Tên đề tài:
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VĂN BẢN KỊCH TRONG
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS THEO ĐẶC TRƯNG
PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT
I- Phần mở đầu
I.1. Lí do chọn đề tài
I.1.1. Cơ sở lí luận
Luật Giáo dục năm 2005 (Điều 5) đã quy định: "Phương pháp giáo dục phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học ; bồi dưỡng cho người học năng
lực tự học , khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên".
Với mục tiêu giáo dục phổ thông là "giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và
sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và
trách nhiệm công dân ; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động,
tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc" . Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo
Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD ĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
cũng đã nêu: "Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh ; phù hợp
với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học ; bồi dưỡng
cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác ; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn ; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập của học
sinh".
Đối với môn Ngữ văn THCS, mục tiêu của môn học này là trang bị cho học sinh mặt
bằng tri thức và năng lực cảm thụ, phân tích tác phẩm văn chương, nhằm bồi đắp, nâng cao
nhu cầu và khả năng hưởng thụ thẩm mĩ cho học sinh cấp học này ; giúp các em "tiếp xúc với
1
những giá trị tinh thần phong phú và những đặc sắc về văn hoá, cảnh vật, cuộc sống, con người
Việt Nam và thế giới thể hiện trong các tác phẩm văn học và trong các văn bản được học", "có
kĩ năng nghe, đọc một cách thận trọng, bước đầu biết cách phân tích, nhận xét tư tưởng, tình
cảm và một số giá trị nghệ thuật của các văn bản được học, để từ đó hình thành ý thức và kinh
nghiệm ứng xử thích hợp đối với những vấn đề được nêu ra trong các văn bản đó".
bản sân khấu chèo với đọc - hiểu văn bản kịch bản sân khấu kịch nói
Chính vì vậy mà tiết đọc - hiểu văn bản kịch nhiều giáo viên còn dạy với phương pháp
chung chung giống như phương pháp dạy các văn bản tự sự khác.
I.1.2.2. Về phía học sinh
+ Chưa thực sự yêu thích văn bản kịch.
+ ít hoặc chưa từng được trực tiếp xem biểu diễn kịch trên sân khấu.
+ Chưa có kĩ năng phân tích một văn bản kịch với những đặc trưng riêng về PTBĐ
I.2. Mục đích nghiên cứu
Trong việc giảng dạy phân môn văn hiện nay không ít giáo viên loay hoay, lúng túng
trước những tác phẩm nghệ thuật và tài liệu hướng dẫn (hình như hướng dẫn một đường mà tác
phẩm lại gợi cho giáo viên một ấn tượng khác). Không ít những giờ dạy học tác phẩm văn
chương đã diễn ra khá bài bản, giáo viên đã đi hết một quy trình (theo trình tự các đề mục) mà
ta chưa yên tâm chút nào, hình như có một cái gì đó sâu thẳm lớn lao ở tác phẩm do mở
nhầm cửa người dạy, người học đã chưa đi được đến cái đích cuối cùng.
Nguyên nhân chính là chưa xác định, chưa tìm hiểu kĩ đặc trưng thể loại cũng như
PTBĐ của tác phẩm với tính chất nội dung của nó là không "chính danh" và đã không "chính
danh" thì việc có phân tích sắc sảo đến đâu cũng chỉ là võ đoán. Chính vì vậy mà tôi chọn đề
tài này với mục đích cùng tìm hiểu về đặc trưng cũng như PTBĐ của văn bản kịch để từ đó
định hướng phương pháp giảng dạy văn bản kịch nhằm cá thể hoá việc học, đưa HS trở thành
nhân tố cá nhân tích cực, chủ động, tự giác tham gia vào việc tìm hiểu những văn bản kịch,
khám phá chân lí và giá trị nghệ thuật của tác phẩm.
3
I.3. Thời gian, địa điểm
I.3.1. Thời gian
Thời gian để thực hiện đề tài này là từ năm học 2003 - 2004 đến năm học 2006 - 2007,
trên cơ sở của từng tiết Văn học đối với những văn bản kịch của các khối lớp 7, 8, 9.
I.3.2.Địa điểm
Thực hiện tại trường Phổ thông Dân tộc Nội trú hoặc có thể mở rộng ra các tường
5
II. phần nội dung
II.1. Chương 1 : tổng quan
Một số lí luận về: "Phương pháp dạy học văn bản kịch trong chương trình Ngữ văn
THCS theo đặc trưng phương thức biểu đạt".
II.1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Muốn hiểu tác phẩm văn chương ta phải xác định được thể loại và PTBĐ của tác phẩm.
Bởi vì tác phẩm chỉ tồn tại trong thể loại cùng với đặc trưng về PTBĐ của nó. Đây là một trong
những tri thức dạy - học văn học. Tri thức đó biểu hiện ở sự nắm vững các khái niệm chung về
thể loại: tự sự, trữ tình, kịch cùng với những PTBĐ cơ bản của tác phẩm. Trước đây để giúp
cho giáo viên có thêm kiến thức về tiềm năng nghề nghiệp cũng như phương pháp dạy học
riêng với từng thể loại văn học đã có cuốn "Dạy học văn bản Ngữ văn trung học cơ sở theo
đặc trưng thể loại". Tuy nhiên về mặt hình thức các văn bản trong SGK Ngữ văn THCS rất đa
dạng đòi hỏi cách đọc - hiểu chúng không chỉ theo đặc điểm thể loại văn học mà có thể và cần
đọc - hiểu chúng theo dấu hiệu đặc trưng của các phương thức biểu đạt.
I.1.2. Cơ sở lí luận
- Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của giáo viên trong việc chỉ đạo, tổ chức
các hoạt động học tập nhằm giúp học sinh chủ động đạt các mục tiêu dạy học.
- Văn bản là chuỗi lời nói miệng hay bài viết có chủ đề thống nhất, có liên kết, mạch
lạc, vận dụng phương thức biểu đạt phù hợp để thực hiện mục đích giao tiếp.
- Thuật ngữ kịch được dùng theo hai cấp độ:
+ ở cấp độ loại hình: kịch là một trong ba phương thức cơ bản của văn học (kịch, tự sự,
trữ tình). Kịch vừa thuộc địa hạt sân khấu lại vừa thuộc địa hạt văn học. Kịch là một loại hình
nghệ thuật tổng hợp (văn học, hội hoạ, kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, nhảy múa ).
6
nói đến kịch là phải nói đến sự biểu diễn sân khấu của các diễn viên bằng hành động,
cử chỉ, điệu bộ, lời nói
Sau khi nghiên cứu phần lí luận chung và điều tra thực trạng, tôi đã tiến hành nội dung
cụ thể trong đề tài theo các bước sau:
- Nghiên cứu kĩ chương trình, nội dung các văn bản kịch có trong chương trình sách
giáo khoa Ngữ văn THCS ở các lớp 7, 8, 9.
- Nghiên cứu kĩ sách giáo viên để nắm được mục tiêu của từng bài dạy (kiến thức, kĩ
năng, thái độ).
- Nghiên cứu các tài liệu tham khảo để đề ra phương pháp cũng như các biện pháp tổ
chức cho học sinh trong các tiết dạy học văn bản kịch theo đặc trương phương thức biểu đạt:
+ Xác định đúng phương thức biểu đạt và thể loại văn học của kịch.
+ Hiểu đúng khái niệm phương thức biểu đạt tự sự và thể loại văn học tự sự.
+ Đưa ra các hình thức, biện pháp, phương pháp tổ chức hoạt động trước tiết học, trong
tiết học và sau tiết học một cách hiệu quả nhất góp phần nâng coa chất lượng giờ học.
Kết luận chương 2:
Nhiệm vụ dạy học của phân môn Văn trong thay sách Ngữ văn là dạy học đọc - hiểu
văn bản. Sự xuất hiện phong phú đa dạng của hệ thống các kiểu loại văn bản trong SGK Ngữ
văn đòi hỏi sự đa dạng, phong phú của các hình thức dạy học. Trong đổi mới phương pháp dạy
học Ngữ văn, phân môn Văn chịu sự quy định của nhiều cấp độ phương pháp bao gồm: những
quy định của nhiệm vụ lí luận dạy học hiện đại, nhiệm vụ về thực tiễn, những quy định của
phương pháp dạy học bộ môn, những quy định của phương pháp dạy học phân môn, và cuối
cùng là những yêu cầu về phương pháp dạy học các kiểu bài (trong đó có các kiểu văn bản
tương ứng với phương thức biểu đạt).
8
II.3. chương 3 : phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu
II.3.1. Phương pháp nghiên cứu
(1) - Tìm hiểu bằng cách đọc, nghiên cứu tài liệu về phương pháp giảng dạy tác phẩm
văn học theo phương thức biểu đạt. Các bài viết có tính chất khoa học và đã thành giáo trình
giảng dạy.
(2) - Tham khảo ý kiến cũng như phương pháp giảng dạy các tác phẩm văn bản kịch
trường là 26 người (trong đó có 15 giáo viên đứng lớp, 2 cán bộ quản lí, 9 nhân viên phục vụ).
Nhìn chung tuổi đời, tuổi nghề của giáo viên còn rất trẻ nên có tinh thần sôi nổi, nhiệt tình,
hăng say với công việc.
- Về cơ sở vật chất và trang thiết bị:
+ Về cơ sở vật chất hiện nay còn thiếu thốn. Toàn trường có 08 phòng học, nhà làm việc
của Ban giám hiệu, văn phòng, kho, 01 hội trường nhưng hẹp, kí túc xá chật chội (03 em/ 1
giường), nhà bếp hẹp, chưa có nhà ăn, chưa có phòng y tế cũng như hệ thống nhà chức năng.
+ Đối với trang thiết bị, đồ dùng dạy học của trường đã được Sở GD và ĐT, phòng GD
và ĐT huyện trang bị tương đối đầy đủ nhưng chất lượng chưa thật cao, chưa có phòng học
chức năng, chưa có thư viện.
II.3.2.2. Thực trạng
- Thực trạng của việc dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS hiện nay do nhiều tác động
khách quan, phương pháp, chất lượng giảng dạy của giáo viên đã có sự phân hoá.
- Việc dạy học môn Ngữ văn, đặc biệt là phương pháp dạy học các văn bản kịch của
phân môn Văn trong nhà trường đối với một số giáo viên còn lúng túng, chưa áp dụng đúng
đặc trưng phương pháp của bộ môn, việc dạy các văn bản kịch còn chung chung giống như các
văn bản tự sự khác.
- Trình độ nhận thức của học sinh đối với môn Ngữ văn là trung bình và yếu bộ môn.
Đa số các em diễn đạt bằng vốn Tiếng Việt còn hạn chế, chưa có kĩ năng phân tích một văn
10
bản kịch với những đặc trưng riêng về phương thức biểu đạt. Các em học sinh ít hoặc chưa
từng trực tiếp được xem biểu diễn kịch trên sân khấu.
II.3.2.3. Đánh giá thực trạng
Theo tôi nguyên nhân của thực trạng trên là do:
- Một số giáo viên chưa thực sự nghiên cứu kĩ nội dung, chương trình sách giáo khoa,
chưa xác định đúng phương pháp bộ môn (chưa nắm được các đặc trưng cơ bản của kịch cũng
như việc đề ra phương pháp dạy học văn bản kịch cho phù hợp với phương thức biểu đạt).
- Chất lượng tuyến sinh đầu vào còn thấp (có những HS điểm thi đầu vào cả hai môn
trình sân khấu trên ti vi nhà trường vào mỗi tối thứ bẩy.
Biện pháp cụ thể đối việc dạy học văn bản kịch theo đặc trưng phương thức biểu đạt:
II.3.2.4.1. Những điều giáo viên cần nắm vững khi dạy văn bản kịch:
*) Những văn bản kịch có trong chương trình Ngữ văn THCS
- Lớp 7: Chèo "Quan Âm Thị Kính" (trích đoạn - 2 tiết).
- Lớp 8: Kịch cổ điển Pháp "Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục" (trích đoạn - 2 tiết).
- Lớp 9: Kịch Việt Nam "Bắc Sơn" và "Tôi và chúng ta" (trích đoạn - 4 tiết).
*) Xác định phương thức biểu đạt và thể loại văn học của văn bản kịch
- Nếu hiểu PTBĐ là cách thức tạo lập và tồn tại của kiểu văn bản thì hoạt động giao tiếp
bằng văn bản (nói hoặc viết) của con người được khái quát trong 6 kiểu văn bản tương ứng với
6 PTBĐ là Tự sự, Biểu cảm, Nghị luận, Miêu tả, Thuyết minh, Điều hành.
- Những văn bản được viết theo phương thức tự sự gồm:
+ Văn bản tự sự dân gian
+ Văn bản tự sự trung đại
+ Văn bản tự sự hiện đại
12
+ Văn bản kịch
- Như chúng ta đã biết thể loại văn học là sự thống nhất giữa một loại nội dung với một
dạng hình thức văn bản và phương thức chiếm lĩnh đời sống. Phân chia một cách bao quát nhất
ta có ba loại (hay loại hình): Tự sự, trữ tình và kịch.
- Như vậy văn bản kịch thuộc loại hình kịch và phương thức biểu đạt là tự sự.
*) Phương thức biểu đạt tự sự và thể loại văn học tự sự
Phương thức biểu đạt và thể loại văn học là hai khái niệm không đồng nhất. Khái niệm
thể loại văn học xác nhận đặc điểm loại hình nội dung tương ứng với hình thức thể hiện của tác
phẩm văn học, trong khi khái niệm phương thức biểu đạt xác nhận cách thức biểu đạt tương
ứng với mục đích giao tiếp để tạo ra các kiểu văn bản.
Như vậy, ở góc độ thể loại văn học, các văn bản được nhìn nhận như đặc điểm sáng tạo
tác phẩm của nhà văn, còn PTBĐ quan niệm văn bản như phương tiện thực hiện các hoạt động
Hoạt động trong tiết học của học sinh bao gồm các hoạt động đọc, phát biểu ý kiến trả
lời câu hỏi của giáo viên hay nhận xét, tranh luận với bạn bè trong lớp ; thực hiện các hoạt
động mà giáo viên yêu cầu ; nghe các ý kiến của thầy và bạn, ghi chép vào vở những thông tin
cần thiết Hoạt động của học sinh xen kẽ với hoạt động của giáo viên, làm thành nhịp độ cơ
bản của tiết học. Tổ chức hoạt động của học sinh trên lớp là hoạt động khó và luôn luôn là một
thách thức đối với bất kì người dạy nào, dù mới ra trường hay đã dạn dày kinh nghiệm.
Đối với tiết Văn, đọc diễn cảm, phân tích cái hay của nội dung và nghệ thuật, chỉe ra giá
trị của tác phẩm thông qua một loạt các hoạt động trả lời, thảo luận, bình giá là những hoạt
động chính.
Đối với các văn bản kịch khi tổ chức các hoạt động trong tiết học người giáo viên cần
phải đảm bảo các yêu cầu về phương pháp dạy học văn bản kịch. Các yêu cầu đó là:
a) Phù hợp với đặc trưng của kịch (dựa vào dấu hiệu hình thức của văn bản kịch)
14
Khi xác nhận rằng văn bản kịch (kịch bản văn học) là một dạng tồn tại đặc biệt của
PTBĐ tự sự, thì điều đó có nghĩa văn bản kịch cũng sẽ mang các yếu tố của văn bản tự sự như
cốt truyện, nhân vật, chủ đề, lời văn. Nhưng tính chất của các yếu tố này không hoàn toàn
giống nhau trong văn bản tự sự và văn bản kịch. Và điều đó sẽ đặt ra những yêu cầu dạy học
một mặt đáp ứng đặc trưng chung của văn bản tự sự, mặt khác cũng thoả mãn những tính chất
riêng của tự sự ở dạng thức văn bản kịch. Vì vậy khi dạy học văn bản kịch các giáo viên cần
chú ý đảm bảo yêu cầu phù hợp với đặc trưng riêng của kịch.
*) Sự việc trong mỗi lớp kịch
Trong kịch, các sự việc và nhân vật được tổ chức xoay quanh một biến cố bất thường.
Ví dụ: Một người vợ dấu cán bộ cách mạng tại nhà mình trong khi người chồng là tay sai của
giặc, đang lùng bắt những cán bộ này (Bắc Sơn). Kế hoạch tổ chức lại sản xuất của giám đốc
mới làm đảo lộn nền nếp làm ăn cũ tại một xí nghiệp (Tôi và chúng ta). Một kẻ dốt nát định
khoác bộ cánh học đòi sang trọng, bị cánh thợ may lừa lấy tiền (Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục,
trích Trưởng giả học làm sang). Một người con dâu hiền thục bị mẹ chồng vu là kẻ giết chồng
(Nỗi oan hại chồng - trích chèo Quan Âm Thị Kính). Biến cố ấy chứa đựng mâu thuẫn xã hội,
vào sự việc như: Phó may, Thợ phụ mang bộ lễ phục của ông Giuốc-đanh, Ông Giuốc-đanh,
Gia nhân (Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục, NV8- tập 1), thảng hoặc là lời chua cho hành động
của nhân vật, ví dụ như: "Nguyễn Chính (bậm môi) - Được rồi đồng chí quá tự tin đấy !
Được, để rồi xem (ra nhanh) - (Tôi và chúng ta, NV9 - tập 2), mà không tham gia vào câu
chuyện bằng giọng điệu kể hoặc bằng các lời biểu cảm hay nghị luận trực tiếp như trong văn
bản tự sự.
Lời văn miêu tả vắng bóng trong kịch bản sẽ được bù đắp bằng bài trí sân khấu của vở
diễn khi kịch sống trong đời sống sân khấu của nó.
*) Ngôn ngữ của nhân vật
16
Ngôn ngữ chủ yếu trong kịch là ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật, nó tham dự vào biến
cố đồng thời bộc lộ tính cách của nhân vật nên thường thấm đượm màu sắc cảm xúc và tư
tưởng.
Đây là lời nhân vật Sùng bà mắng con dâu là Thị Kính:
Trứng rồng lại nở ra rồng
Liu điu lại nở ra dòng liu điu
Này ! Nhà bà đây cao môn lệch tộc
Mày là con nhà cua nhà ốc
Cho nên tam tòng mày ăn ở đơn sai
Chả công đâu bà đánh mắng cho hoài
Gọi Mãng tộc, phó về cho rảnh thôi ông ạ !
Còn đây là lời than của nhân vật Thị Kính:
Thương ôi ! Bấy lâu sắt cầm tịnh hảo
Bỗng ai làm chăn gối lẻ loi.
Nghĩ trách mình phận hẩm duyên ôi
Cho nên nỗi thế tình run rủi !
Giáo viên có thể cho học sinh căn cứ vào những lời trên để rút ra nhận xét về tính cách
của mỗi nhân vật. Cụ thể: Sùng bà là bà mẹ chồng ghê gớm, hay nói chữ, vận dụng nhiều thành
B- Đó là xung đột giữa quyền lực của kẻ thống trị với địa vị nhỏ mọn của kẻ bị trị trong
gia đình, cũng như trong xã hội phong kiến.
C- Là xung đột giữa kẻ quay quắt, vô lương tâm với người có lương tâm trong sạch
ngay thẳng.
D- Xung đột này tạo thành nỗi đau thê thảm cho kẻ bị trị, cho sự ngay thẳng, trong sạch.
Đó là xung đột bi kịch.
(+) Hài kịch
18
Dấu hiệu thẩm mĩ đặc trưng của hài kịch là tiếng cười do hiện tượng lố bịch gây nên đối
với công chúng độc giả và khán giả. Tiếng cười đối với hài kịch không phải là tiếng cười bản
năng sinh lí. Nó là tiếng cười mang ý nghĩa xã hội, nhẹ thì cười giễu, nặng thì cười nhạo, nhằm
tẩy rửa để hoàn thiện đối tượng. một tiếng cười như thế khi đạt tới tính tập thể sẽ có sức mạnh
cải tạo xã hội và con người. Đọc Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục để hiểu cái kệch cỡm và lố bịch
của một gã trưởng giả khi tập làm sang bằng quần áo lệ bộ và để cười giễu thói hám danh đáng
bị trừng trị của một kẻ ngu ngốc nhưng lắm tiền. ví dụ khi dạy văn bản này giáo viên có thể
hỏi:
Giáo viên hỏi: Trong lớp kịch này, nhân vật Giuốc-đanh đã bộc lộ tính cách của kẻ
trưởng giả học làm sang như thế nào ?
Học sinh trả lời: Lắm tiền, thích sang trọng, háo danh nhưng ngu dốt là đặc điểm tính
cách của nhân vật Giuốc-đanh.
Giáo viên hỏi: Trong nội bộ tính cách này đã chứa đựng sự khập khễnh. Đó là sự khập
khễnh nào ? Hiệu quả của nó ra sao ?
Học sinh trả lời: ý muốn được sang trọng, danh giá mâu thuẫn với sự dốt nát, đó là sự
khập khễnh trong tính cách Giuốc-đanh. Sự khập khễnh này chính là hài kịch, và hiệu quả của
nó là gây tiếng cười chế giễu.
(+) Chính kịch
Hai văn bản Bắc Sơn và Tôi và chúng ta (NV9 - tập 2) là sản phẩm của kịch hiện đại.
Phản ánh hiện thực cách mạng ở hai thời kì đấu tranh giành độc lập dân tộc và đấu tranh xây
Giáo viên hỏi: Tóm tắt cố truyện của Cảnh ba vở Tôi và chúng ta.
Học sinh rả lời: Tại một cuộc họp, giám đốc mới của xí nghiệp là Hoàng Việt cho công
bố kế hoạch sản xuất và phương án làm ăn mới của xí nghiệp. Kế hoạch này lập tức bị một số
người trong đó có Phó giám đốc Nguyễn Chính phản đối; nhưng lại được các công nhân và kĩ
sư ủng hộ.
Giáo viên hỏi: Cốt truyện đó phản ánh xung đột nào trong đời sống hiện thực ?
Học sinh trả lời: những người tiên tiến dám đổi mới, dám nghĩ, dám làm > < Những
người bảo thủ lạc hậu, sợ thay đổi.
Giáo viên hỏi: Từ đó, phân loại nhân vật theo xung đột và chỉ ra đại diện trong xung
đột này.
20
Học sinh trả lời:
- Những người tiên tiến: Giám đốc Hoàng Việt, kĩ sư Lê Sơn, các công nhân như Dũng,
ông Quýnh, bà Bộng.
- Những người bảo thủ: Phó giám đốc Nguyễn Chính, Trưởng phòng tài vụ, Quản
đốc Trương.
- Đại diện mỗi bên: Giám đốc Hoàng Việt, phó giám đốc Nguyễn Chính.
* Văn bản kịch bản sân khấu chèo và văn bản kịch bản kịch nói
Việc đọc - hiểu văn bản kịch bản sân khấu chèo sẽ có những điểm khác với việc đọc
hiểu văn bản kịch bản sân khấu kịch nói, bởi vì chèo là một hình thức hát kịch dân gian (của
Việt Nam) - một loại kể chuyện bằng sân khấu độc đáo của dân tộc bắt nguồn từ những trò
diễn cổ truyền, thường diễn lại những truyện cổ tích, truyện nôm quen thuộc, có tính trào lộng
đặc sắc.
Chèo sử dụng nhiều chất liệu trong vốn văn nghệ cổ truyền và kết tinh ở một mức nhất
định những đặc sắc của chất liệu ấy và trở thành một trong những thể loại tiêu biểu, độc đáo
của nền văn nghệ dân gian. Tính chất "tứ chiếng" (tập thể và truyền miệng) thể hiện trong quá
trình sáng tác cũng như trong diễn xuất. Trong một số vở chèo, nhiều khi khán giả và nhạc
công cùng tham gia biểu diễn. Tiếng đế là một trong những biểu hiện của quần chúng tham gia
trưng PTBĐ như sau:
Đọc - hiểu trên các dấu hiệu hình thức của văn bản kịch: sự việc trong mỗi lớp kịch,
nhân vật trong biến cố mâu thuẫn, ngôn ngữ đối thoại và độc thoại của nhân vật, lời thuyết
minh phụ hoạ hành động của nhân vật, tất cả làm bộc lộ bản chất xung đột và các tính
cách nhân vật.
Dạy học kịch nói chung là bám vào xung đột kịch để thấy tính cách nhân vật, từ đó
hiểu được vấn đề đời sống đặt ra trong văn bản và tác động của văn bản kịch tới đời sống
xã hội và người đọc, người xem; nhưng còn phải từ tính chất xung đột mà có cách đọc -
hiểu tương ứng. Đọc - hiểu kịch bi có điểm phân biệt với đọc - hiểu kịch hài.
b) Phải đáp ứng phương pháp dạy học tích hợp (phải gắn với tri thức về văn tự sự)
*) Hệ thống sự việc, nhân vật (được miêu tả qua lời nói, hành động)
22
Những điểm tương đồng về cách thức biểu đạt và mục đích giao tiếp cho phép gắn kết
dạy học văn bản kịch với các tri thức về phương thức tự sự trên các yếu tố sự việc. Vì vậy,
trong quá trình phân tích văn bản kịch giáo viên nên chú ý xây dựng những câu hỏi nhằm vào
sự việc và nhân vật trong văn bản kịch.
Ví dụ 1 (câu hỏi nhằm vào sự việc trong văn bản kịch)
1. Dựa theo tóm tắt nội dung vở kịch "Trưởng giả học làm sang" thì sự việc ông Giuốc-
đanh mặc lễ phục nằm ở phần nội dung nào ?
2. Theo dõi lớp kịch này sẽ thấy diễn ra hai cảnh: trước khi ông Giuốc-đanh mặc lễ
phục; sau khi ông Giuốc-đanh mặc lễ phục. Những đoạn đó nằm trong đoạn nào của văn
bản ?
3. Theo dõi đoạn trích "Nỗi oan hại chồng", em hãy cho biết:
a) Vì sao đoạn này có tên "Nỗi oan hại chồng" ?
b) Từ đó xác định các nhân vật chính của đoạn trích này.
4. Nỗi oan hại chồng diễn ra trong ba thời điểm: trước khi bị oan; trong khi bị oan; sau
khi bị oan.
a) Tương ứng với ba thời điểm đó là các đoạn văn nào ?
một hướng dạy học tích hợp.
* Tính cách nhân cật bộc lộ qua xung đột
Ví dụ 1:
a) Trong lớp kịch này, nhân vật Giuốc-đanh đã bộc lộ tính cách của kẻ trưởng giả học
làm sang như thế nào ?
b) Trong nội bộ tính cách này đã chứa đựng sự khập khễnh. Đó là sự khập khễnh nào ?
Giáo viên chốt:
a) Lắm tiền, thích sang trọng, háo danh nhưng ngu dốt là đặc điểm tính cách nhân vật
giuốc-đanh.
24
b) ý muốn được sang trọng, danh giá mâu thuẫn với sự dốt nát, đó là sự khập khễnh
trong tính cách Giuốc-đanh. sự khập khễnh này chính là hài kịch, và hiệu quả của nó là gây ra
tiếng cười chế giễu.
Ví dụ 2:
Tính cách hai nhân vật Sùng bà và Thị Kính được bộc lộ qua xung đột:
a) Theo em, xung đột kịch trong đoạn này thể hiện cao nhất ở sự việc nào ? Vì sao ?
b) Hãy bày tỏ cảm nhận của em về bản chất của xung đột này (lựa chọn từ các kết luận
sau):
A- Đó là xung đột giữa mẹ chồng và nàng dâu trong gia đình phong kiến ngày trước.
B- Đó là xung đột giữa quyền lực của kẻ thống trị với địa vị nhỏ mọn của kẻ bị trị trong
gia đình, cũng như trong xã hội phong kiến.
C- Là xung đột giữ kẻ quay quắt, vô lương tâm với người có lương tâm trong sạch,
ngay thẳng.
D- Xung đột này tạo thành nỗi đau thê thảm cho kẻ bị trị, cho sự ngay thẳng trong
sạch. Đó là xung đột kịch.
*) Gắn với nghệ thuật biểu diễn sân khấu
Phạm vi tích hợp trong dạy học văn bản kịch còn biểu hiện ở việc gắn kết dạy học kịch
- văn bản với kịch sân khấu qua nhà hát hoặc băng đĩa hình. Kịch không chỉ sống trong đời