Phát triển năng lực nhận thức và tư duy của học sinh trường Trung học phổ thông chuyên với sự trợ giúp của công nghệ thông tin (chương Nguyên tử - Hóa học lớp 10 chương trình nâng cao - Pdf 26

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ HƢƠNG GIANG

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ TƢ DUY
CỦA HỌC SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ CHUYÊN
VỚI SỰ TRỢ GIÚP CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
(CHƢƠNG NGUYÊN TỬ - HÓA HỌC LỚP 10
CHƢƠNG TRÌNH NÂNG CAO)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM HÓA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN HÓA HỌC)
Mã số: 60 14 10 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Kim Thành BGĐT
BLL
CNTT
DH
ĐC
GA
GD & ĐT
GV
HS
PHT
PP
SGK
TCHH
TCVL
THCS
THPT
TN
TVTLĐT
VD

Bài giảng điện tử
Bài lên lớp
Công nghệ thông tin
Dạy học
Đối chứng
Giáo án
Giáo dục & Đào tạo
Giáo viên

Bảng 3.5. Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 1 80
Bảng 3.6. Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra lần 1 80
Bảng 3.7. Kết quả bài kiểm tra lần 2 81
Bảng 3.8. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 2 81
Bảng 3.9. Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 2 82
Bảng 3.10. Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra lần 2 83
Bảng 3.11. Kết quả bài kiểm tra lần 3 83
Bảng 3.12. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 3 83
Bảng 3.13. Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 3 84
Bảng 3.14. Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra lần 3 85
5

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ

Hình 2.1. Biểu tượng phần mềm LectureMaker 32
Hình 2.2. Giao diện LectureMaker 33
Hình 2.3. Menu LectureMaker 33
Hình 2.4. Menu Home 34
Hình 2.5. Menu Insert 34
Hình 2.6. Giao diện thu âm bài giảng 35
Hình 2.7. Giao diện chèn các công thức toán có sẵn 35
Hình 2.8. Thuộc tính của câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn 36
Hình 2.9. Thuộc tính của câu trắc nghiệm ngắn 37
Hình 2.10. Menu Control 37
Hình 2.11. Menu Design 37
Hình 2.12. Menu View 38
Hình 2.13. Menu Format 38
Hình 2.14. Công cụ vẽ đồ thị 39
Hình 2.15: Hình ảnh BGĐT: Thành phần nguyên tử 41
Hình 2.16: Hình ảnh BGĐT: Đồng vị. Nguyên tử khối và nguyên tử khối

Phát triển năng lực nhận thức và tư duy thực chất là hình thành và phát triển năng
lực lĩnh hội và vận dụng tri thức một cách linh hoạt, sáng tạo. 7
1.2.4. Vai trò của dạy học hóa học trong việc phát triển năng lực nhận thức,
tư duy .9
1.2.5. Đánh giá mức độ nhận thức và tư duy của học sinh 9
1.3. Đổi mới phưong pháp dạy học ở trường trung học phổ thông 10
1.3.1. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông 10
1.3.2. Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ
thông 11
1.4. Ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học 12
1.4.1. Công nghệ thông tin. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 12
1.4.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hóa học 13
1.4.3. Vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học hóa học hiện nay 14
1.4.4. Những điểm cần lưu ý khi sử dụng CNTT trong dạy học 16
1.4.5. Những ứng dụng cụ thể của công nghệ thông tin trong dạy học hóa học 17

7

1.5. Thực trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hóa học
hiện nay 20
1.5.1. Mục đích điều tra 20
1.5.2. Phương pháp và đối tượng điều tra 20
1.5.3. Cách tiến hành 20
1.5.4. Kết quả 20
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 27
Chƣơng 2: PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ TƢ DUY CHO
HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN VỚI SỰ TRỢ GIÚP CỦA
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC CHƢƠNG NGUYÊN TỬ -
HÓA HỌC 10 28
2.1. Vị trí của chương Nguyên tử trong chương trình THPT 28

3.5.2. Kết quả định lượng 78
3.5.3. Nhận xét và đánh giá kết quả thực nghiệm 85
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 87
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88
1. Kết luận. 88
2. Khuyến nghị 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 93

9

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta hiện nay, nhân

dục”
Thật vậy, ứng dụng CNTT cho ta một công cụ vô cùng quý giá làm hóa học
trở nên gần gũi hơn, thực tế, cụ thể hơn, sinh động hơn, phong phú hơn.
Với đối tượng HS trường THPT chuyên, nơi mà HS có chất lượng khá cao so
với mặt bằng chung về cả kiến thức môn học, kỹ năng thực hành, sự nhanh nhạy
trong tư duy, tưởng tượng và sự am hiểu không nhỏ về CNTT, thì vấn đề đặt ra là
làm thế nào để không những dạy tốt mà còn tận dụng triệt để được tiến bộ của
CNTT trong dạy học và vốn kiến thức về CNTT của HS trường THPT chuyên
nhằm phát triển năng lực nhận thức và tư duy của học sinh?
Vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Phát triển năng lực nhận thức và tư duy của
HS trường THPT chuyên với sự trợ giúp của CNTT (Chương nguyên tử - hóa
học lớp 10- chương trình nâng cao)” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu sự phát triển năng lực nhận thức và tư duy của HS trường
THPT chuyên.
- Nghiên cứu sự trợ giúp của CNTT trong giảng dạy hóa học nhằm phát triển
năng lực nhận thức và tư duy cho HS trường THPT chuyên.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận phát triển năng lực nhận thức và tư duy của HS
THPT chuyên.
- Nghiên cứu nội dung chương trình hoá học THPT đặc biệt chương nguyên tử.
- Xây dựng thư viện tư liệu điện tử phục vụ việc dạy và học hoá học ở trường
phổ thông (bao gồm hệ thống các học liệu như hình ảnh, thí nghiệm mô phỏng,
video, tài liệu tham khảo dưới dạng file văn bản, trang web và các BGĐT có tích
hợp CNTT).
- Nghiên cứu thực tiễn:
+ Điều tra thực trạng về năng lực nhận thức và tư duy của HS THPT
chuyên thông qua việc ứng dụng CNTT
+ Thực nghiệm sư phạm


Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
12

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ TƢ DUY CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG VỚI SỰ TRỢ GIÚP CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

1.1. Lịch sử nghiên cứu của vấn đề
Ứng dụng CNTT trong dạy học là một mảng nghiên cứu nhận được nhiều sự
quan tâm của các GV, các nhà giáo dục học, thậm chí các học giả thuộc các chuyên
ngành, lĩnh vực khác. Có nhiều sáng kiến kinh nghiệm, bài báo, nghiên cứu khoa
học, chuyên đề bồi dưỡng GV, hướng tới ứng dụng CNTT và đã nêu được các luận
điểm chung nhất, bao quát nhất về ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và bộ
môn Hóa học nói riêng. VD:
- “Vai trò của CNTT và truyền thông trong dạy học Hóa học” - Luận văn
Thạc sỹ Giáo dục học - Giang Thành Trung - ĐHSP Hà Nội 2007
- “Ứng dụng CNTT trong dạy học Hóa học ở trường THCS” - ThS. Võ Tiến
Dũng, CN. Nguyễn Phong - trường CĐSP Quảng Trị, 2008
- “Effective use of ICT in Science Education” - Peter Demkanin, Bob Kibble,
Jari Lavonen, Josefa Guitart Mas, Jozefina Turlo.
- “ITC Integration in Chemistry” - Prof. Gilbert Oke Onwu, Dr. Salomon
Tchameni Ngamo - African Virtual University.
- “Tích cực hóa hoạt động nhận thức môn hóa học cho HS với sự hỗ trợ của
CNTT (phần phi kim – hóa học 10)”- Luận văn thạc sĩ khoa học Giáo dục – Nguyễn
Thị Ánh Đăng, ĐHSP Hà Nội, 2011.
Các đề tài đã đề cập đến đối tượng THCS và THPT nói chung, tuy nhiên
chưa có đề tài nào đề cập đến đối tượng HS THPT chuyên. Do đó, hướng nghiên
cứu mà chúng tôi chọn là một hướng nghiên cứu tương đối mới mẻ và thực tế.
1.2. Nhận thức và tƣ duy

trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở
những biểu tượng đã có.
Quy luật nhận thức là: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và trở về
thực tiễn.
Như vậy, trong khoa học giáo dục, ta có thể hiểu nhận thức chính là quá trình
học tập, thu nhận kiến thức của con người trong cuộc sống, và kết quả của quá trình
tiếp nhận đó. Và một trong những con đường quan trọng nhất để bồi dưỡng nhận
14

thức đó chính là thông qua giáo dục. Qua giáo dục, con người hình thành và phát
triển năng lực nhận thức một cách khoa học và đúng đắn.
1.2.1.2. Năng lực nhận thức
Năng lực nhận thức được xác định là năng lực trí tuệ của con người, được
biểu hiện dưới nhiều góc độ khác nhau. Nhiều nhà tâm lý cho rằng, năng lực nhận
thức được xác định như năng lực trí tuệ và được đo bằng chỉ số IQ. Tuy nhiên, năng
lực nhận thức được biểu hiện ở nhiều mặt, cụ thể là:
- Mặt nhận thức: Như nhanh biết, nhanh hiểu, nhanh nhẹn, biết suy xét và
tìm ra các quy luật trong các hiện tượng một các nhanh chóng.
-Về khả năng tưởng tượng: óc tưởng tượng phong phú, hình dung ra được
những hình ảnh và nội dung theo đúng điều người khác mô tả.
- Qua hành động: Sự nhanh trí, tháo vát, linh hoạt, sáng tạo.
- Qua phẩm chất: Óc tò mò, lòng say mê, hứng thú làm việc.
Do đó để đánh giá được năng lực nhận thức không những dựa vào chỉ số IQ
mà còn cần kết hợp các chỉ số xác định năng lực khác của con người, như: EQ (chỉ
số xúc cảm), CQ (chỉ số sáng tạo),
1.2.2. Tư duy
1.2.2.1. Khái niệm tư duy
Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những
mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách
quan mà trước đó ta chưa biết.

1.2.3. Phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh trung học phổ thông
Phát triển năng lực nhận thức và tư duy thực chất là hình thành và phát triển
năng lực lĩnh hội và vận dụng tri thức một cách linh hoạt, sáng tạo.
Việc phát triển nhận thức và tư duy cho HS trước hết là giúp cho HS lĩnh hội
và nắm vững kiến thức, biết vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập và thực hành
qua đó mà kiến thức HS thu nhận được trở nên vững chắc và sinh động hơn.
Tư duy càng phát triển thì càng có nhiều khả năng lĩnh hội tri thức một cách
nhanh chóng, sâu sắc và khả năng vận dụng tri thức càng linh hoạt, sáng tạo. Như
vậy sự phát triển tư duy của HS được diễn ra trong quá trình tiếp thu và vận dụng tri
thức. Khi tư duy phát triển sẽ tạo ra một kĩ năng và thói quen làm việc có suy nghĩ,
có phương pháp chuẩn bị lâu dài cho HS hoạt động sáng tạo sau này.
Hình thành và phát triển năng lực nhận thức được thực hiện thường xuyên,
liên tục, có chiến lược, có hệ thống.
16

Do đó trong hoạt động giảng dạy, người GV cần phải tập luyện cho HS và
chính bản thân HS phải tự rèn luyện qua sự hướng dẫn của GV khả năng tư duy
sáng tạo qua các khâu của quá trình dạy học. Từ hoạt động dạy học trên lớp thông
qua hệ thống câu hỏi, bài tập mà GV điều khiển hoạt động nhận thức của HS để
giải quyết các vấn đề học tập được đưa ra. HS tham gia vào vấn đề này một cách
tích cực sẽ nắm được cả kiến thức và phương pháp nhận thức đồng thời các thao tác
tư duy cũng được rèn luyện.
Hình thành và phát triển năng lực nhận thức và tư duy được rèn luyện với
mức độ từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, đầy đủ trên mọi khía cạnh:
+ Rèn luyện năng lực quan sát
+ Phát triển ngôn ngữ
+ Phát triển trí nhớ và tưởng tượng
+ Rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo, phương pháp nhận thức và tư duy.
+ Rèn luyện phẩm chất, nhân cách
Để phát triển năng lực nhận thức cho HS cần đảm bảo các yếu tố sau:

thực nghiệm; liên hệ giữa lý thuyết và thực tế, từ trực quan sinh động tới tư duy trừu
tượng và trở về thực tiễn; có sự cập nhật các nội dung mới trong cuộc sống hiện đại
ngày nay. Các kiến thức được trình bày theo các chương, sắp xếp một cách khoa
học, logic, liên hệ giữa các phần, các nội dung kiến thức một cách tương đối rõ
ràng.
Học hóa học, HS sẽ tiếp thu được những kiến thức, kỹ năng ; thấy được mối
quan hệ liên ngành giữa các môn khoa học; các kiến thức được tiếp thu theo một
tiến trình khoa học và logic: từ quan sát, tìm kiếm thông tin, phân tích, tổng hợp, xử
lý thông tin, từ đó hình thành kiến thức, kỹ năng mới. Các quá trình đó giúp HS
hình thành và phát triển năng lực nhận thức và tư duy.
1.2.5. Đánh giá mức độ nhận thức và tư duy của học sinh
Theo thang phân loại của Bloom, để đánh giá trình độ nhận thức của HS có
thể chia làm 6 mức độ: - Nhận biết - Thông hiểu - Ứng dụng- Phân tích - Tổng
hợp - Đánh giá.
Nhận biết: Mức độ này cho biết những kiến thức mà HS nắm được. Nó chủ
yếu là sự nhớ lại những tư liệu đã học được bằng cách nhớ lại sự kiện, khái niệm cơ
bản và các câu trả lời.
Thông hiểu: Chứng minh sự hiểu biết về các sự kiện và ý tưởng bằng cách
tổ chức, so sánh, diễn giải, phiên dịch, nêu VD cho ý tưởng chính.
18

Ứng dụng: Sử dụng kiến thức mới. Giải quyết vấn đề với các tình huống
mới bằng cách áp dụng kiến thức thu được, sự kiện, kỹ thuật và các quy tắc theo
một cách khác.
Phân tích: Xem xét và phân tích thông tin thành các bộ phận bằng cách xác
định động cơ hoặc nguyên nhân. Suy luận và tìm bằng chứng cho những khái quát.
Tổng hợp: Kết hợp các thông tin với nhau theo những cách khác nhau bằng
cách kết hợp các yếu tố trong một mô hình mới hoặc đề xuất các giải pháp thay thế.
Đánh giá: Trình bày và bảo vệ quan điểm bằng cách đánh giá thông tin, độ
hiệu lực của các ý tưởng hoặc chất lượng của sản phẩm dựa trên các tiêu chuẩn

Người thầy truyền tải nội dung bài học dễ dàng hơn, sinh động, phong phú
hơn, dễ dàng thực hiện các phương pháp dạy học hiện đại, tổ chức các hoạt động
cho người học thu nhận kiến thức một cách tích cực chủ động và sáng tạo hơn. Thật
vậy, ứng dụng CNTT là một trong những yếu tố quan trọng giúp người GV hoàn
thành định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT.
1.3.2. Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ
thông
Để đổi mới phương pháp dạy học theo đúng định hướng mà Bộ GD & ĐT
quy định, chúng ta phải hiểu rõ bản chất của đổi mới phương pháp dạy học, của dạy
học tích cực. Đổi mới không phải là xóa bỏ hoàn toàn cái cũ, dạy học tích cực
không phải là hạ thấp vai trò của người thầy. Cốt lõi của đổi mới và dạy học tích
cực là chống lại thói quen học tập thụ động của HS, đưa tính tương tác một cách tối
đa vào bài giảng, tăng cường tự học, tự đánh giá đối với người học. Đổi mới
phương pháp dạy học cũng có nghĩa là các thành tố khác của hoạt động dạy học
cũng phải thay đổi cho phù hợp với nó: nội dung, hình thức tổ chức hoạt động dạy
học, phương tiện dạy học,hình thức kiểm tra đánh giá. Vậy phương hướng chung để
đổi mới nâng cao chất lượng dạy học trong thời đại mới đó là:
- Chuyển từ mô hình dạy học một chiều sang dạy học tương tác hai chiều.
Chuyển từ xu hướng dạy học “GV làm trung tâm” sang “HS làm trung tâm”, “tích
cực hóa người học”.
- Sử dụng các phương pháp, các kỹ thuật dạy học tích cực, tăng cường tổ chức
các hoạt động học tập, tăng cường sử dụng CNTT và các phương tiện hiện đại một
cách tối ưu nhất để hỗ trợ hoạt động dạy học.
- Dạy HS cách tự học, cách tìm kiếm thông tin sử dụng các công cụ hỗ trợ
hiện đại giúp tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng, chính xác, cập nhật.
20

1.4. Ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học
1.4.1. Công nghệ thông tin. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
CNTT - tiếng Anh - Infomation Technology (IT) là ngành ứng dụng công

tâm lý ngại thay đổi, hay do thiếu sự tập huấn, hướng dẫn cụ thể của các cấp quản lý
mà GV chưa thực sự sử dụng CNTT vào giảng dạy một cách hiệu quả.
1.4.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hóa học
Môn Hóa học là một trong những môn học quan trọng trong chương trình
phổ thông; là một môn học nằm trong danh mục các môn thi tốt nghiệp THPT nhiều
năm liền; là môn thi nằm trong hai trên bốn khối thi chính vào các trường ĐH, CĐ
trên toàn quốc; và hơn nữa, Hóa học có vai trò to lớn đối với đời sống con người,
kiến thức Hóa học giúp chúng ta giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến cuộc sống.
Tuy nhiên không phải HS nào cũng thích môn Hóa và nhận ra tầm quan
trọng của bộ môn này. Không có niềm đam mê với môn học đồng nghĩa HS học
môn học này với thái độ thụ động, thiếu tích cực. Nếu không khơi dậy được sự thích
thú, đam mê với môn học từ phía người học, nếu không đem lại cho người học một
động cơ học tập tích cực, mạnh mẽ, thì HS không thể trở thành những người học
chủ động, năng động và sáng tạo.
Hóa học là một môn của lý thuyết và thực nghiệm, không phải là môn học
của những kí hiệu, con số, phương trình khô khan, lại càng không phải là môn học
của những thứ trừu tượng. Hóa học là môn học của những khái niệm, vật chất cụ
thể, những chất có thể không nhìn thấy bằng mắt thường như electron, nơtron,
proton, nguyên tử, phân tử, hay những chất có thể chỉ tồn tại trong một phần trăm,
phần triệu giây ngắn ngủi như các nguyên tố phóng xạ, và tất nhiên bao gồm cả
những chất vô cùng gần gũi đối với cuộc sống của mỗi con người như muối ăn,
đường cát, như xăng, dầu, như các loại len, sợi, các vật liệu xây nhà Hóa học đi
cùng với sự phát triển của nhân loại, Hóa học gắn liền và giải quyết 3 nhu cầu căn
bản và quan trọng nhất của loài người, đó là ăn, mặc, ở.
Thế nhưng khi truyền tải những nội dung kiến thức hóa học đó nếu chỉ dùng
các phương tiện dạy học truyền thống (bảng, phấn, tranh vẽ, mô hình, dụng cụ thí
nghiệm) thì gặp không ít khó khăn. Khó khăn đầu tiên là thời gian: thời gian viết
bảng đã chiếm khoảng thời lượng khá lớn trong một tiết học. Thêm nữa, tranh ảnh,
mô hình và các tiết bị thí nghiệm ở trường phổ thông còn nghèo nàn và hạn chế,
việc di chuyển và sử dụng lại cồng kềnh khó khăn. Sử dụng thí nghiệm thật quả là

- Điều chỉnh lượng kiến thức phù hợp giữa các nhóm kiến thức: kiến thức HS
tiếp nhận trên lớp - kiến thức HS tự học - kiến thức nâng cao cho HS khá giỏi.
Đổi mới, đa dạng hóa nội dung dạy học giúp HS:
- Tiếp cận kiến thức một cách đầy đủ, trực quan, sinh động.
23

- Được tiếp thu nhiều kiến thức mới, những kiến thức gần gũi với thực tế, được
cập nhật, mang hơi thở thời đại.
1.4.3.2. Công nghệ thông tin giúp đổi mới phương pháp dạy học
- Sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại: dạy học tình huống, dạy học nêu
vấn đề, dạy học dự án, dạy học theo nhóm,
- Tăng tính tương tác cho bài giảng: Sử dụng các phần mềm thiết kế bài giảng
mang tính tương tác cao, có tích hợp các câu hỏi trắc nghiệm; sử dụng các phần
mềm mô phỏng thí nghiệm cho HS thực hiện; thiết kế trò chơi;
- Tăng cường tự học cho HS: hướng dẫn HS các kỹ năng tự học, tìm tài liệu và
kỹ năng nghiên cứu khoa học. Máy tính còn cho phép HS học theo những bước
riêng của mình, do đó có thể tiết kiệm được nhiều thời gian dạy học trên lớp, tạo
nên khả năng cá thể hóa trong học tập của HS
- Tạo điều kiện để HS được thể hiện sự hiểu biết của mình và được vận dụng
nhiều hơn những kiến thức thu được để giải quyết một số vấn đề có liên quan tới
hóa học trong đời sống và sản xuất.
- Dạy học trực tuyến: dạy học qua các loại hình: trên trang web, thông qua
mạng xã hội, qua các phần mềm giao tiếp,…giúp người học tiết kiệm thời gian, tính
tương tác cao, dễ dàng trong tích hợp đa phương tiện, trong tìm kiếm tài liệu, chia
sẻ tài liệu,
Dạy học, xét về hình thức tiến hành là một quá trình truyền thông hai chiều.
Vì vậy, việc ứng dụng CNTT vào dạy học nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động
cho người học, đổi mới phương pháp dạy học thay thế cách truyền thụ một chiều là
xu hướng tất yếu của thời đại, và được hỗ trợ đắc lực bởi CNTT.
1.4.3.3. Công nghệ thông tin giúp đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá

Máy tính đóng vai trò vô cùng lớn trong việc ứng dụng CNTT, song máy tính
chỉ là một công cụ hỗ trợ hoạt động dạy học. Dù máy tính có đa năng và ưu việt thế
nào đi chăng nữa thì vai trò người thầy không thể bị thay thế. Chúng ta cần phải tìm
cách phát huy hiệu quả hoạt động của người GV trong quá trình dạy học. Trong xu
thế thời đại mới, hoạt động dạy học có nhiều thay đổi, nhiều hình thức dạy học mới
ra đời như dạy học từ xa, dạy học trực tuyến, các hình thức dạy học đó coi máy tính
và mạng internet là công cụ chính, song hoạt động chỉ được gọi là dạy học nếu nó
có tính tương tác. Như vậy, dù trong thời đại nào, ta cũng phải phát huy vai trò của
người thầy phù hợp với xu thế, dù nó không hoàn toàn giống với dạy học truyền
thống.
25

Một bài dạy ứng dụng CNTT thành công nếu nó mang tính sư phạm tương tác.
Lạm dụng máy tính và CNTT để trình diễn chẳng khác nào chuyển từ hình thức
đọc - chép sang nhìn - chép.
1.4.5. Những ứng dụng cụ thể của công nghệ thông tin trong dạy học hóa học
1.4.5.1. Ứng dụng công nghệ thông tin trong tìm kiếm tài liệu
Tài liệu được tìm kiếm chủ yếu là tài liệu “dạng số” (được mã hóa để lưu trữ
trên máy tính), VD: sách điện tử, phần mềm, trang web,…Với sự bùng nổ của mạng
“internet” toàn cầu với các công cụ tìm kiếm như: “google.com.vn”;
“yahoo.com.vn”, người dùng có thể gõ từ khóa quan tâm vào các công cụ tìm kiếm
này, số lượng kết quả sẽ cho ra có thể từ vài trăm nghìn đến vài trăm triệu, tùy vào
mức độ phổ biến của từ khóa, dưới rất nhiều hình thức đa dạng: hình ảnh, trang
web, đa phương tiện (âm thanh, đoạn phim, flash…), các “file” văn bản (document,
pdf,…),…Tuy nhiên, số lượng thông tin càng nhiều đòi hỏi người dùng phải có kĩ
năng chọn lọc và kiểm chứng thông tin, và tìm kiếm thông tin ở những nguồn đáng
tin cậy, đặc biệt là những thông tin mang tính khoa học cao.
1.4.5.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế bài giảng điện tử và giáo án
điện tử
BGĐT là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt

 Hiệu ứng hình ảnh, màu sắc, âm thanh phong phú, làm giờ HS động, hấp
dẫn.
 Có thể chèn ảnh, sơ đồ, bảng số liệu thống kê, video, clip, trên phông nền
có màu sắc hài hòa, giúp GV trong giải thích, mở rộng kiến thức.
 Có thể kết nối linh hoạt giữa từng nội dung dạy học, kết nối với trang web,
kết nối tới một file bất kì trong tệp dữ liệu, kết nối phần mềm dạy học khác,
+ Nhược điểm:
 Là một phần mềm trình chiếu chuyên nghiệp, có nghĩa là PowerPoint tích
hợp rất đầy đủ, rất rộng, rất đa nhiệm với tất cả các chức năng, hiệu ứng đặc biệt.
Tuy nhiên đó lại là nhược điểm, bởi như vậy PowerPoint sẽ phù hợp hơn với một
người thuyết trình chuyên nghiệp, chứ không phải một GV coi việc thiết kế bài
giảng phải là việc đơn giản và nhanh chóng.
 Các thao tác nhúng đa phương tiện trực tiếp vào PowerPoint (video, audio,
flash, ) không quá đơn giản. Các file, link khi tích hợp luôn phải đi kèm với file
PowerPoint mà không thể kết hợp với nhau. Flie xuất ra luôn ở một định dạng,
không thể được lựa chọn; PowerPoint cũng không có chức năng ghi âm cho bài

Trích đoạn Nội dung thực nghiệm Kết quả định tính
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status