1. Mở đầu
Văn bản pháp luật là phương tiện quan trọng và chủ yếu trong hoạt
động quản lý của Nhà nước. Trên thực tế, văn bản pháp luật thường có mối
quan hệ nhất định với các quan hệ xã hội và tác động vào đời sống xã hội ở
những phạm vi và giới hạn nhất định. Hiệu quả của sự tác động đó được xem
xét từ nhiều yếu tố như: Thẩm quyền ban hành văn bản, hình thức văn bản,
phạm vi điều chỉnh và chất lượng của văn bản pháp luật. Trong đó, chất lượng
văn bản pháp luật được đánh giá là một nội dung quan trọng, mang tính quyết
định đối với hiệu lực và hiệu quả tác động của văn bản pháp luật. Nhìn chung,
chất lượng văn bản pháp luật thường thể hiện ở sự phù hợp đối với nhu cầu và
mục đích của xã hội, ở mức độ và hiệu quả tác động tới các quan hệ xã hội, ở
tính khả thi trong cuộc sống. Do đó tính khả thi của văn bản là một trong
những điều kiện mang lại hiệu lực thực tế cho văn bản pháp luật nên ta sẽ tìm
hiểu các điều kiện để đảm bảo tính khả thi trong văn bản pháp luật.
2. Nội dung chính
2.1. Khái quát về tính khả thi của văn bản pháp luật.
Khi thảo luận về một dự thảo luật hoặc một văn bản luật đã được Quốc
hội ban hành chúng ta thường nói đến tính khả thi của văn bản và thường băn
khoăn liệu văn bản đó có tính khả thi hay không? Vậy khả thi là gì? Một văn
bản pháp luật cần phải đáp ứng những yêu cầu nào để có tính khả thi và phải
làm như thế nào để xây dựng được một văn bản pháp luật đảm bảo tính khả
thi.
"Khả thi" theo từ điển tiếng Việt có nghĩa là khả năng thực hiện được
của một dự kiến, đề án hay một cách khác là những quy định của dự án luật
có khả năng đi vào cuộc sống mà không dừng lại ở trên giấy. Trên cơ sở đó
hình thành cách hiểu phổ biến về tính khả thi của văn bản pháp luật, coi đó là
mối liên hệ trực tiếp giữa tính hợp pháp và sự thoả mãn những đòi hỏi cơ bản
của đời sống xã hội, là thuộc tính của những văn bản có thể thi hành được
trong thực tiễn vì có nội dung phù hợp (không cao hơn các điều kiện khách
quan của đời sống xã hội).
Như vậy, tính khả thi là một trong những điều kiện mang lại hiệu lực
quá lạc hậu so với thực tiễn thì văn bản đó khó có thể được thi hành. Do vậy
sẽ có một số điều kiện để bảo đảm tính khả thi trong văn bản pháp luật như
sau:
Một là, tính khả thi của văn bản thể hiện ở sự phù hợp của nội dung văn
bản pháp luật với đường lối chính sách của Đảng, với lợi ích của các bên có
liên quan vì nội dung văn bản pháp luật luôn trực tiếp hay gián tiếp ảnh
hưởng tới lợi ích của cá nhân, tổ chức.
Với tư cách là phương tiện cơ bản của nhà nước trong quản lý, các văn
bản pháp luật có phải có nội dung phù hợp với đường lối chính sách của Đảng
Cộng sản Việt Nam trong quá trình thể chế hoá thành pháp luật hoặc trong
việc tổ chức thực hiện có hiệu quả và mới bảo vệ hữu hiệu lợi ích cơ bản của
giai cấp công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác.
So sánh với xã hội có giai cấp thì vấn đề lợi ích luôn hết sức phức tạp,
ở một chừng mực nào đó vẫn tồn tại những mâu thuẫn gay gắt về lợi ích giữa
các giai tầng khác nhau và khi đó nếu nội dung văn bản phù hợp với lợi ích
của giai tầng này nhưng có thể sẽ bất lợi cho giai tầng khác. Vì vậy, với bản
chất xã hội của mình nhà nước là chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn
xã hội và Nhà nước phải có nhiệm vụ xem xét để tạo ra sự hợp lý về lợi ích
của tất cả các giai tầng trong xã hội thì mới có thể tạo ra sự ổn định, tạo tiền
đề cho sự phát triển của xã hội. Trong quá trình đó cần xác định rõ những lợi
ích nào là lợi ích chung cơ bản phải bảo vệ, không thể dung hoà, những lợi
ích nào là riêng hoặc thứ yếu và có thể dung hoà.
Đối với những vấn đề cơ bản như: Vai trò lãnh đạo của Đảng định
hướng phát triển, nền tảng tư tưởng của xã hội quyền sở hữu của nhà nước,
quyền tự do dân chủ của công dân thì nhà nước phải thiết lập, bảo vệ, còn đối
với những lợi ích riêng của một giai tầng nào đó đối lập với lợi ích của giai
tầng khác thì nhà nước cần có giải pháp dung hoà lợi ích của những giai tầng
đó. Khi đó văn bản pháp luật sẽ được tự giác thực hiện và nhờ đó sẽ có khả
năng tác động cao nhất khi có nội dung phù hợp với lợi ích của những bên
hữu quan; Trong trường hợp ngược lại thì khó có thể tránh khỏi sự lẩn tránh
(và kèm theo nó là các quy định về phạt tiền đối với hành vi vi phạm) tuy cũng
là văn bản hoàn toàn có tính khả thi (rất nhiều nước trên thế giới đã thực hiện
được). Nhưng trên thực tế lại không được thực hiện ở Việt Nam và khi Nghị
quyết của Chính phủ quy định về bắt buộc đội mũ bảo hiểm đi mô tô, xe máy
trên mọi tuyến đường có hiệu lực thì việc người dân có chấp hành hay không
sẽ phụ thuộc rất nhiều vào công tác tổ chức thực hiện quy định này của Chính
phủ...
Đồng thời nội dung văn bản pháp luật phải phù hợp với thực trạng các
yếu tố thuộc cơ sở vật chất trong xã hội. Cơ sở của đời sống xã hội rất đa
dạng gồm: tài chính, nguyên liệu, vật liệu, tài nguyên môi trường, đất đai,
giao thông... là những điều kiện vật chất cần thiết cho việc thực hiện văn bản
nên nội dung văn bản phải phản ánh (trực tiếp và gián tiếp) về thực trạng, phải
phù hợp (không cao hơn hoặc thấp hơn) thì mới bảo đảm tính khả thi, ngược
lại, chính những yếu tố đó sẽ bị biến đổi trong những chừng mực nhất dịnh
khi có sự tác động của văn bản. Vì vậy, khi hình thành nội dung văn bản, chủ
thể ban hành phải dựa trên cơ sở các điều kiện vật chất vốn có trong thực tiễn
mà không thể chủ quan duy ý chí, phải chú ý tới khả năng mang lại hiệu quả,
đặc biệt là hiệu quả, đặc biệt là hiệu quả kinh tế của chúng trong quá trình tác
động, nếu không văn bản có thể rơi vào tình trạng không khả thi hoặc không
có hiệu quả, thậm chí phản tác dụng và có thể gây ra những thiệt hại khó
lường.
Mặt khác, nội dung văn bản phải phù hợp với thực trạng điều kiện nhân
lực trong xã hội vì con người vừa là chủ thể hình thành nên văn bản pháp luật