngợc lại. Rèn kĩ năng tính hoá trị của nguyên tố, biết đúng hay sai cũng nh
lập đợc CTHH của hợp chất khi biết hoá trị.
Chơng II : Phản ứng hoá học;
Có 1 bài luyện tập: Củng cố kiến thức về phản ứng hoá học ( định nghĩa, bản
chất, điều kiện xảy ra và dấu hiệu nhận biết); định luật bảo toàn khối lợng; ph-
ơng trình hoá học.
Rèn kĩ năng phân biệt đựơc hiện tợng hoá học đặc biệt kĩ năng trọng tâm cần
phải rèn cho học sinh đó là lập PTHH khi biết các chất phản ứng và sản phẩm.
Chơng III : Mol và tính toán hoá học :
5
Có 1 tiết luyện tập mà thông qua đó học sinh biết cách chuyển đổi qua lại
giữa khối lợng chất (m), số mol(n), và thể tích của chất khí (V). Biết cách xác
định tỉ khối của chất khí này đối với chất khí kia và tỉ khối của chất khí đối với
không khí. Có khả năng giải các bài toán hoá học đơn giản tính theo CTHH và
PTHH.
Chơng IV. Oxi - Không khí :
Có 1 tiết luyện tập nhằm củng cố hệ thống hoá kiến thức và khái niệm đã
học. Củng cố các kiến thức về tính chất hoá học, ứng dụng, điều chế oxi trong
phòng thí nghiệm và trong công nghiệp. Một số khái niệm hoá học mới: Sự oxi

bộ bài tập định lợng theo hình thức tự luận, học sinh hoàn toàn phải làm bài tập
tự luận từ đầu đến cuối.
Cả 8 tiết mới có một bài nhận biết ( bài luyện tập 6), không có một sơ đồ chuyển
hoá nào, có hai bài tập thực nghiệm trong 8 tiết luyện tập ( pha chế dung dịch )
- Với sự nghiên cứu về thực tế SGK chơng trình hoá học khối 8 tôi thấy đã có sự
tăng cờng tiết luyện tập, từ đó cho thấy vai trò rất quan trọng của tiết luyện tập
trong chơng trình. Xong để đáp ứng đợc các mục tiêu của môn học, thì số tiết
luyện tập hoá học trong chơng trình mà tôi đã thống kê vẫn còn rất ít, chính vì
vậy mà trong một giờ luỵện tập đòi hỏi phải có sự tổ chức, thiết kế về nội dung
bài tập về hình thức luyện tập sao cho mang lại đợc hiệu quả cao nhất. Xuất phát
từ những thuận lợi và khó khăn tôi đã nêu ở trên về thực trạng dạy và học của
giáo viên và học sinh cùng với chơng trình SGK, tôi xin đa ra một số giải pháp
về việc đổi mới sử dụng hệ thống bài tập trong giờ luyện tập hoá 8 nhằm giúp
giáo viên có những phơng án thiết kế một giờ luyện tập hoá học đạt hiệu quả
cao, góp phần khắc phục những hạn chế mà tôi đã nêu ở trên/
III/ Các giải pháp
A. Cần phải đổi mới về nội dung, hình thức và cách chọn lựa hệ
thống bài tập trong giờ luyện tập hoá học.
Đổi mới nội dung bài tập hoá học là phần cốt lõi của một giờ luyện tập hoá
học, nó thể hiện đợc mục tiêu cần đạt đợc của một số tiết luyện tập. Thông qua
nội dung bài tập mà giáo viên đa ra, học sinh sẽ tiếp cận và thực hiện các thao
tác t duy suy luận để hoàn thành chúng. Qua đó các em sẽ củng cố đợc kiến thức
cơ bản, khắc sâu đợc kiến thức trọng tâm, rèn đợc các kĩ năng cần thiết trong
việc ứng dụng và giải bài tập hoá học.
1. Nội dung bài tập hoá học phải đảm bảo tính kế thừa, củng
cố kiến thức và phát triển mở rộng kiến thức đã học.
Đối với học sinh đại trà mục tiêu tiết luyện tập là yêu cầu học sinh củng cố
đợc những kiến thức cơ bản nhất và rèn cho các em những kĩ năng cần thiết. Vì
vậy hệ thống bài tập bao giờ cũng nên đợc xây dựng từ mức độ nâng cao cơ bản,
từ những kiến thức chung sau đó mới xây dựng tiếp đến mức độ nâng cao, những

E. Khối lợng của nguyên tử đợc coi là khối lợng của các hạt e và p
F. Electron chuyển động quanh hạt nhân và xắp xếp thành từng lớp
Sau đó vận dụng những kiến thức về nguyên tử để đa bài tập phân hoá ở mức cao
hơn.
VD3: Thông tin về nguyên tử của nguyên tố Mg đợc biết đến nh sau :
NTK= 24 (đvc)
Điện tích hạt nhân: 12+
a. Hãy xác định số hạt p,n,e trong nguyên tử nguyên tố Mg
b. Hãy vẽ sơ đồ cấu tạo nguyên tử Mg
( biết trong nguyên tử có 3 lớp e, lớp sát hạt nhân có 2 e, lớp kế tiếp có 8 e, lớp
ngoài cùng có 2 e )
Muốn làm đợc bài tập này học sinh phải nắm đợc cách vẽ sơ đồ cấu tạo
nguyên tử, xác định mối quan hệ giữa các hạt p, n, e trong nguyên tử, khối lợng
từng loại hạt và cách tính khối lợng nguyên tử. Từ đó xác định, tính toán ra từng
loại hạt và dựa vào đề bài, mới vẽ đợc cấu tạo nguyên tử Mg
8
Sau đó là sử dụng bài tập tổng hợp có tính chất nâng cao hơn :
VD4: Để củng cố về hoá trị , cách lập CTHH, quy tắc hoá trị ta có thể đa bài tập
sau:
Phát hiện công thức viết sai trong các CTHH sau và sửa lại cho đúng: N, P
2
, Cu
2
,
HCl, NaCl
2
, CaCl, AlCl
2
, , NH
3

dùng )
2: Hệ thống bài tập bao gồm cả bài tập định tính định lợng và
có thể cả bài tập thực nghiệm
Để đảm bảo hình thành cho các em những kĩ năng cơ bản, tính sáng tạo thì
hệ thống bài tập đa vào cũng cần phải đảm bảo đủ các bài tập định tính, định l-
ợng và kể cả bài tập thực nghiệm. Có nh vậy mới thúc đẩy các em vận dụng
những kiến thức đã học một cách linh hoạt vào các dạng bài lý thuyết, tính toán
đảm bảo ở các mức độ phân hoá khác nhau và phù hợp với mọi đối tợng học
sinh. Đồng thời học sinh đợc rèn các kĩ năng làm quen với các dạng bài tập một
cách có hệ thống đặc biệt tạo điều kiện thuận lợi cho các em học tập ở những bài
tiếp theo.
VD trong bài luyện tập 2
Mục tiêu của bài : Học sinh đợc ôn tập về tính chất của đơn chất và hợp
chất, củng cố về cách lập CTHH, cách tính phân tử khối của chất. Củng cố bài
tập xác định hoá trị của một nguyên tố. Rèn luyện khả năng làm bài tập xác định
nguyên tố hoá học.Trên cơ sở đó những bài tập định tính có thể gồm các dạng
bài tập sau :
1/ Hãy chọn CTHH đúng trong các trờng hợp sau :
a. CTHH của phân tử axit sunfuric;
A. H2SO
4
B. H
2
sO
4
C. HSO
4
D. H
2
SO

3/ Lựa chọn ví dụ ở cột II cho phù hợp với các khái niệm ở cột I
Các khái niệm (I) Các ví dụ (II)
A. Nguyên tử
B. Hợp chất
C. Chất nguyên chất
D. Hỗn hợp
E. Phân tử
1. Nớc muối
2. Fe, O
2
, C
3. Nớc cất, muối ăn
4. Muối iốt, nớc cất
5. NaOH, NaCl, CO
2
6. S, Si, Ca
Bài tập định lợng gồm các bài tập sau:
1/ Tính khối lợng mol của các chất sau: Axitsunfuric (H
2
SO
4
), Natrinitrat
(NaNO
3
) cácbonđioxit (CO
2
)
2/ Hợp chất M có thành phần gồm các nguyên tố C, H, O . Trong đó tỉ lệ về số
nguyên tử của các nguyên tố C, H, O lần lợt là 1:2:1 . Hợp chất M có phân tử
khối là 60. Xác định CTHH của M

bài tập vận dụng giải thích một số vấn đề thực tế liên quan đến kiến thức đã học.
Bài tập tách chất điều chế chất, bài tập tính theo CTHH, bài tập tính theo phơng
trình hoá học, bài tập sử dụng cân bằng phơng trình và các bài tập tổng hợp khác.
3.3. Bài tập thực nghiệm :
Đây là nội dung bài tập mà hiện nay vẫn còn ít đa vào giờ luyện tập bởi vì
khi giải quyết bài tập thực nghiệm đòi hỏi học sinh ngoài việc phải nắm chắc
kiến thức và vận dụng kiến thức để giải quyết bài tập về phơng diện lý thuyết .
Không những thế các em còn phải thực hiện các thao tác thực hành thí nghiệm
để kiểm chứng lại kết quả của bài tập. Do vậy qua bài tập thực nghiệm còn rèn
cho học sinh các kĩ năng thực hành cơ bản, sự vận dụng kiến thức lý thuyết vào
thực tiễn góp phần tạo cho các em có thói quen làm việc, nghiên cứu khoa học
tính chính xác và tính thực tế. Dựa trên cơ sở mục tiêu bài học, bài tập thực
nghiệm có thể gồm những dạng bài sau: Bài tập thực nghiệm về điều chế các
chất trong phòng thí nghiệm, bài tập thực nghiệm nhận biết, bài tập thực nghiệm
pha chế dung dịch, bài tập thực nghiệm tách riêng chất bằng phơng pháp hoá
học, bài tập thực nghiệm về đo lờng. Tôi xin đa ra một số ví dụ:
Bài tập nhận biết
Hãy trình bày và tiến hành nhận biết dung dịch NaOH trong số các dung
dịch: NaCl, Na
2
SO
4,
,

NaOH, HNO
3

11
Hãy tiến hành nhận biết dung dịch đựng trong các lọ mất nhãn sau bằng ph-
ơng pháp hoá học: BaCl

4
, BaCl
2
, HCl và các dụng cụ cần
thiết, hãy lựa chọn và tiến hành điều chế BaSO
4
:
Bài tập pha chế dung dịch
VD4: Hãy trình bày và tiến hành pha chế 0,2 l dung dịch NaCl 1M
Một số VD dạng bài tập thực nghiệm khác
VD5: Cho một dung dịch NaCl bị mất nhãn, hãy xác định C% của dung dịch đó
bằng thực nghiệm
VD6: Hãy điều chế CuO từ 4 g CuSO
4
và NaOH từ kết quả thực nghiệm hãy tính
hiệu xuất phản ứng
B. Định hớng các phơng án để giải cho từng dạng bài tập trong ch-
ơng trình hoá học 8.
Giải bài tập hoá học là một quá trình phức tạp. Việc học sinh không giải đ-
ợc hoặc giải sai bài tập cha đủ cơ sở để kết luận họ không hiểu biết gì về kiến
thức và kĩ năng hoá học, mà do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do các
em cha nắm đợc phơng pháp tiến hành để giải 1 bài tập hoá học nói chung và
một bài tập hoá học ứng dụng kiến thức nói riêng. Các em không hiểu điều kiện
12
điều kiện của bài tập, không biết cần vận dụng kiến thức nào để giải bài tập,
không biết cách thực hiện cụ thể, tính toán sai vì quá yếu về kĩ năng toán học và
quá yếu về kĩ năng thực hành. Dó đó để hình thành và rèn luyện kĩ năng giải
BTHH nhằm nâng cao chất lợng, nắm vững kiến thức hoá học, một trong những
biện pháp là dạy học sinh phơng pháp tìm kiếm lời giải BTHH nói chung, giải
BT lý thuyết và bài tập thực nghiệm nói riêng từ mức độ cơ bản đến phân hoá.


13
Xác định hớng giải Trình bày lời giải
Bớc 1 : Viết CTHH của hợp chất
Tính M
Bớc 3: Lập quan hệ tỉ lệ mol, giữa nguyên
tố và hợp chất
Tính khối lợng cha biết
Bớc 4 : Trả lời
Khí cacbonic : CO
2
MCO
2
= 44 ĐVC
1 mol CO
2
chứa 1 mol C
0,25 mol CO
2
chứa 0,25 mol C
mC= 0,25 . 12 = 3g
Có 3 g C trong 11 g CO
2
* Hoặc cách 2:
Xác định hớng giải Trình bày lời giải
Bớc 1 : Viết CTHH của hợp chất
Bớc 2 : Tính khối lợng mol của hợp chất và
khối lợng của nguyên tố trong 1 mol chất
Bớc 3: Lập quan hệ với số liệu của đề bài
Tính x

Bớc 1 : Đổi ra số mol Fe
Bớc 2 : Viết PTHH
Xác định tỉ lệ số mol giữa Fe và H
2

Bớc 3 : Tìm số mol H
2
theo đề bài
Bứoc 4 : Tính ra dữ liệu cần tìm theo
yêu cầu của đề bài
Bớc 5 : Trả lời
M
Fe
= 56g
n
Fe
= 2,8: 56 = 0,05 (mol)
Fe + 2HCl FeCL
2
+ H
2
1 mol 1 mol
0,05 mol 0,05 mol
V H
2
(đktc) = 0,05 . 22,4 = 1,12 l
Có 1,12 l H
2
tạo thành sau phản ứng
*Cách 2: Dựa vào tỉ lệ giữa các đại lợng của chất cho và chất tìm

Bớc 2: Viết PTHH : H
2
SO
4
+ BaCl
2
BaSO
4
(r) + 2HCl
Bớc 3: Xét tỉ lệ mol giữa 2 chất theo PTHH và theo bài ra
theo PT : n H
2
SO
4
: n BaCl
2
= 1 mol : 1mol
Bài ra : = 0,1 mol : 0,05 mol
= 2 mol : 1 mol
Tìm chất d - H
2
SO
4
Bớc 4: Tính khối lợng sản phẩm theo số mol chất đã tham gia phản ứng hết
Tính m BaSO
4
theo n BaCl
2

C. Đổi mới trong khâu soạn bài lên lớp, kiểm tra đánh giá

đợc sử dụng nhiều nhất đó là:
1. Hình thức học tập cá nhân .
- Đây là hình thức học tập cơ bản nhất vì nó tạo điều kiện cho mỗi học sinh
trong lớp đợc tự nghe, tự làm việc một cách tích cực nhằm đạt kết quả cao. Học
sinh phải vận dụng kiến thức kĩ năng đã học để giải quyết bài tập một cách
nhanh chóng và chính xác. Đồng thời hình thức này thu hút, tạo điều kiện để học
sinh tìm ra các tình huống hấp dẫn để chống sự thụ động của học sinh, hơn nữa
qua đây học sinh bộc lộ khả năng tự học của mỗi ngời.
- Các bớc tiến hành hình thức này tôi làm nh sau:
Bớc 1: Giáo viên nêu rõ vấn đề, xác định nhiệm vụ chung cho cả lớp và hớng dẫn
gợi ý học sinh làm việc (kiểm tra bài cũ, chữa bài tập ).
Bớc 2: Học sinh làm vệc cá nhân (trả lời câu hỏi của giáo viên hoặc làm bài tập
vào vở bài tập, phiếu học tập) trong một thời gian nhất định.
Bớc 3: Giáo viên cho một vài em báo cáo kết quả, các học sinh khác nhận xét,
góp ý hoặc đổi tráo bài cho nhau để kiểm tra.
Bớc 4: Giáo viên cùng với học sinh nhận xét và chuẩn xác kiến thức.
- Yêu cầu:
* Đối với thầy:
+ Trong qúa trình học sinh làm việc giáo viên kiểm tra đôn đốc nhắc nhở.
+ Thờng xuyên yêu cầu học sinh báo cáo kết quả hoặc nhận xét bổ sung.
+ Thu phiếu học tập kiểm tra đánh gía rút kinh nghiệm.
* Đối với trò
+ Phải độc lập tự giác học tập nghiêm túc.
16
+ Huy động đợc kiến thức đã học kinh nghiệm của bản thân vào việc xử lý yêu
cầu của thầy.
2. Hình thức học theo nhóm
- Khi gặp những bài tập, những câu hỏi hoặc những vấn đề khó, phức tạp mà
hoạt động cá nhân khó có thể hoàn thành đợc, trong những trờng hợp đó cần tổ
chức cho học sinh học tập theo nhóm.

+ Tham gia hình thức trò chơi hái hoa mà để có đợc bông hoa đó phải trải
qua việc trả lời đúng một số câu hỏi hoặc bài tập mà giáo viên đa ra (hình thức
trò chơi đợc phát huy cao độ khi dạy bằng giáo án điện tử )
b. H ớng dẫn học sinh khai thác một đề toán:
- Để có đợc hớng giải của một bài toán, học sinh cần phải biết móc xích các
mối quan hệ từ các dữ kiện giả thiết đến các yêu cầu mà bài tập đề ra. Vì vậy để
chủ động trong việc tìm hiểu đề bài và thiết lập đợc phơng hớng giải, giáo viên
không chỉ cung cấp cho học sinh sẵn các bớc giải của một bài toán vì nh thế sẽ
làm cho học sinh mất tính chủ động, tính sáng tạo và khó phát hiện đợc năng lực
của từng ngời. Các em sẽ áp dụng một cách máy móc làm một bài tập mà không
tìm hiểu tại sao lại đi theo hớng này? liệu còn hớng giải nào khác? Hay bài tập
có biến đổi đi một chút với bài luyện tập mẫu đó, học sinh sẽ không làm đợc. Do
vậy nhất thiết trớc một bài tập giáo viên cần phải hớng dẫn học sinh xác định h-
ớng đi bắt đầu từ sơ đồ định hớng ngợc sau đó mới xây dựng thành sơ đồ định h-
ớng xuôi. Sở dĩ tôi gọi là sơ đồ định hớng ngợc vì từ những dữ kiện bài yêu cầu,
học sinh sẽ phải nhớ lại các công thức, những phần kiến thức để hoàn thành yêu
cầu đó rồi móc xích đến các dữ kiện giả thiết .
Tôi xin đa ra một VD sau :
Bài tập 4 / 79 : Bài luyện tập 4
Có phơng trình hoá học :
CaCO
3
+ 2HCl CaCl
2
+ CO
2
+ H
2
O
Canxi cacbonat axit clohiđric canxi clorua khí cacbonic nớc

3
= mCaCO
3
: M CaCO
3
n CaCl
2
=?

Tính m CaCl
2
=? mCaCl
2
= n CaCl
2
.M CaCl
2

Từ sơ đồ định hớng ngợc trên để giải bài tập thì học sinh phải đi theo hớng ngợc
lại theo mũi tên đi xuống.
c. Đổi mới cách kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh:
- Nếu nh giải pháp thứ nhất là bớc chuẩn bị, giải pháp thứ hai là tổ chức thực
hiện thì giải pháp thứ ba là nghiệm thu kết quả của thầy và trò trong một tiết
luyện tập. Nội dung kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh phải dựa
trên những mục tiêu cụ thể mà bộ môn đã đề ra ở từng chơng, từng phần.
1. Những câu hỏi phải bảo đảm kiểm tra đợc toàn diện về các mặt kiến thức,
kĩ năng và t duy của học sinh, đồng thời phải chú ý đến tính phổ thông đại trà
và phân loại trình độ học sinh. Khi kiểm tra đánh giá cần chú ý .
* Về kiến thức:
Đánh giá việc nắm kiến thức của học sinh theo ba mức độ :

hợp với đối tợng học sinh, chúng tôi thờng sử dụng thể loại luyện tập củng cố
nhận dạng kiến thức dành cho học sinh trung bình -yếu - kém, thể loại luyện tập
tổng hợp thờng dành cho học sinh trung bình - khá trở lên. Thực hiện nh vậy sẽ
động viên khuyến khích học sinh trong quá trình học tập.
-Nếu học sinh hiểu sai hoặc mắc sai lầm khi tính toán thì giáo viên phải sửa
chữa triệt để.
IV. Kết quả:
Khi triển khai chuyên đề này chúng tôi đã thực hiện bằng nhiều tiết luyện
tập ở các khối lớp 8, các tiết luyện tập đều áp dụng các giảp pháp trên. Chúng tôi
đều nhận thấy đợc một số vấn đề đáng phấn khởi sau:
Học sinh :
- Các em rất hứng thú trong học tập, kể cả những học sinh học cha tốt bộ
môn hoá. Tạo cho các em có niềm tin vào năng lực của chính mình. Không khí
lớp học sôi nổi .
- Bớc đầu đã xây dựng cho học sinh phong cách say sa tìm tòi, khám phá
những điều mới, điều hay qua từng bài tập các em đã thực sự đợc hởng niềm vui
khi chính bản thân mình hoặc bạn bè mình tìm ra những lời giải hoặc đáp án
đúng và hay.
-Các kĩ năng cơ bản nh: Kĩ năng viết phơng trình hoá học, kĩ năng vận dụng
kiến thức và giải thích một số hiện tợng trong cuộc sống vào giải các bài tập toán
cụ thể, kĩ năng thực hành đợc nâng lên ở mức độ sâu sắc hơn.
- Rèn luyện cho các em chú ý không chịu lùi bớc trớc khó khăn, chán nản
trớc bài tập khó.
20
Giáo viên :
- Góp phần nâng cao nhận thức về đổi mới phơng pháp dạy học cho đội ngũ
giáo viên trong nhóm và đồng nghiệp .
- Nâng cao chất lợng của một giờ luyện tập đáng kể, góp phần trong việc
trau dồi về phơng pháp và chuyên môn ngày càng tốt hơn.
Lớp Sĩ số

Trong quá trình thực hiện chuyên đề nhóm hoá chúng tôi cũng đã từng bớc
thực nghiệm từ thảo luận thống nhất bài soạn đến tiết dạy trên lớp cụ thể :
Môn hoá học lớp 8 :
+ Tháng 10 /2007
Tiết 11 Bài luyện tập 1 : Giáo viên lên lớp : Bùi thị Phợng
Tiết 15 Bài luyện tập 2 : Giáo viên lên lớp : Lơng thị Di
+Tháng 11+12/ 2007
Tiết 24 : Bài luyện tập 3 : Giáo viên lên lớp : Trần thị Năng
Tiết 28 : Bài luyện tập 4 : Giáo viên lên lớp : Bùi thị Phợng
Phần III. Kết luận
1. Những đánh giá cơ bản
Qua chuyên đề này tôi rút ra một số vấn đề cơ bản sau
+ Giáo viên cần nghiên cứu kĩ mục tiêu của một bài dạy, nghiên cứu kĩ nội
dung kiến thức, bài tập trong SGK và một số sách tham khảo phục vụ cho bài
dạy để có đợc nội dung và hình thức dạy học hợp lý.
+ Cần chú ý tới đối tợng học sinh để từ đó có những bài tập và phơng pháp
thiết thực phù hợp với mọi đối tợng.
+ Cần dự đoán các tình huống có thể xảy ra và các giải pháp để khắc phục.
Lên kế hoạch các phơng án hớng dẫn học sinh tìm ra phơng hớng giải cho từng
dạng bài tập . Đây là một khâu hết sức quan trọng.
+ Chuẩn bị các đồ dùng dạy học cần thiết, các thí nghiệm dụng cụ hoá chất
+ Cần dự kiến thời gian cho từng phần cụ thể, phân định rõ hoạt động của
giáo viên và học sinh.
Trên đây là nội dung của chuyên đề mà tôi đã thực hiện và báo cáo. Với thời
gian có hạn tôi xin đợc đóng góp một số những kinh nghiệm và suy nghĩ của
21
mình trong quá trình giảng dạy và từ khi thực hiện chuyên đề. Tôi rất mong nhận
đợc sự đóng góp ý kiến của các đồng chí để việc giảng dạy của chúng ta trong
thời gian tới đạt hiệu quả cao hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trờng, tổ chuyên môn đã tạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status