SKKN DẠY HỌC SINH GIẢI BÀI TOÁN “BỐN PHÉP TÍNH VỀ PHÂN SỐ Ở LỚP 4” - Pdf 26

PHẦNI : ĐẶT VẤN ĐỀ
1
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LỤC NAM
TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN ĐỒI NGÔ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
DẠY HỌC SINH GIẢI BÀI TOÁN
“BỐN PHÉP TÍNH VỀ PHÂN SỐ Ở LỚP 4”
HỌ VÀ TÊN: NGUYỄN THỊ BÌNH
ĐƠN VỊ CÔNG TÁC: TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN ĐỒI NGÔ
Đồi Ngô, ngày 5 tháng 8 năm 2011
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc đổi mới đất nước, hòa nhập với sự phát triển của khu
vực và trên thế giới. Đất nước ta đang từng bước tiến vào kỉ nguyên mới, kỷ
nguyên của khoa học công nghệ. Giáo dục và đào tạo là điều kiện không thể
thiÕu ®Ó nâng cao dân trí, đào tạo nhận lực, bồi dưỡng nhân tài.
Cấp tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, chất
lượng giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đào tạo ở bậc học Tiểu học.
Mục tiêu giáo dục tiểu học nhằm giúp em học sinh hình thành cơ sở ban đầu
cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và
kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên các lớp trên. Trong các môn học ở
bậc Tiểu học môn toán chiếm một vị trí rất quan trọng, giúp các em chiếm
lĩnh được tri thức, phát triển trí thông minh, năng lực tư duy sáng tạo lôgic.
Góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho
học sinh.
Do đó việc quan tâm, bồi dưỡng năng lực học toán và giải bài toán cho
học sinh là việc không thể thiếu được. Lý luận dạy môn toán chỉ rõ: Dạy học
các bộ môn toán bao gồm dạy học lý thuyết và dạy học giải các bài tập toán.
Dạy học lý thuyết toán ở Tiểu học là dạy học hình thành các khái niệm, các
quy tắc… Dạy học giải các bài tập toán là tổ chức hướng dẫn cho học sinh

+ Tiến hành thực nghiệm tại trường Tiểu học thÞ trÊn §åi Ng« - Lôc
Nam – B¾c Giang.
4 . Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .
3.1 Đối tượng nghiên cứu.
Một số sai lầm mà học sinh thường mắc phải khi học giải các bài tập
toán bốn phép tính về phân số ở các trường Tiểu học.
3.2 . Phạm vi nghiên cứu .
Dạy học giải các bài tập toán bốn phép tính về phân số ở lớp 4 .
5. Phương pháp nghiên cứu
3
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
5.2 Phương pháp quan sát điều tra
5.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
5.4 Phương pháp xử lý thống kê các tài liệu
5.5. Những đóng góp mới của đề tài và phương hướng nghiên cứu tiếp theo
A. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài
Phân số và các phép tính liên quan đến phân số thực chất là quá trình mở
rộng và nâng cao của các phép tính số tự nhiên. Trong quá trình dạy học việc
xây dựng các khái niệm về phân số là rất quan trọng trong việc dạy học bốn
phép tính về phân số.
* Khái niệm phân số: (Có hai cách hình thành)
+ Dựa trên các khái niệm các phân số bằng nhau của một đơn vị trên cơ
sở hoạt động đối với việc đo một đại lượng nào đó.
+ Hình thành khái niệm như một loại số đề ghi lại kết quả của một phép
chia một số tự nhiên cho một số tự nhiên khác có dư.
Như vậy: Phân số là một cách biểu diễn có một phép đo, phép chia có dư
của hai số tự nhiên
+ Phân số bằng nhau: Các phân số được biểu diễn cùng một điểm trên tia
số là các phân số đặc biệt (mà mẫu là số 1 ) .

Cuối bậc Tiểu học, khả năng tư duy của các em chuyển dần từ trực quan
sinh động sang tư duy trừu tượng, khả năng phân tích tổng hợp đã được diễn
ra trong trí óc dựa trên các khái niệm và ngôn ngữ. Trong quá trình dạy học,
hình thành dân khả năng trừu tượng hóa cho các em đòi hỏi người giáo viên
phải nắm được đặc điểm tâm lý của các em thì mới có thể dạy tốt và hình
thành kỹ năng, kỹ xảo, phát triển tư duy và khả năng sáng tạo cho các em,
giúp các em đi vào cuộc sống và học lên các lớp trên một cách vững chắc
hơn.
Dựa vào đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học mà trong quá trình
dạy học phải làm cho những trí thức khoa học như một đối tượng, kích thích
sự tò mò, sáng tạo cho hoạt động khám phá của học sinh, rèn luyện và phát
5
triển khả năng tư duy linh hoạt, sáng tạo, khả năng tự phát hiện, tự giải quyết
vấn đề, khả năng vận dụng những kiến thức đã học vào những trường hợp có
liên quan vào đời sống thực tiễn của học sinh.
1. 3 . Cơ sở thực tiễn .
Bắt đầu từ năm học 2005 - 2006 chương phân số và các phép tính về
phân số được đưa xuống dạy ở lớp 4 phép tính (Phép cộng, phép trừ, phép
nhân, phép chia). Đây là một nội dung tương đối khó với học sinh lớp 4 cũ thì
các em học các phép tính ở lớp 5, khi các em đã học ôn lại những kiến thức về
số tự nhiên rất kỹ. Chương “phân số - các phép tính về phân số” gồm các nội
dung sau:
+ Hình thành khái niệm về phân số: Học sinh cần nắm được mỗi số tự
nhiên đều có thể viết dưới dạng phân số có mẫu số là 1 . Số 1 có thể viết dưới
dạng phân số có tử số và mẫu số bằng nhau và khác 0.
+ Hình thành khái niệm về các tính chất, tác dụng cơ bản về phân số
bằng nhau, rút gọn phân số, quy đồng mẫu số các phân số.
+ Hình thành quy tắc so sánh hai phân số cùng mẫu số, khác mẫu số, so
sánh phân số với 1… Vận dụng để sắp xếp các phân số theo thứ tự từ bé đến
lớn (hoặc từ lớn xuống bé) . Tìm phần bù của hai phân số bằng cách lấy 1 trừ

với giáo viên và học sinh. Trước khi học phần này các em đã được học về dấu
hiệu chia hết cho 2,5,3 và 9. Nhưng đến chương "Phân số" với các tính chất
và các phép toán của "Phân số" Đặc biệt là vận dụng các phép toán để giải các
bài toán bốn phép tính về phân số, các bài toán có lời văn liên quan đến phân
số học sinh còn gặp nhiều khó khăn. Sau khi nghiên cứu phương pháp dạy
học môn toán ở bậc tiểu học, đặc biệt là phần dạy học chương "Phân số" . Qua
thăm dò ý kiến của giáo viên trực tiếp giảng dạy tôi nhận thấy rằng: Sau khi
hình thành quy tắc đối với mỗi phép tính về sau các em rất dễ nhầm lẫn sang
phép tính trước mới học và những sai lầm này trở nên phổ biến ở nhiều học
sinh. Trên cơ sở tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến sai lầm, tôi đã đưa ra
một số biện pháp để hạn chế, khắc phục những sai lầm đó, nhằm nâng cao
chất lượng dạy học nói chung, dạy học bộ môn toán và kiến thức về chương "
Phân số" nói riêng đạt hiệu quả.
7
2. MỘT SỐ SAI LẦM KHI THỰC HIỆN BỐN PHÉP TÍNH
2.1. Việc so sánh phân số với phân số, số tự nhiên.
Trong quá trình thực hiện việc so sánh các em thường mắc một số lỗi cơ
bản sau:
VD1 : So sánh :
a.
1
2

2
5
Học sinh làm sai:
1
2
<
2

phân số có mẫu số và tử số bằng nhau và khác 0.
- Giáo viên cần chỉ rõ muốn so sánh được hai phân số khác mẫu số thì
phải quy đồng rồi mới so sánh hai phân số mới từ đó kết luận phân số lớn
phân số bé.
- Giáo viên cần cho học sinh nắm chắc lưu ý: Phân số có tử số bé hơn
mẫu số thì phân số thì phân số đó bé hơn 1 và ngược lại.
8
Đối với các phân số có tử số bằng nhau thì các em so sánh các mẫu số:
Mẫu số phân số nào lớn thì phân số đó bé và ngược lại.
*Cụ thể các phép tính đúng:
a.
1
2

2
5
Quy đồng mẫu số các phân số :
= =
1 1x5 5
2 2x5 10
;
= =
2 2x2 4
5 5x2 10

> >
5 4 1 2
V× nªn
10 10 2 5
b. 1 và


b.
3 5
8 16
+
Học sinh thường làm sai:
3 5 3 5 8 1
8 16 8 16 24 3
+
+ = = =
+
c. 5 +
6
7
Học sinh thường làm sai :
6 5 6 5 6 11
5
7 1 7 1 7 8
+
+ = + = =
+
Hoặc:
6 5 6 11
5
7 7 7
+
+ = =
Với những kết quả của các ví dụ trên học sinh làm đều sai. Do học sinh
nắm kiến thức bài học chưa tốt do nhầm lẫn các phép tính trong phân số. Sau
khi học xong một phép tính các em đều thực hiện tốt, song sau khi học song 4

+ = + +
(Quy đồng mẫu số các phân số)
Sau đó rút gọn :
88 11
128 16
=
Vậy:
3 5 11
8 16 16
+ =
Cách 2:
3 5
8 16
+
v× 18 : 8 = 2. Do đó
3 5 6 5 11
8 16 16 16 16
+ = + =

Giáo viên cần lưu ý cho học sinh cách giải 2: Nếu hai mẫu số của hai phân
số chia hết cho nhau ta chỉ việc quy đồng mẫu số phân số bé với mẫu số
chung là mẫu số của phân số lớn.
10
Đối với ví dụ c
Trong khi dạy phần lý thuyết, giáo viên chú ý khắc sâu phần chú ý cộng
hai phân số ở SGK cho học sinh. Chỉ ra chỗ sai và kịp thời uốn nắn, áp dụng
làm bài tập tương tự.
Như vậy trong phép cộng giáo viên cần chú ý cho học sinh nắm vững
quy tắc cộng phân số, cách chuyển đổi số tự nhiên về phân số sau đó thực
hiện cộng hai phân số như đã học ở ví dụ a và b

2 3
1 2
<

* Nguyên nhân:
* Do các em không nắm vững biện pháp so sánh hai phân số, quy tắc trừ
hai phân số, cách chuyển số tự nhiên về phân số.
* Do các em không nắm vững cấu tạo của phân số, cách chuyển từ số tự
nhiên về phân số hoặc ngược lại và cách thực hiện.
* Do thủ thuật tính toán của các em chưa thật chu đáo, các em còn cẩu
thả trong tính toán .
* Biện pháp khắc phục:
- Đối với ví dụ 1 và 2 : Yêu cầu học sinh nắm vững quy tắc trừ hai phân
số đồng thời chỉ ra chỗ sai lầm cho học sinh thấy, rồi cho các em làm các bài
tập tương tự.
11
+ Hướng dẫn VD1 :
1 1
4 6

Quy đồng mẫu số các phân số.
1 1x6 6
4 4x6 24
1 1x 4 4
6 6x4 24

= =


= =

12
Do đó:
1 1
4 6

=
3
12
-
2
12
=
1
12
.
+ Đối với ví dụ 2 : Do các em chưa nắm vững cách chuyển số tự nhiên
về phân số (ví dụ: 2 =
2 4

1 2
= =
)chọn phân số nào có cùng mẫu số với phân
số đã cho. Đối với phép trừ phân số cho số tự nhiên cũng vậy. Trong trường
hợp này HS thường làm sai: 2 -
2 4 3 1
3 3 2 2
= − =
Như vậy đối với phép trừ cần hướng dẫn cho học sinh nắm vững cách so
sánh hai phân số để tránh nhầm lẫn (số bị trừ < số trừ). Đặc biệt các bài toán
có lời văn.

12
VD2: Tính; 3 x
4
7
( Nhân số tự nhiên với phân số và ngược lại)
Có học sinh làm sai: 3 x
4 12 4 21 4 21x7 147
hoÆc3x x
7 21 7 7 7 7x4 28
= = = =

* Nguyên nhân:
- Sự sai lầm thường rơi vào tiết luyện tập. Do học sinh nắm quy tắc nhân
phân số chưa thật chắc đã nhầm sang phép cộng hai phân số cùng mẫu số.
Trong ví dụ 2 ngoài việc không nắm được quy tắc nhân thì các em còn
không nắm được số tự nhiên là phân số đặc biệt có mẫu số là 1 . Một số em
thì nhầm phép nhân với phép chia.
* Biện pháp khắc phục:
- Trước khi làm phần bài tập (luyện tập) . Yêu cầu học sinh nhắc lại quy
tắc và một số chú ý trong sách giáo khoa có liên quan đến kiến thức bài học.
- Trong khi thực hành mẫu giáo viên cần thực hiện từng bước một rõ
ràng, cụ thể không thể làm đơn giản (làm tắt). Để khi thực hiện những học
sinh yếu nắm được cách làm. Yêu cầu học sinh phân biệt rõ phần chú ý của
phép cộng số tự nhiên với phân số, quy tắc nhân phân số . . . Giáo viên cần
chỉ rõ bản chất của từng quy tắc đối với mỗi phép tính đồng thời chỉ rõ sai
lầm cho các em khắc phục và tránh những sai lầm đó.
+ Hướng dẫn học sinh khắc phục:
Trong ví dụ 1 :
2 3 2x3 6
x

1 2 3 1 2 3 6 8 9 432
x x häc sinh lµm x x x x 3
2 3 4 2 3 4 12 12 12 12
= = =
6
HS làm sai:
3
5
:
5
8
=
3 5
7 8
x
x
=
15
56

Ví dụ 2: Tính
3
4
: 2 học sinh làm sai:
3
4
: 2 =
3x2 6
4 4
=

Hoặc:
3 3 2 3 1 3 3 3 3
: 2 : x hay : 2
4 4 1 4 2 8 4 4x2 8
= = = = =
(chia phân số cho số tự
nhiên ta chỉ việc giữ nguyên tử số và lấy mẫu số nhân với số tự nhiên đó).
Ngoài việc thực hiện đúng ra thì giáo viên cần hướng dẫn các em dùng
phép thử lại để kiểm tra kết quả của mình đã thực hiện bằng các phép tính
trước đã học.
(Ví dụ:
3 3 3 6 3
: 2 thö l¹i x2
4 4 4 8 4
= = =
(thì kết quả làm đúng)
* Một số lưu ý khi dạy bốn phép tính về phân số.
14
Sau khi dạy xong bốn phép tính đối với phân số và qua các ví dụ sau lầm
cụ thể của học sinh giáo viên cần lưu ý .
+ Giáo viên cần đưa ra các ví dụ, các bài tập tổng quát, sử dụng biện
pháp trắc nhiệm để các em hiểu rõ hơn về bản chất của bốn phép tính mà các
em đã học.
+ Sau khi học phép trừ và phép chia giáo viên hướng dẫn các em dùng
phép thử lại để kiểm tra kết quả.
+ Khi dậy thực hiện giáo viên cần thực hiện đúng các bước của bài toán
để các em học yếu có thể thực hiện được.
Ngoài ra sau khi học xong bốn phép tính giáo viên dùng biện pháp trắc
nghiệm tổng quát để kiểm tra kết quả của các em.
3 . Một số sai lầm khi tính giá trị biểu thức phân số.

nhân, chia).
15
+ Giáo viên yêu cầu các em nhắc lại thứ tự thực hiện các phép tính, chỉ
ra sai lầm sửa chữa, uốn nắn kịp thời.
VDl:
+ = + = + =
1 1 2 1 2 5 2 7
x
3 3 5 3 15 15 15 152 1 4 2 7 8 7 15
:
3 3 7 3 12 12 12 12
+ = + = + =
VD 2:
3 1 2 3 2 9 2 7
x
4 4 3 4 12 12 12 12
− = − = − =

5 2 4 10 4 10x3 30 5
x : :
7 3 3 21 3 21x4 84 14
= = = =
* Giáo viên lưu ý cho học sinh:
Biểu thức chỉ có các phép tính (x, x) thì các em có thể thực hiện từ trái
qua phải hoặc từ phải qua trái đều được.
VD:
3 4 1 3 4 12

= = =
16
Cách 2:
1 2 3 1
x x
2 3 4 4
=
(rút gọn)
(Với cách 2 này áp dụng cho biểu thức nhiều phân số mà ta có thể rút
gọn được)
3.3 Một số sai lầm trong những bài toán có lời văn trên quan đến phân
số:
VD1 : (SGK - Toán 4 - Trang 133 )
Một hình chữ nhật có chiều dài
6
7
và chiều rộng
2
5
. Tính diện tích hình
chữ nhật đó?
+ Học sinh tính:
6 2 88
( )x2
7 7 35
+ =
(m
2
)
Như vậy các em đã nhầm sang công thức tính chu vi hình chữ nhật.

(tấm vải).
TH 2: Các em tính:
1 2 5 6
3 5 15 15
+ = +
(tấm vải).
Đến đây học sinh không biết tính thế nào nên lúng túng và tìm một cách
tính bất kỳ không biết đúng hay sai:
* Nguyên nhân:
- Ở phần a TH: học sinh không chú ý đến phép cộng hai phân số khác
mẫu số nên tính kết quả sai
TH2: học sinh không biết cách trình bày phép tính của bài toán giải có
lời văn
-Ở ý b nhiều học sinh không làm được hoặc làm sai. Do tư duy tưởng
tượng của học sinh kém các em còn bị chi phối nhiều vào từ ngữ trong đề
toán nên chưa hiểu hết đề toán. Không hiểu được số phần vải ban đầu là 1 đơn
vị hay bằng số phần tương đương. (ở đây coi số phần vải ban đầu là 1 hay là
15
15
)
* Biện pháp khắc phục:
+ Yêu cầu học sinh đọc kỹ đầu bài, xác định rõ các yếu tố của đề bài
(yếu tố chưa biết, yếu tố đã biết), tìm hướng giải, cách trình bày phép tính,
phép toán của bài toán có lời văn. Nắm chắc quy tắc 4 phép tính về phân số để
vận dụng vào làm bài tập.
+ Giáo viên chỉ ra chỗ sai làm để kịp thời uốn nắn, khắc phục sai lầm về
cách tính, cách trình bày, cách ghi phép tính. Đặc biệt chỉ rõ sai lầm trong tư
duy, tưởng tượng cho học sinh.
+ Cho học sinh thực hành luyện tập nhiều và kiểm tra lại kết quả.
Cách giải đúng: Cả hai lần bán được là:

+ Giáo viên cần khắc sâu thứ tự thực hiện các phép toán (Nhân chia
trước, cộng trừ sau). Đối với phép cộng và phép nhân thì các em thực hiện từ
phải qua trái hoặc từ trái qua phải .
Để hạn chế những sai lầm trên và để kiểm chứng, đối chiếu việc thực
hiện của giáo viên và thực hành của học sinh. Góp phần nâng cao chất lượng
dạy học, chúng tôi đã đi vào thực nghiệm sư phạm, đề xuất biện pháp khắc
phục những sai lầm trên.
4.Nguyên nhân và biện pháp khắc phục
19
- Qua nghiên cứu lý luận dạy học và được kiểm chứng qua kết quả thực
nghiệm sư phạm tại trường Tiểu học thị trấn Đồi Ngô – Lục Nam – Bắc
Giang. Việc phân tích những sai lầm góp phần bồi dưỡng năng lực giải toán
cho học sinh. Hình thành kỹ năng, kỹ xảo giải toán cho học sinh tránh những
sai lầm đơn giản mà các em thường mắc phải.
Ngoài ra còn góp phần hình thành nhân cách người lao động cần cù, sáng
tạo.Với sáng kiến này còn ở mức độ đơn giản, để có thể áp dụng giảng dạy
cho đối tượng học sinh yếu và phát triển khả năng tư duy cho học sinh giỏi.
Đề tài này có thể áp dụng được trong công tác giảng dạy tôi mạnh dạn phân
tích và đưa ra những sai lầm và một số biện pháp khắc phục.
4.1. Nguyên nhân dẫn đến học sinh mắc phải sai lầm khi dạy học giải
các bài toán bốn phép tính.
- Do học sinh không nắm vững quy tắc thực hiện bốn phép tính về phân
số khả năng tư duy của các em còn thấp nên thường mắc phải sai lầm.
- Do kiến thức có liên quan bị hẫng hụt nên dẫn đến vận dụng vào phần
phân số không được.
- Do không hiểu bản chất của các bài toán ở dạng tiềm ẩn.
- Do khả năng tư duy, tưởng tượng của các em còn hạn chế nên gặp các
dạng toán tổng quát các em dễ bỡ ngỡ và không thể phát triển dạng toán về
dạng toán đơn giản đã học.
- Do bệnh chủ quan, thủ thuật tính toán kém dẫn đến các em lười làm

học.
- Kiểm tra đánh giá năng lực học toán của học sinh, phát hiện khả năng
học toán để bồi dưỡng đồng thời hỗ trợ học sinh yêu môn toán.
Để thực hiện được các biện pháp nói trên đạt hiệu quả cao người giáo
viên cần phải tự học tự bồi dưỡng trau dồi kiến thức toán học, không ngừng
học hỏi đồng nghiệp, học qua sách báo, qua các đợt chuyên đề về đổi mới
phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy toán nói riêng. Đặc biệt
là khả năng phát hiện, sửa chữa kịp thời những sai lầm của học sinh trong khi
giải quyết toán là rất cần thiết để không ngừng nâng cao năng lực giải toán
cho học sinh. Tôi đã thực nghiệm trên nhiều đối tượng học sinh và nhận thấy
21
rằng : Giáo viên nào có ý thức về công việc này thì những sai sót của học sinh
sẽ giảm đi đáng kể và nhiều học sinh còn nhanh chóng nhận ra lỗi sai của
mình sẽ giảm đáng kể và nghiêm túc, ngôn ngữ ngắn gọn, chính xác, lập luận
lôgic của giáo viên thì hiệu quả học tập môn toán nói chung và học "phân số -
các phép tính về phân số" nói riêng sẽ được nâng cao.
PHẦN III: KẾT QỦA ÁP DỤNG
NĂM HỌC 2010 - 2011
Sau một số năm trực tiếp dạy lớp 4 và năm học 2010 – 2011. Tôi áp
dụng vào lớp 4C là lớp 4D thực nghiệm dạy chú trọng đến việc phân tích kỹ
những sai lầm khi giải các bài toán bốn phép tính về phân số. Lớp 4D là lớp
đối chứng dạy theo chương trình quy định (chất lượng cả hai lớp trước khi
thực nghiệm là ngang nhau). Cuối chương: "Phân số - các phép tính về phân
số" thì tiến hành kiểm tra một tiết đối với cả hai lớp 4C và 4D.
Đề bài:
Câu 1 : (2đ) Tính:
1 7 2 6 8 5 5
; ; ; 1
2 5 7 7 9 9 5
+ + − −

Lớp 4Cthực nghiệm Lớp 4Dđối chứng
SL TL% SL TL%
Loại Giỏi: Điểm (9 - 10) 9 29,7 3 10,0
Loại Khá: Điểm (9 - 10) 16 53,8 11 36,7
Loại TB: Điểm (9 - 10) 5 16,5 15 50,0
Loại Yếu: Điểm (9 - 10) 0 0,0 1 3,3
Tổng 30 100 30 100
Nhìn vào bảng kết quả thực nghiệm của hai lớp 4C và 4D ta thấy sự
chênh lệch về chất lượng học sinh tương đối cao. Lớp 4C thực nghiệm đã
khắc phục được tình trạng học sinh yếu, học sinh trung bình giảm hẳn, học
sinh khá giỏi tăng lên. Điều đó chứng tỏ khi dạy chú trọng đến phân tích kỹ
những sai lầm cho học sinh thì các em nắm bài tốt hơn và không vấp phải
những sai lầm đơn giản.
Hình thức này không tốn nhiều công sức nhưng đem lại hiệu quả cao, góp
phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy học toán ở Tiểu học.
PHẦN IV: KẾT LUẬN
Trong công tác giảng dạy của người giáo viên thì vấn đề nâng cao chất
lượng dậy học nói chung và chất lượng của học sinh la vấn đề ai cũng mong
muốn. Song để làm được điều này đòi hỏi cá nhân giáo viên phải phấn đấu hết
mình cho việc dạy học. Trong công tác quản lý người cán bộ quản lí cần chú
trọng vào khâu soạn bài của giáo viên. Chỉ đạo việc soạn bài sao cho tổ chức
các hoạt động cho học sinh là chủ yếu, giáo viên chỉ đóng vai trò hướng dẫn,
trọng tài khoa học cho các em kiểm chứng kết quả của mình. Với vai trò như
23
thế nên trình độ là khâu then chết trong soạn bài nên lớp. Khi lập kế hoạch bài
học người giáo viên phải dự đoán trước tình huống có thể xảy ra trong quá
trình nên lớp. Phải xây dựng cho mình kế hoạch, hệ thống phương pháp thích
hợp và những phương pháp thay thế hiệu quả nhất để khắc phục những sai
lầm dù là rất nhỏ. Đặc biệt trong quá trình người dạy học người giáo viên phải
thực hiện thứ tự các bước trong một bài giải không được làm tắt một bước

toán bốn phép tính về phân số nói riêng và học toán nói chung.
Bài tập nghiên cứu khoa học này chỉ mới tổ chức thực nghiệm đối với
dạy các bài toán bốn phép tính về phân số ở học sinh trường Tiểu học thị trấn
Đồi Ngô,chắc chắn còn có những hạn chế nhất định, kết quả đạt được cũng ở
mức độ vĩ mô . Để có thể áp dụng được rộng rãi , bài tập nghiên cứu này cần
được thực nghiệm rộng rãi để kiểm chứng thật cụ thể kết quả đạt được, góp
phần nâng cao hiệu quả của việc dạy học phân số nói riêng và dạy học toán
nói chung.
Lời Cả ơn"
Sáng kiến kinh nghiệm "Dạy học giải các bài toán bốn phép tính về phân
số ở lớp 4" . Được tiến tại trường Tiểu học thị trấn Đồi Ngô. Trong thời gian
thực hiện để hoàn thành được sáng kiến này tôi đã nhận được sự giúp đỡ của
BGH và tập thể sử phạm nhà trường cũng tạo mọi điều kiện cho tôi thực
nghiệm, kiểm chứng thực tế và đã thu được kết quả cao.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể sư pham nhà
trường, tập thể lớp 4C, 4D Trường Tiểu học thị trấn Đồi Ngô Với những kiến
thức và quá trình giảng dạy , tìm hiểu thực tế tại đơn vị trường. Trong một
thời gian hẹp không tránh khỏi những thiếu sót.
Việc thực nghiệm chưa nhiều lần nên khả năng áp dụng vào thực tế cần
được kiểm chứng nhiều hơn nữa để sáng kiến được áp dụng một cách rộng rãi
và đạt chất lượng cao trong giảng dạy. Tôi rất mong được sự góp ý chân thành
của BGH, bạn bè đồng nghiệp đối với sáng kiến này, để sáng kiến hoàn chỉnh
hơn và được áp dụng trong giảng dạy ở các trường tiểu học đạt hiệu quả cao
hơn.
Tôi xin chân trọng cảm ơn !
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status